Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Kinh tế ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng từ năm 1986 đến năm 2016

8,910
306
124
33
hóa [5, tr.54]. Trồng cây rau màu” mùa nào thức ấy”, quá trình phát triển trồng cây
rau màu đã hình thành nên những làng, trồng rau màu quanh năm như xã Thủy
Đường, Phục lễ, Ngũ Lão, Thiên Hương ... S đóng góp của trng trt trong 3 năm
(1991-1993) đưa kinh tế nông nghip Thy Nguyên có nhng chuyn biến rõ rt. Sn
phm trng trt t ch ch đáp ng nhu cu của các gia đình (t cung t cấp) đến
thành sn phm hàng hóa trên th trường, không ch th trường huyn Thy Nguyên
mà vươn ra đáp ng nhu cu ca mt b phận người dân trong ni thành Ha Phòng
và tnh lân cận như Quảng Ninh.
Từ những năm 1996 đến năm 2000 phát triển tương đối ổn định, việc chuyển
dịch cấu nông nghiệp, cải biến cấu kinh tế nông thôn được đẩy mạnh theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, lấy giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích là
chính, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa. Chuyển đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đưa
lại hiệu quả, đất đai được quản lý nề nếp, chú trọng thủy lợi do đó Thủy Nguyên liên
tục được mùa đạt 91tạ/ha vượt chỉ tiêu Đại hội. Nhm giúp h nông dân đẩy mnh
sn xut nông nghip huyện đã đầu tư kinh phí, ch đạo các điểm sn xut giống, đưa
thuật viên xuống sở hướng dn nông dân trng trt.Các cp ủy Đảng, chính
quyn phi hp với các đoàn thể lãnh đạo, ch đạo cht ch nhm đy mnh vic hoàn
thiện đổi mới cơ chế qun kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy ngành kinh tế nông
nghip phát trin tr thành nghành mũi nhọn ca huyn trong những năm cuối thế k
XX. Trong năm 1991 toàn huyện có 16 hp tác xã triển khai giao đất vi tng s 643
ha, 34 hợp tác xã cho đấu thầu đồi núi vi din tích là 550 ha [3, tr.13].
Thu Nguyên có 1.535 ha đất đồi núi, là tiềm năng đáng kể và cũng là một li
thế so sánh so vi nhiều địa phương bạn trong thành ph. Nhm khai thác, phát trin
kinh tế vườn đồi, năm 1995, các xã đưa đất đồi núi vào s dụng để trng cây ly g,
cây ăn quả, vi din tích 615 ha. Tuy mới khai thác được 40,1% tng diện tích nhưng
đã bắt đầu phát huy hiu qu trong cung cp g, ci, hoa qu góp phần làm đẹp
cảnh quan, môi trường và cung cp nguyên liu phát trin ngh mộc, đáp ứng nhu cu
tiêu dùng ca nhân dân.
33 hóa [5, tr.54]. Trồng cây rau màu” mùa nào thức ấy”, quá trình phát triển trồng cây rau màu đã hình thành nên những làng, xã trồng rau màu quanh năm như xã Thủy Đường, Phục lễ, Ngũ Lão, Thiên Hương ... Sự đóng góp của trồng trọt trong 3 năm (1991-1993) đưa kinh tế nông nghiệp Thủy Nguyên có những chuyển biến rõ rệt. Sản phẩm trồng trọt từ chỗ chỉ đáp ứng nhu cầu của các gia đình (tự cung tự cấp) đến thành sản phẩm hàng hóa trên thị trường, không chỉ thị trường huyện Thủy Nguyên mà vươn ra đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người dân trong nội thành Hỉa Phòng và tỉnh lân cận như Quảng Ninh. Từ những năm 1996 đến năm 2000 phát triển tương đối ổn định, việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn được đẩy mạnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, lấy giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích là chính, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa. Chuyển đổi mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đưa lại hiệu quả, đất đai được quản lý nề nếp, chú trọng thủy lợi do đó Thủy Nguyên liên tục được mùa đạt 91tạ/ha vượt chỉ tiêu Đại hội. Nhằm giúp hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp huyện đã đầu tư kinh phí, chỉ đạo các điểm sản xuất giống, đưa kĩ thuật viên xuống cơ sở hướng dẫn nông dân trồng trọt.Các cấp ủy Đảng, chính quyền phối hợp với các đoàn thể lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ nhằm đẩy mạnh việc hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy ngành kinh tế nông nghiệp phát triển trở thành nghành mũi nhọn của huyện trong những năm cuối thế kỷ XX. Trong năm 1991 toàn huyện có 16 hợp tác xã triển khai giao đất với tổng số 643 ha, 34 hợp tác xã cho đấu thầu đồi núi với diện tích là 550 ha [3, tr.13]. Thuỷ Nguyên có 1.535 ha đất đồi núi, là tiềm năng đáng kể và cũng là một lợi thế so sánh so với nhiều địa phương bạn trong thành phố. Nhằm khai thác, phát triển kinh tế vườn đồi, năm 1995, các xã đưa đất đồi núi vào sử dụng để trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, với diện tích 615 ha. Tuy mới khai thác được 40,1% tổng diện tích nhưng đã bắt đầu phát huy hiệu quả trong cung cấp gỗ, củi, hoa quả và góp phần làm đẹp cảnh quan, môi trường và cung cấp nguyên liệu phát triển nghề mộc, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
34
Bảng 2.1. Số liệu thống kê thành tựu nông nghiệp
Chỉ tiêu Đại Hội
Đảng bộ lần thứ
XXI
Thành tựu thực tế
năm 1998
Thành tựu thực tế
năm 2000
Năng suất
80-90 tạ/ha
84 tạ/ha
91 tạ/ha
Sản lượng
72000-> 76000 tấn
73.525 tấn
79.500 tấn
(Nguồn: [5, tr.83])
Thủy Nguyên địa bàn chịu ảnh hưởng khá lớn của quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, một số tuyến trục giao thông đi qua huyện được cải tạo mở rộng,
một số nhà máy, sở sản xuất mới được xây dựng, do vậy đã tác động mạnh đến
tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện, nhất ngành trồng trọt, nhiều hộ nông
dân chỉ cấy 1 vụ/ năm, để ruộng không, hoặc chuyển diện tích ruộng trồng trọt sang
mục đích khác. Tuy nhiên việc ứng dụng khoa học thuật, đưa các giống mới
năng suất và chất lượng cao (năm 2013 giống lúa mới chiếm 97% diện tích trồng lúa)
vào sản xuất đã đưa sản lượng ngành nông nghiệp vẫn giữ được vị trí... vẫn đảm bảo
nhu cầu của nhân dân toàn huyện, nhiều hộ có sản phẩm thành hàng hóa, thu nguồn
lợi không nhỏ trong trồng trọt. Xã Thủy Đường thâm canh tăng vụ trồng cây rau màu
đạt 40 tr/ ha/năm [4, tr 76]. Năm 2005, giá trị thực hiện 225 tỷ đồng, đạt 99,8% kế
hoạch thành phố, 100,2% kế hoạch huyện. Diện tích gieo cấy lúa cả năm là 15.414
ha, giảm 2,3%; năng suất đạt 49,8 tạ/ha; sản lượng 76.683 tấn. Diện tích rau các loại
là 1.397,5 ha, sản lượng 26.194 tấn, đạt 102,7% kế hoạch, giảm 9,5%. Diện tích đất
đai có biến động mnh, đt th cư có biến động nhưng không lớn, s biến động đây
ch tập trung vào đất nông nghiệp đất chuyên dùng. Diện tích đất sn xut nông
nghip ca huyện đã giảm t năm 2000 trở lại đây, trong đó tp trung vào din tích
trồng cây hàng năm. Năm 2000 diện tích đất nông nghip ca huyn có 13.255 ha thì
đến năm 2005 chỉ còn 10.918 ha [20].
34 Bảng 2.1. Số liệu thống kê thành tựu nông nghiệp Chỉ tiêu Đại Hội Đảng bộ lần thứ XXI Thành tựu thực tế năm 1998 Thành tựu thực tế năm 2000 Năng suất 80-90 tạ/ha 84 tạ/ha 91 tạ/ha Sản lượng 72000-> 76000 tấn 73.525 tấn 79.500 tấn (Nguồn: [5, tr.83]) Thủy Nguyên là địa bàn chịu ảnh hưởng khá lớn của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, một số tuyến trục giao thông đi qua huyện được cải tạo mở rộng, một số nhà máy, cơ sở sản xuất mới được xây dựng, do vậy đã tác động mạnh đến tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện, nhất là ngành trồng trọt, nhiều hộ nông dân chỉ cấy 1 vụ/ năm, để ruộng không, hoặc chuyển diện tích ruộng trồng trọt sang mục đích khác. Tuy nhiên việc ứng dụng khoa học kĩ thuật, đưa các giống mới có năng suất và chất lượng cao (năm 2013 giống lúa mới chiếm 97% diện tích trồng lúa) vào sản xuất đã đưa sản lượng ngành nông nghiệp vẫn giữ được vị trí... vẫn đảm bảo nhu cầu của nhân dân toàn huyện, nhiều hộ có sản phẩm thành hàng hóa, thu nguồn lợi không nhỏ trong trồng trọt. Xã Thủy Đường thâm canh tăng vụ trồng cây rau màu đạt 40 tr/ ha/năm [4, tr 76]. Năm 2005, giá trị thực hiện 225 tỷ đồng, đạt 99,8% kế hoạch thành phố, 100,2% kế hoạch huyện. Diện tích gieo cấy lúa cả năm là 15.414 ha, giảm 2,3%; năng suất đạt 49,8 tạ/ha; sản lượng 76.683 tấn. Diện tích rau các loại là 1.397,5 ha, sản lượng 26.194 tấn, đạt 102,7% kế hoạch, giảm 9,5%. Diện tích đất đai có biến động mạnh, đất thổ cư có biến động nhưng không lớn, sự biến động ở đây chỉ tập trung vào đất nông nghiệp và đất chuyên dùng. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện đã giảm từ năm 2000 trở lại đây, trong đó tập trung vào diện tích trồng cây hàng năm. Năm 2000 diện tích đất nông nghiệp của huyện có 13.255 ha thì đến năm 2005 chỉ còn 10.918 ha [20].
35
Bảng 2.2. Giá trị sản xuất nông nghiệp từ 2005 -2016
Năm
Giá trị thực hiện
Đạt kế hoạch
của huyện
Đạt kế hoạch
của thành phố
2005
225 tỷ đồng
100,2%
99,8%
2010
245 tỷ đồng
100,5%
100%
2015
243 tỷ đồng
100,9%
98,8%
2016
227 tỷ đồng
101,2%
99%
(Ngun: [20], [11])
Lực lượng lao động của huyện tham gia sản xuất nông nghiệp, chiếm 78% so
với số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế. Do sự chuyển dịch cấu
kinh tế, cơ cấu ngành nông nghiệp, và sự đầu tư kĩ thuật mới. Nên lực lượng lao động
trong nông nghiệp đã giảm còn 64%. Lực lượng đang độ tưổi lao động (từ 18 đến 45)
chuyển sang các ngành nghề khác, chỉ còn lao động già nên làm giảm số lượng các
sản phẩm trồng trọt. Nhưng mặt tích cực là các khu dân cư nông thôn của huyn Thu
Nguyên được phân b và phát triển theo hướng tp trung thành các cụm dân cư nông
thôn, s hình thành các điểm dân cư gắn lin vi quá trình sn xut nông nghip.
Chăn nuôi được coi trọng trong xu thế mới, đã chuyển dịch theo hướng từ
chăn nuôi thể ở các hộ gia đình (số lượng ít) sang tập trung quy trang trại, gia
trại (vườn - ao - chuồng), ứng dụng khoa học kỹ thuật về giống thức ăn công
nghiệp. Công tác phòng, chống dịch bệnh gia cầm, gia súc được chỉ đạo kiên quyết.
Đẩy mạnh chăn nuôi lợn, gia cầm gà, vịt, phát triển chăn nuôi dê cung cấp thực phẩm
ra thị trường. Nhưng chú trọng chăn nuôi gia cầm để đáp ứng nhu cầu thực
phẩm của thị trường. Năm 2010 toàn huyện 134 trang trại, các vùng sản xuất
giá trị kinh tế cao tập trung ở các xã Kênh Giang, Minh Tân, hình thành “Cánh đồng
mẫu lớn” giá trị thực hiện 174 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch thành phố, 100% kế hoạch
huyện, tăng 6,7%. Tổng đàn lợn 115.000 con, giảm 12,2%; đàn trâu, 5.910 con,
tăng 11,3%; tổng đàn gia cầm 780.000 con, tăng 20% [26]. Sản phẩm chăn nuôi của
cư dân huyện không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho 3 vạn dân của huyện mà còn
cung cấp thực phẩm cho cư dân nội thành và các tỉnh lân cận. Quá trình chăn nuôi lớn
của các hộ gia đình, hình thành nên những hộ gia đình làm kinh tế giỏi, điển hình
tiên tiến của huyện.
35 Bảng 2.2. Giá trị sản xuất nông nghiệp từ 2005 -2016 Năm Giá trị thực hiện Đạt kế hoạch của huyện Đạt kế hoạch của thành phố 2005 225 tỷ đồng 100,2% 99,8% 2010 245 tỷ đồng 100,5% 100% 2015 243 tỷ đồng 100,9% 98,8% 2016 227 tỷ đồng 101,2% 99% (Nguồn: [20], [11]) Lực lượng lao động của huyện tham gia sản xuất nông nghiệp, chiếm 78% so với số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế. Do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nông nghiệp, và sự đầu tư kĩ thuật mới. Nên lực lượng lao động trong nông nghiệp đã giảm còn 64%. Lực lượng đang độ tưổi lao động (từ 18 đến 45) chuyển sang các ngành nghề khác, chỉ còn lao động già nên làm giảm số lượng các sản phẩm trồng trọt. Nhưng mặt tích cực là các khu dân cư nông thôn của huyện Thuỷ Nguyên được phân bố và phát triển theo hướng tập trung thành các cụm dân cư nông thôn, sự hình thành các điểm dân cư gắn liền với quá trình sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi được coi trọng trong xu thế mới, đã chuyển dịch theo hướng từ chăn nuôi cá thể ở các hộ gia đình (số lượng ít) sang tập trung quy mô trang trại, gia trại (vườn - ao - chuồng), ứng dụng khoa học kỹ thuật về giống và thức ăn công nghiệp. Công tác phòng, chống dịch bệnh gia cầm, gia súc được chỉ đạo kiên quyết. Đẩy mạnh chăn nuôi lợn, gia cầm gà, vịt, phát triển chăn nuôi dê cung cấp thực phẩm ra thị trường. Nhưng chú trọng chăn nuôi gia cầm và dê để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của thị trường. Năm 2010 toàn huyện có 134 trang trại, các vùng sản xuất có giá trị kinh tế cao tập trung ở các xã Kênh Giang, Minh Tân, hình thành “Cánh đồng mẫu lớn” giá trị thực hiện 174 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch thành phố, 100% kế hoạch huyện, tăng 6,7%. Tổng đàn lợn 115.000 con, giảm 12,2%; đàn trâu, bò 5.910 con, tăng 11,3%; tổng đàn gia cầm 780.000 con, tăng 20% [26]. Sản phẩm chăn nuôi của cư dân huyện không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho 3 vạn dân của huyện mà còn cung cấp thực phẩm cho cư dân nội thành và các tỉnh lân cận. Quá trình chăn nuôi lớn của các hộ gia đình, hình thành nên những hộ gia đình làm kinh tế giỏi, điển hình tiên tiến của huyện.
36
Trong nông nghiệp thì ni trồng và khai thác thủy sản phát triển mạnh cả
bốn lĩnh vực: nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ; trong đó khai thác hải sản đó
tăng nhanh cả về phương tiện tàu thuyền sản lượng đánh bắt. Mô hình nuôi
vược thâm canh cao ở xã Lập Lễ đem lại hiệu quả kinh tế cao, các dự án bến, cảng cá
được đầu tư xây dựng. Coi đây là ngành mũi nhọn, có nhiều tiềm năng, thế mạnh của
huyện. Năm 2005 diện tích nuôi trồng thủy sản là 2.126 ha, đạt 103,4% kế hoạch, sản
lượng 6.500 tấn, đạt 108% kế hoạch thành phố, 100% kế hoạch huyện, tăng 7,4%,
vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra [5, tr 150].
Xác định ngành thy sn mt trong nhng ngành mũi nhn, li thế ca
huyn, do đó, y ban nhân dân huyn đã tích cc ch đạo, t chc thc hin vic nuôi
trng, khai thác thy sn đạt hiu qu cao. Hin nay, din tích nuôi trng thy sn
duy trì t 1.550-1.600 ha, vi sn ng nuôi trng đạt 5.500-6.000 tn, ch yếu
vược. Khai thác thy hi sn nhiu bước phát trin tp trung các xã Lp L, Ph
L: Vi đội tàu khai thác 1.299 chiếc, trong đó: tàu công sut trên 400CV 72
chiếc, t 250-400CV 89 chiếc, t 90-250 CV 325 chiếc đã thc hin vic khai
thác, đánh bt hàng năm đạt t 35.000-40.000 tấn/năm. Công tác quy hoch trong
những năm qua đã được các cp, các ngành quan tâm và ch đạo tích cực. Trên cơ sở
quy hoạch được phê duyệt, các xã đã tổ chc rà soát hợp đồng đã ký để điều chnh li
hạn điền và thi hn hợp đồng vi việc thuê đất ổn định lâu dài.
Các h nông dân tr thành các ch trang tri phát trin theo mô hình VAC. Có
nhng h kết hp vn t có, vốn vay ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở vt cht, no
vét, kè đầm ao, mua sm dng c, mua giống, thuê nhân công lên đến hàng t đồng.
So với giai đoạn 1995 - 2001, thì giai đoạn 2002 - 2013 s vốn đầu tư cho nuôi
trng thy, hi sn ca huyện tăng mạnh, đầu tư chuyển đổi t hình thc qung canh
sang ph biến mô hình bán thâm canh và thâm canh,trên cơ sở ng dng nhng tiến
b khoa hc - k thut trong nuôi trng. Hình thc nuôi trng hi sản nước mn bng
lồng bè ngày càng được áp dng nhiều. Năm 2009 có khoảng 60 h nuôi trng thuc
hai xã Lp L và Ph L tiến hành nuôi cá Vược và cá Song nước mn bng các lng
khu vc huyện đảo Cát Hi cho giá tr kinh tế cao.
Cùng vi việc đầu tư vốn, cơ sở vt cht k thut cho ngành thy sn thì vn
đề đào tạo ngun nhân lực cũng được quan tâm. Trong năm 2010, các trường Cao
36 Trong nông nghiệp thì nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển mạnh ở cả bốn lĩnh vực: nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ; trong đó khai thác hải sản đó tăng nhanh cả về phương tiện tàu thuyền và sản lượng đánh bắt. Mô hình nuôi cá vược thâm canh cao ở xã Lập Lễ đem lại hiệu quả kinh tế cao, các dự án bến, cảng cá được đầu tư xây dựng. Coi đây là ngành mũi nhọn, có nhiều tiềm năng, thế mạnh của huyện. Năm 2005 diện tích nuôi trồng thủy sản là 2.126 ha, đạt 103,4% kế hoạch, sản lượng 6.500 tấn, đạt 108% kế hoạch thành phố, 100% kế hoạch huyện, tăng 7,4%, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra [5, tr 150]. Xác định ngành thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn, có lợi thế của huyện, do đó, Ủy ban nhân dân huyện đã tích cực chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc nuôi trồng, khai thác thủy sản đạt hiệu quả cao. Hiện nay, diện tích nuôi trồng thủy sản duy trì từ 1.550-1.600 ha, với sản lượng nuôi trồng đạt 5.500-6.000 tấn, chủ yếu là cá vược. Khai thác thủy hải sản có nhiều bước phát triển tập trung ở các xã Lập Lễ, Phả Lễ: Với đội tàu khai thác 1.299 chiếc, trong đó: tàu có công suất trên 400CV là 72 chiếc, từ 250-400CV là 89 chiếc, từ 90-250 CV là 325 chiếc đã thực hiện việc khai thác, đánh bắt hàng năm đạt từ 35.000-40.000 tấn/năm. Công tác quy hoạch trong những năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm và chỉ đạo tích cực. Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, các xã đã tổ chức rà soát hợp đồng đã ký để điều chỉnh lại hạn điền và thời hạn hợp đồng với việc thuê đất ổn định lâu dài. Các hộ nông dân trở thành các chủ trang trại phát triển theo mô hình VAC. Có những hộ kết hợp vốn tự có, vốn vay ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nạo vét, kè đầm ao, mua sắm dụng cụ, mua giống, thuê nhân công lên đến hàng tỷ đồng. So với giai đoạn 1995 - 2001, thì giai đoạn 2002 - 2013 có số vốn đầu tư cho nuôi trồng thủy, hải sản của huyện tăng mạnh, đầu tư chuyển đổi từ hình thức quảng canh sang phổ biến mô hình bán thâm canh và thâm canh,trên cơ sở ứng dựng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong nuôi trồng. Hình thức nuôi trồng hải sản nước mặn bằng lồng bè ngày càng được áp dụng nhiều. Năm 2009 có khoảng 60 hộ nuôi trồng thuộc hai xã Lập Lễ và Phả Lễ tiến hành nuôi cá Vược và cá Song nước mặn bằng các lồng bè ở khu vực huyện đảo Cát Hải cho giá trị kinh tế cao. Cùng với việc đầu tư vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành thủy sản thì vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng được quan tâm. Trong năm 2010, các trường Cao
37
đẳng Thy sn min Bắc, trường Trung cp Ngh ca huyn m các lớp đào tạo ngn
hn (1- 3 tháng) đào tạo nâng cao trình độ cho hơn 600 lượt học viên trên đại bàn các
xã đưc coi là trung tâm nuôi trng thy sn ca huyn. Khâu cung cp giống cũng
được quan tâm nhm khc phc tình trng các h sn xut phi liên h mua ging ti
mt s cơ sở miền Trung trong giai đoạn trước. Năm 2009, toàn huyện 3 tri sn
xut cá ging và 2 tri sn xut tôm giống. Trong đó trại cá giống cá Vưc Lp
L trung bình mỗi năm cung cấp khong gn 60 vn cá giống cho các cơ sở nuôi
c. Tri ging tôm Gia Minh, cung cp hàng năm cho các đầm nuôi tôm khong
gn 2 triu con ging. Cùng vi hoạt động nuôi trng, công tác phòng tr bnh dch
cũng được quan tâm ch đạo và khuyến cáo kp thời đến người nuôi. Công tác qun lý
chất lượng ging, thức ăn, thuốc thú ý thy sn qun môi trường được tăng
ờng. Hàng năm huyện t chc cho các xã có nhiu h nuôi trng thy sản đi kho
sát thc tế ti Cát Hải, Đồ Sơn và một s tỉnh như Quảng Ninh, Thanh Hóa để hc hi
trao đổi kinh nghim v nuôi, trng thy sản. Đồng thi, Trung tâm Khuyến ngư, Chi
cc Bo v ngun li thy sn ca huyện thường xuyên kho sát nhm kim tra, đánh giá
chất lượng ging, thức ăn, môi trường…để kp thi đưa ra những khuyến cáo nhm hn
chế tối đa những ri ro gây thit hi trong hot động nuôi trng.
Đối ng nuôi trồng cũng được m rộng, ngoài cá Vưc, cá Song, tôm Sú
nhng vt nuôi cho giá tr kinh tếsản lượng cao thì các h nuôi trông cũng nuôi
th nghim mt s loài mới như ca Bống, cá Bớp, Tôm Càng Xanh…Việc b trí thi
vụ, cơ cấu con nuôi được b trí hợp lý hơn với nhiu hình thức nuôi như: Nuôi đơn,
nuôi ghép, nuôi luân canh, nuôi đa con hoặc nuôi 1 v thành 2 - 3 v trong năm. Hình
thức nuôi ghép được nhân dân s dng nhiều nhưng ph biến nht là nuôi luân canh,
đây là hình thức nuôi ph biến và phù hp vi khí hu min Bc. Vào các tháng mùa
đông, khi nhiệt độ h thp, không phù hp vi kh năng sinh trưởng, phát trin ca
tôm Sú, cá Vược thì các h chuyn sang nuôi tôm Ro, Cua, cá Bớp, đây những
loài có kh năng chịu lạnh. Nuôi đơn thường áp dng mô hình nuôi cá Vược, cho
năng suất cao nhưng lại không phát huy được nhng ging ch thích ứng được vi
mt mùa. Nuôi ghép là hình thc nuôi tiến tiến, tn dng triệt để điều kin t nhiên
cũng như chuỗi thức ăn. Xét về giá tr kinh tế, hình thc này cho hiu qu kinh tế
37 đẳng Thủy sản miền Bắc, trường Trung cấp Nghề của huyện mở các lớp đào tạo ngắn hạn (1- 3 tháng) đào tạo nâng cao trình độ cho hơn 600 lượt học viên trên đại bàn các xã được coi là trung tâm nuôi trồng thủy sản của huyện. Khâu cung cấp giống cũng được quan tâm nhắm khắc phục tình trạng các hộ sản xuất phải liên hệ mua giống tại một số cơ sở miền Trung trong giai đoạn trước. Năm 2009, toàn huyện có 3 trại sản xuất cá giống và 2 trại sản xuất tôm giống. Trong đó trại cá giống cá Vược ở xã Lập Lễ trung bình mỗi năm cung cấp khoảng gần 60 vạn cá giống cho các cơ sở nuôi cá Vược. Trại giống tôm Gia Minh, cung cấp hàng năm cho các đầm nuôi tôm khoảng gần 2 triệu con giống. Cùng với hoạt động nuôi trồng, công tác phòng trừ bệnh dịch cũng được quan tâm chỉ đạo và khuyến cáo kịp thời đến người nuôi. Công tác quản lý chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú ý thủy sản và quản lý môi trường được tăng cường. Hàng năm huyện tổ chức cho các xã có nhiều hộ nuôi trồng thủy sản đi khảo sát thực tế tại Cát Hải, Đồ Sơn và một số tỉnh như Quảng Ninh, Thanh Hóa để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm về nuôi, trồng thủy sản. Đồng thời, Trung tâm Khuyến ngư, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của huyện thường xuyên khảo sát nhằm kiểm tra, đánh giá chất lượng giống, thức ăn, môi trường…để kịp thời đưa ra những khuyến cáo nhằm hạn chế tối đa những rủi ro gây thiệt hại trong hoạt động nuôi trồng. Đối tượng nuôi trồng cũng được mở rộng, ngoài cá Vược, cá Song, tôm Sú là những vật nuôi cho giá trị kinh tế và sản lượng cao thì các hộ nuôi trông cũng nuôi thử nghiệm một số loài mới như ca Bống, cá Bớp, Tôm Càng Xanh…Việc bố trí thời vụ, cơ cấu con nuôi được bố trí hợp lý hơn với nhiều hình thức nuôi như: Nuôi đơn, nuôi ghép, nuôi luân canh, nuôi đa con hoặc nuôi 1 vụ thành 2 - 3 vụ trong năm. Hình thức nuôi ghép được nhân dân sử dụng nhiều nhưng phổ biến nhất là nuôi luân canh, đây là hình thức nuôi phổ biến và phù hợp với khí hậu miền Bắc. Vào các tháng mùa đông, khi nhiệt độ hạ thấp, không phù hợp với khả năng sinh trưởng, phát triển của tôm Sú, cá Vược thì các hộ chuyển sang nuôi tôm Rảo, Cua, cá Bớp, đây là những loài có khả năng chịu lạnh. Nuôi đơn thường áp dụng ở mô hình nuôi cá Vược, cho năng suất cao nhưng lại không phát huy được những giống chỉ thích ứng được với một mùa. Nuôi ghép là hình thức nuôi tiến tiến, tận dụng triệt để điều kiện tự nhiên cũng như chuỗi thức ăn. Xét về giá trị kinh tế, hình thức này cho hiệu quả kinh tế
38
không cao bằng nuôi đơn, vì sản phm thu hoch gm nhiu loi, không tp trung,
song li hn chế được nhng ri ro trong nuôi trng khi xut hin dch bệnh. Do đó,
nuôi ghép là hình thc nuôi ph biến. Mô hình đầm trng rau câu tp trung hai xã
Lp L và Ph L với hơn 40 hộ trng vi sản lượng trung bình đạt 1000 tấn/năm.
V din tích nuôi trồng: Trên sở diện tích đất nông nghiệp cho năng suất
thp, Huyn y Thủy Nguyên đã chỉ đạo chuyển đổi sang mô hình đầm, ao nuôi trng
thy sn khu vực các xã Gia Minh, Gia Đức, Lp L, Ph L, tng s diện tích đất
nông nghiệp được chuyển đổi sang nuôi trng ca huyện trong giai đoạn 2002 - 2005
là hơn 300 ha với s vốn đầu tư gần 40 t đồng.
Bảng 2.3: Diện tích nuôi trồng của huyện trong giai đoạn 2002 - 2016
Năm
Diện tích nước l
(đv: ha)
Diện tích nước mn
(đv: ha)
Diện tích nước
ngt (đv: ha)
2002
843
1607
2450
2005
850
1820
2131
2010
650
1354
2004
2012
593
1261
1854
2016
571
1121
1741
(Ngun: [9], [10], [11], [12])
T s liu bng 2.3 cho thy, din tích nuôi trng không ổn định và có chiu
hướng thu hẹp qua các năm. Mặc dù thu hp din tích nuôi trng song sản lượng thy
sn nuôi trng vẫn cao hơn so với giai đoạn trước do vic áp dng khoa hc k thut
vào nuôi trng vi hình thc luân canh, thâm canh
V sản lượng khai thác, nuôi trồng: Trong khai thác, trên sở được đầu
mnh v vốn, phương tiện k thut hiện đại nên sản lượng khai thác tăng nhanh so
vi thi k 1986 - 2001.
Bảng 2.4: Sản lượng khai thác, nuôi trồng từ 2002 - 2012
(ĐVT: tn)
Năm
Sn lưng khai thác
Sn lưn nuôi trng
Tng
2002
5833
3940
9773
2005
11500
4290
15790
2010
18500
6500
25000
2012
21909
6735
28644
2016
23205
7016
30221
(Ngun: [9], [10], [11], [12])
38 không cao bằng nuôi đơn, vì sản phẩm thu hoạch gồm nhiều loại, không tập trung, song lại hạn chế được những rủi ro trong nuôi trồng khi xuất hiện dịch bệnh. Do đó, nuôi ghép là hình thức nuôi phổ biến. Mô hình đầm trồng rau câu tập trung ở hai xã Lập Lễ và Phả Lễ với hơn 40 hộ trồng với sản lượng trung bình đạt 1000 tấn/năm. Về diện tích nuôi trồng: Trên cơ sở diện tích đất nông nghiệp cho năng suất thấp, Huyện ủy Thủy Nguyên đã chỉ đạo chuyển đổi sang mô hình đầm, ao nuôi trồng thủy sản ở khu vực các xã Gia Minh, Gia Đức, Lập Lễ, Phả Lễ, tổng số diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang nuôi trồng của huyện trong giai đoạn 2002 - 2005 là hơn 300 ha với số vốn đầu tư gần 40 tỷ đồng. Bảng 2.3: Diện tích nuôi trồng của huyện trong giai đoạn 2002 - 2016 Năm Diện tích nước lợ (đv: ha) Diện tích nước mặn (đv: ha) Diện tích nước ngọt (đv: ha) 2002 843 1607 2450 2005 850 1820 2131 2010 650 1354 2004 2012 593 1261 1854 2016 571 1121 1741 (Nguồn: [9], [10], [11], [12]) Từ số liệu bảng 2.3 cho thấy, diện tích nuôi trồng không ổn định và có chiều hướng thu hẹp qua các năm. Mặc dù thu hẹp diện tích nuôi trồng song sản lượng thủy sản nuôi trồng vẫn cao hơn so với giai đoạn trước do việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng với hình thức luân canh, thâm canh Về sản lượng khai thác, nuôi trồng: Trong khai thác, trên cơ sở được đầu tư mạnh về vốn, phương tiện kỹ thuật hiện đại nên sản lượng khai thác tăng nhanh so với thời kỳ 1986 - 2001. Bảng 2.4: Sản lượng khai thác, nuôi trồng từ 2002 - 2012 (ĐVT: tấn) Năm Sản lượng khai thác Sản lượn nuôi trồng Tổng 2002 5833 3940 9773 2005 11500 4290 15790 2010 18500 6500 25000 2012 21909 6735 28644 2016 23205 7016 30221 (Nguồn: [9], [10], [11], [12])
39
Phân tích bng trên ta thy, tng sản lượng khai thác, nuôi trng thy, hi sn
ca huyn Thủy Nguyên tăng dần qua các giai đoạn, đặc biệt năm 2016 tăng 20448
tấn (tăng gấp hơn 3 lần) so với năm 2002, là năm có sản lượng thp nht. Tng sn
ng thy sn tăng nhanh trong giai đoạn 2002 - 2016 là do s tăng lên đáng k ca
lĩnh vực khai thác. Điều này phn ánh s quan tâm đầu tư đóng tàu có công suất ln,
trang b hiện đại để vươn khơi, mở rộng ngư trường. Trong nuôi trng, việc tăng diện
tích nuôi trng và áp dng hình thc luân canh, ci tiến k thuật đã làm cho năng suất
tăng nhanh.
Trong nhng năm qua, dưới s quan tâm lãnh đạo ca Huyn y, ch đạo ca
y ban nhân dân huyn, s tp trung ca h thng khuyến nông, khuyến ngư, thú y
bo v thc vt, sn xut nông nghip trên địa bàn s phát trin, cu ni b
ngành nông nghip s chuyn dch theo hướng gim trng trt, tăng thy sn, dch
v nông nghip chăn nuôi. T trng ca lĩnh vc trng trt gim t 29,5% năm
2014 xung còn 27% năm 2016; t trng ngành chăn nuôi tăng t 27,5% năm2014
tăng lên 29,9% năm 2016; t trng lĩnh vc thy sn tăng t 40% năm 2014 lên
43,5% năm 2016 [6], [14].
Giai đoạn 2000-2016, cũng giai đoạn nhiu hình sn xut nông
nghip mang li hiu qu cao được trin khai áp dng, c th.Mô hình xây dng nông
nghip ng dng công ngh cao như vùng chăn nuôi gia cm Li Xuân, vùng chăn
nuôi ln tht tp trung ti xã Chính M, vùng trng hoa ng dng công ngh cao ti
Đông Sơn. Nông nghip chuyn mnh theo hướng hàng hóa, t trng lúa chính
sang nuôi trng thy hi sn và chăn nuôi vi qui ln. Nhng thành tu ca nông
nghip tạo điều kin cho các ngành kinh tế khác phát triển, đồng thi làm chuyn
dịch cấu dân giữa các ngành ngh. Nông nghip tr thành ngành quan trng
góp phn b tr cho các ngành kinh tế khác.
Trong 30 năm đổi mi (1986 - 2016), nông nghip huyn Thủy Nguyên đạt
được mức tăng trưởng nhanh ổn định trong mt thời gian dài, cơ cấu nông nghip
chuyn dịch theo hướng tích cc. Giá tr sn xut nông nghip ca huyện tăng trưởng
trung bình vi tốc độ 1,26%/ năm giai đoạn (1986 - 2015), nông thôn vn là ngành
gi được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bng cho nn kinh tế,
39 Phân tích bảng trên ta thấy, tổng sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản của huyện Thủy Nguyên tăng dần qua các giai đoạn, đặc biệt năm 2016 tăng 20448 tấn (tăng gấp hơn 3 lần) so với năm 2002, là năm có sản lượng thấp nhất. Tổng sản lượng thủy sản tăng nhanh trong giai đoạn 2002 - 2016 là do sự tăng lên đáng kể của lĩnh vực khai thác. Điều này phản ánh sự quan tâm đầu tư đóng tàu có công suất lớn, trang bị hiện đại để vươn khơi, mở rộng ngư trường. Trong nuôi trồng, việc tăng diện tích nuôi trồng và áp dụng hình thức luân canh, cải tiến kỹ thuật đã làm cho năng suất tăng nhanh. Trong những năm qua, dưới sự quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện, sự tập trung của hệ thống khuyến nông, khuyến ngư, thú y bảo vệ thực vật, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn có sự phát triển, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm trồng trọt, tăng thủy sản, dịch vụ nông nghiệp và chăn nuôi. Tỷ trọng của lĩnh vực trồng trọt giảm từ 29,5% năm 2014 xuống còn 27% năm 2016; tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 27,5% năm2014 tăng lên 29,9% năm 2016; tỷ trọng lĩnh vực thủy sản tăng từ 40% năm 2014 lên 43,5% năm 2016 [6], [14]. Giai đoạn 2000-2016, cũng là giai đoạn có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao được triển khai áp dụng, cụ thể.Mô hình xây dựng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như vùng chăn nuôi gia cầm ở Lại Xuân, vùng chăn nuôi lợn thịt tập trung tại xã Chính Mỹ, vùng trồng hoa ứng dụng công nghệ cao tại xã Đông Sơn. Nông nghiệp chuyển mạnh theo hướng hàng hóa, từ trồng lúa chính sang nuôi trồng thủy hải sản và chăn nuôi với qui mô lớn. Những thành tựu của nông nghiệp tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, đồng thời làm chuyển dịch cơ cấu dân cư giữa các ngành nghề. Nông nghiệp trở thành ngành quan trọng góp phần bổ trợ cho các ngành kinh tế khác. Trong 30 năm đổi mới (1986 - 2016), nông nghiệp huyện Thủy Nguyên đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực. Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện tăng trưởng trung bình với tốc độ 1,26%/ năm giai đoạn (1986 - 2015), nông thôn vẫn là ngành giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng cho nền kinh tế,
40
đánh dấu s hi phục và tăng trưởng cao. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được ci
thin, t trng giá tr gia tăng trong tổng giá tr sn xuất ngành đã tăng từ 47% (2010)
lên 54,7% (2013); 57,8% (2014) khoảng 58% (2015); năng suất lao động hi
ngành nông, lâm, thy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng
31 triệu đồng năm 2015. Ngành chăn nuôi đã chuyển t hình thc nh, l, phân tán
sang hình thc trang tri, gia tri. T trng giá tr ngành chăn nuôi trong tổng giá tr
nông nghiệp tăng. Giá các sản phẩm chăn nuôi ổn định, bảo đảm thu nhập cho ngưi
chăn nuôi. Ngành thy sản đã chuyển dịch cơ cấu gia khai thác vi nuôi trồng. Năm
2015, tng sản lượng thy sản đạt 2,55 triu tấn (tăng 3,4%) Giá trị sn phm thu
được trên 1ha đất trng trọt đã tăng từ 24,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 39,3 triu
đồng/ha năm 2014 khoảng 62 - 63 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mi ha mặt nước
nuôi trng thy sản tăng từ 83,8 triệu đồng/ha (2013) lên 107,4 triệu đồng/ha (2014)
và khong 153 triệu đồng/ha (2015). Thu nhp của người dân nông thôn huyn Thy
Nguyên năm 2015 tăng khoảng 2 ln so với năm 2010 [6].
Trong xu thế hi nhp quc tếbiến đổi khí hậu cũng như với đặc điểm t
nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù thì đẩy mnh phát trin nông nghip là một hướng phát
trin phù hp ti Việt Nam. Để phát trin nông nghip li thế cnh tranh nhm
phát trin bn vng cần định hướng cần đy mnh phát trin nông nghip công ngh
cao và xây dựng thương hiệu nông sản nông thôn. Chính hai định hướng cơ bản này
s nâng cao hiu qu sn xut nông nghip to li thế cnh tranh cho nông sn
nhm góp phn nâng cao doanh thu trong sn xut nông nghip và mc thu nhp cho
nông dân. Vai trò, vị trí của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng sự
phát triển của nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã hội,
nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trường, tạo cơ
sở cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung bộ mặt nông nghiệp nói riêng,
đồng thời tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến các
ngành liên kết chặt chvới nhau hơn. CNH, HĐH nông nghiệp tạo điều kiện giải
quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo ởnhiều vùng ở nông thôn. Tạo điều kiện để phát
triển năng lực sản xuất khuyến khích mọi lực lượng lao động trong các thành phần
kinh tế hướng vào việc sản xuất nông sản hàng hoá. Giải quyết tốt quan hệ giữa sản
40 đánh dấu sự hồi phục và tăng trưởng cao. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 47% (2010) lên 54,7% (2013); 57,8% (2014) và khoảng 58% (2015); năng suất lao động xã hội ngành nông, lâm, thủy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng năm 2010 lên khoảng 31 triệu đồng năm 2015. Ngành chăn nuôi đã chuyển từ hình thức nhỏ, lẻ, phân tán sang hình thức trang trại, gia trại. Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng. Giá các sản phẩm chăn nuôi ổn định, bảo đảm thu nhập cho người chăn nuôi. Ngành thủy sản đã chuyển dịch cơ cấu giữa khai thác với nuôi trồng. Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản đạt 2,55 triệu tấn (tăng 3,4%) Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt đã tăng từ 24,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 39,3 triệu đồng/ha năm 2014 và khoảng 62 - 63 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 83,8 triệu đồng/ha (2013) lên 107,4 triệu đồng/ha (2014) và khoảng 153 triệu đồng/ha (2015). Thu nhập của người dân nông thôn huyện Thủy Nguyên năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 [6]. Trong xu thế hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu cũng như với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù thì đẩy mạnh phát triển nông nghiệp là một hướng phát triển phù hợp tại Việt Nam. Để phát triển nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhằm phát triển bền vững cần định hướng cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng thương hiệu nông sản nông thôn. Chính hai định hướng cơ bản này sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh cho nông sản nhằm góp phần nâng cao doanh thu trong sản xuất nông nghiệp và mức thu nhập cho nông dân. Vai trò, vị trí của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trường, tạo cơ sở cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng, đồng thời tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên kết chặt chẽ với nhau hơn. CNH, HĐH nông nghiệp tạo điều kiện giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo ởnhiều vùng ở nông thôn. Tạo điều kiện để phát triển năng lực sản xuất khuyến khích mọi lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế hướng vào việc sản xuất nông sản hàng hoá. Giải quyết tốt quan hệ giữa sản
41
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Quan hệ giữa việc hoạch định phương hướng, mục tiêu
sản xuất trong từng thời kỳ. Chính việc tạo điều kiện giải quyết các mối quan hệ trên
là việc tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nhằm thực hiện giải quyết các mối quan hệ trên. Do đó CNH-HĐH nông nghiệp là
cơ sở để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng Công
nghiệp, xây dựng - dịch vụ và nông nghiệp”.
2.2.2. Nghề thủ công
Ngh th công là nhng ngh sn xut ra sn phm mà k thut sn xut ch
yếu là làm bng tay. Cùng vi s phát trin ca khoa hc k thut, các ngh th công
có th s dng máy, hóa cht và các gii pháp k thut ca công nghip trong mt s
công đoạn, phn vic nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc
trưng của sn phm vn làm bng tay. Nguyên liu ca các ngh th công thường
ly trc tiếp t thiên nhiên; công c sn xut thường là công c cầm tay đơn giản.
T xa xưa, các nghề tiu th công nghip luôn chiếm v trí quan trng trong
đời sng kinh tế các vùng quê Vit Nam. Trong quá trình công nghip hóa, hin đi
hóa đất nước và hi nhp kinh tế quc tế, s phát trin các ngh tiu th công nghip
rất có ý nghĩa trong việc chuyn dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn gi và phát huy
nhng giá tr văn hóa truyền thng ca dân tc. Làng ngh phát trin góp phn gii
quyết vic làm cho lực lượng lao động nông thôn,đặc bit to ra b mặt đô thị mi
cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương làm giàu trên quê
hương mình.
Thuỷ Nguyên được thiên nhiên ưu đãi, trữ lượng khá lớn các loại khoáng
sản phi kim loại như đá vôi,có ý nghĩa đối với phát triển các ngành nghề thủ công.
Trước đây đá vôi là nguồn nguyên liệu cho nghề thủ công chế tác từ đá: ngành khắc
đá, đánh đá ở xã Lại Xuân, Minh Đức. Từ những năm 1990 trở về trước nghề đánh
đá, khắc đá rất phát triển, đá trở thành vật liệu chính xây nhà. Ngoài nghề đánh đá,
khắc đá, nguyên liệu đá vôi còn là nguyên liệu để phát triển nghề nung vôi, hệ thống
các lò vôi có công suất từ 50 đến 100 tấn vôi mỗi ngày xuất hiện ở các xã Lại Xuân,
Kỳ Sơn, An Sơn, Minh Đức, Minh Tân [5, tr.284]. Nhưng do ngày nay nguyên liệu
xây dựng phong phú, vôi xây dựng dùng ít nên các lò vôi giảm dần, chỉ còn
41 xuất và tiêu thụ sản phẩm. Quan hệ giữa việc hoạch định phương hướng, mục tiêu sản xuất trong từng thời kỳ. Chính việc tạo điều kiện giải quyết các mối quan hệ trên là việc tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thực hiện giải quyết các mối quan hệ trên. Do đó CNH-HĐH nông nghiệp là cơ sở để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng “Công nghiệp, xây dựng - dịch vụ và nông nghiệp”. 2.2.2. Nghề thủ công Nghề thủ công là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản. Từ xa xưa, các nghề tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế ở các vùng quê Việt Nam. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Làng nghề phát triển góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn,đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình. Thuỷ Nguyên được thiên nhiên ưu đãi, có trữ lượng khá lớn các loại khoáng sản phi kim loại như đá vôi,có ý nghĩa đối với phát triển các ngành nghề thủ công. Trước đây đá vôi là nguồn nguyên liệu cho nghề thủ công chế tác từ đá: ngành khắc đá, đánh đá ở xã Lại Xuân, Minh Đức. Từ những năm 1990 trở về trước nghề đánh đá, khắc đá rất phát triển, đá trở thành vật liệu chính xây nhà. Ngoài nghề đánh đá, khắc đá, nguyên liệu đá vôi còn là nguyên liệu để phát triển nghề nung vôi, hệ thống các lò vôi có công suất từ 50 đến 100 tấn vôi mỗi ngày xuất hiện ở các xã Lại Xuân, Kỳ Sơn, An Sơn, Minh Đức, Minh Tân [5, tr.284]. Nhưng do ngày nay nguyên liệu xây dựng phong phú, vôi xây dựng dùng ít nên các lò vôi giảm dần, chỉ còn ở xã
42
Minh Tân 4 lò có công suất 100 đến 120 tấn /ngày, xã Lại Xuân còn 2 lò có công suất
120 đến 150 tấn / ngày. Trước đây làm 100% thủ công nên thu hút lực lượng lao động
lớn ở các lò vôi, nhưng ngày nay các chủ lò vôi sử dụng máy móc như máy tời, máy
xúc đưa than, đưa đá vào lò, múc vôi lên ô tô, đã giảm lực lượng lao động nghề
nung vôi. Các ngành khai thác vật liệu xây dựng, đúc kim loại mộc dân dụng,
đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải, chế biến lương thực thực phẩm, đan lưới
đánh cá, thủ công thêu ren, đan mây tre... trong đó một số các làng nghề truyền thống
đã được khôi phục phát triển mạnh; có nhiều làng nghề trở thành mô hình tiên tiến,
làm ăn có hiệu quả như: Làng nghề Mỹ Đồng, Hiệp hội vận tải Đoàn Kết - An Lư,
đan mây tre Chính Mỹ, bánh chưng ở Thủy Đường, gốm Dưỡng Động ở Minh Tân,
làm hương ở Kiền Bái …
Làng nghề Đúc kim loại Mỹ Đồng - ph ngh M Đồng luôn đỏ la to sc
sng mi cho c mt vùng quê phía Tây Bc Thy Nguyên. Đây là làng nghề hình
thành từ đầu thế kỷ XX và bắt đầu nổi tiếng từ năm 1938, xuất phát từ nhu cầu chế
tác công cụ lao động, các sản phẩm sinh hoạt của cư dân như muôi, muỗng, cày, bừa,
liềm, dao kéo... Ban đầu chỉ vài hộ gia đình mở các lò đúc, rèn những lúc nông nhàn
(tức là nghề phụ, sau nông nghiệp), sau đó do nhu cầu ngày càng cao của dân cư các
xã lân cận như Thiên Hương, Trịnh Xá, Quảng Thanh…nên số lượng các hộ gia đình
tham khảo học nghề từ những hộ ban đầu lan rộng,học được bí quyết nghề từ những
người thợ giỏi đến đúc lưỡi cày, cuốc ở làng. M Đồng hình thành làng nghề lớn.
Làng nghề M Đồng luôn chế tác các sản phẩm từ kim loại, sản phẩm chủ lực của
nghề rèn ở Mỹ Đồng là đinh thuyền, trong đó, nghề rèn được hình thành từ rất sớm,
đã từng nổi tiếng nhất vùng, được duy trì và phát triển đến tận ngày nay. [31] Khi các
nghệ nhân trong làng đúc bộ phận giữ thăng bằng đuôi, gọi là "con rùa đối trọng"
nặng khoảng một tấn cho con tàu ngoại quốc bị hỏng cảng Hải Phòng, từng được
mệnh danh làng nghề vua biết mặt, nước nhớ tên”. Từ đó, nghề đúc nghề rèn
Mỹ Đồng phát triển nhanh, trở thành nghề truyền thống, là kế sinh nhai của nhiều hộ
gia đình trong xã.
Hiện nay, Mỹ Đồng một trong số ít địa phương có khu công nghiệp làng
nghề, là một trong những làng nghề lớn sản xuất hàng cơ khí số lượng các sản phẩm
42 Minh Tân 4 lò có công suất 100 đến 120 tấn /ngày, xã Lại Xuân còn 2 lò có công suất 120 đến 150 tấn / ngày. Trước đây làm 100% thủ công nên thu hút lực lượng lao động lớn ở các lò vôi, nhưng ngày nay các chủ lò vôi sử dụng máy móc như máy tời, máy xúc đưa than, đưa đá vào lò, múc vôi lên ô tô, đã giảm lực lượng lao động ở nghề nung vôi. Các ngành khai thác vật liệu xây dựng, đúc kim loại và mộc dân dụng, đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải, chế biến lương thực thực phẩm, đan lưới đánh cá, thủ công thêu ren, đan mây tre... trong đó một số các làng nghề truyền thống đã được khôi phục phát triển mạnh; có nhiều làng nghề trở thành mô hình tiên tiến, làm ăn có hiệu quả như: Làng nghề Mỹ Đồng, Hiệp hội vận tải Đoàn Kết - An Lư, đan mây tre Chính Mỹ, bánh chưng ở Thủy Đường, gốm Dưỡng Động ở Minh Tân, làm hương ở Kiền Bái … Làng nghề Đúc kim loại Mỹ Đồng - phố nghề Mỹ Đồng luôn đỏ lửa tạo sức sống mới cho cả một vùng quê phía Tây Bắc Thủy Nguyên. Đây là làng nghề hình thành từ đầu thế kỷ XX và bắt đầu nổi tiếng từ năm 1938, xuất phát từ nhu cầu chế tác công cụ lao động, các sản phẩm sinh hoạt của cư dân như muôi, muỗng, cày, bừa, liềm, dao kéo... Ban đầu chỉ vài hộ gia đình mở các lò đúc, rèn những lúc nông nhàn (tức là nghề phụ, sau nông nghiệp), sau đó do nhu cầu ngày càng cao của dân cư các xã lân cận như Thiên Hương, Trịnh Xá, Quảng Thanh…nên số lượng các hộ gia đình tham khảo học nghề từ những hộ ban đầu lan rộng,học được bí quyết nghề từ những người thợ giỏi đến đúc lưỡi cày, cuốc ở làng. Mỹ Đồng hình thành làng nghề lớn. Làng nghề Mỹ Đồng luôn chế tác các sản phẩm từ kim loại, sản phẩm chủ lực của nghề rèn ở Mỹ Đồng là đinh thuyền, trong đó, nghề rèn được hình thành từ rất sớm, đã từng nổi tiếng nhất vùng, được duy trì và phát triển đến tận ngày nay. [31] Khi các nghệ nhân trong làng đúc bộ phận giữ thăng bằng đuôi, gọi là "con rùa đối trọng" nặng khoảng một tấn cho con tàu ngoại quốc bị hỏng ở cảng Hải Phòng, từng được mệnh danh làng nghề “vua biết mặt, nước nhớ tên”. Từ đó, nghề đúc và nghề rèn ở Mỹ Đồng phát triển nhanh, trở thành nghề truyền thống, là kế sinh nhai của nhiều hộ gia đình trong xã. Hiện nay, Mỹ Đồng là một trong số ít địa phương có khu công nghiệp làng nghề, là một trong những làng nghề lớn sản xuất hàng cơ khí số lượng các sản phẩm