Luận văn: XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG HỢP ĐỒNG GIAO SAU VỀ CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM

1,794
16
114
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 66
-
Đơn v
ị giao dịch
Tùy t
ừng loại sản phẩm
-
S
n ph
ẩm giao dịch
hàng hóa đang giao d
ịch tại thị tr
ư
ờng
New York.
-
Giá giao d
ịch
Giá th
ực tế thế giới
-
Đơn v
ị giao dịch
USD.
Tiền dùng khi thanh toán (nộp tiền, rút
tiền) là VNĐ.
Nguyên t
ắc khớp lệnh
-
Đ
ặt lệnh trực tiếp.
- Đặt lệnh chờ.
M
ức xử lý
-
M
ức cảnh báo
Khi giá tr
ị t
ài s
ản bị giảm c
òn 100% so v
ới
số tiền đặt cọc cho 01 lệnh theo quy định.
-
M
ức xử lý
Khi giá tr
ị t
ài s
ản giảm c
òn 30% so v
ới số
tiền đặt cọc cho 01 lệnh theo quy định.
3.2.5. Đánh giá hoạt động của thị trường giao sau tại Việt Nam trong thời
gian qua
3.2.5.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, sự hoạt động của giao dịch giao sau trong thời gian qua bước
đầu đã giúp Nhà nước, Chính phủ thực tiễn để từ đó nghiên cứu hình thành
khung pháp lý, hoàn thiện các chính sách, thể chế phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuẩn bị các tiền đề nhằm xây dựng sở giao dịch giao sau tại Việt Nam.
Thứ hai, giúp cho Nhà nước quản lý, đưa ra các chiến lược để điều tiết,
phát triển nền kinh tế một cách hiệu quả. Đồng thời đã giúp Nnước thống
nhất chất lượng hàng hóa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao quy
sản xuất để tiến tới một nền sản xuất chuyên nghiệp, có định hướng hơn.
Thứ ba, tuy sàn giao dịch giao sau tại Việt Nam tiến hành muộn hơn so
với các nước khác trong khu vực trên thế giới, nhưng thực tiễn cho thấy,
chúng ta đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm, tránh được sai sót, giảm thời gian
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 66 - Đơn v ị giao dịch Tùy t ừng loại sản phẩm - S ả n ph ẩm giao dịch Là hàng hóa đang giao d ịch tại thị tr ư ờng New York. - Giá giao d ịch Giá th ực tế thế giới - Đơn v ị giao dịch USD. Tiền dùng khi thanh toán (nộp tiền, rút tiền) là VNĐ. Nguyên t ắc khớp lệnh - Đ ặt lệnh trực tiếp. - Đặt lệnh chờ. M ức xử lý - M ức cảnh báo Khi giá tr ị t ài s ản bị giảm c òn 100% so v ới số tiền đặt cọc cho 01 lệnh theo quy định. - M ức xử lý Khi giá tr ị t ài s ản giảm c òn 30% so v ới số tiền đặt cọc cho 01 lệnh theo quy định. 3.2.5. Đánh giá hoạt động của thị trường giao sau tại Việt Nam trong thời gian qua 3.2.5.1. Những kết quả đạt được Thứ nhất, sự hoạt động của giao dịch giao sau trong thời gian qua bước đầu đã giúp Nhà nước, Chính phủ có thực tiễn để từ đó nghiên cứu hình thành khung pháp lý, hoàn thiện các chính sách, thể chế phù hợp với thông lệ quốc tế. Chuẩn bị các tiền đề nhằm xây dựng sở giao dịch giao sau tại Việt Nam. Thứ hai, giúp cho Nhà nước quản lý, đưa ra các chiến lược để điều tiết, phát triển nền kinh tế một cách hiệu quả. Đồng thời đã giúp Nhà nước thống nhất chất lượng hàng hóa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao quy mô sản xuất để tiến tới một nền sản xuất chuyên nghiệp, có định hướng hơn. Thứ ba, tuy sàn giao dịch giao sau tại Việt Nam tiến hành muộn hơn so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, nhưng thực tiễn cho thấy, chúng ta đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm, tránh được sai sót, giảm thời gian
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 67
và kinh phí, điều này đã giúp thị trường giao sau hoạt động có hiệu quả ngay sau
khi được hình thành.
Thứ tư, sản phẩm giao sau tại Việt Nam trong thời gian qua tuy chỉ tập
trung trên một số mặt hàng nông sản, nhưng cũng đã đáp ứng được nhu cầu tiêu
thụ của nhân dân, doanh nghiệp và các đối tượng khác. Đồng thời, cung cấp cho
các chủ thể tham gia thêm một nh đầu tư, phòng hộ hiệu quả, tạo điều kiện
liên thông với các thị trường trên thế giới.
Thứ năm, giúp trang bị kiến thức cho các chủ thể tham gia thị trường hiểu
rõ thêm về hợp đồng giao sau, một công cụ phòng hộ, đầu tư hiệu quả. Điều này
sẽ giúp các nhà đầu khỏi bỡ ngỡ khi tham gia hội nhập với nền kinh tế thế
giới.
3.2.5.2. Những mặt hạn chế
Thứ nhất, chủng loại hàng hóa giao dịch trên thị trường chưa nhiều, ngoài
nhóm hàng hóa nông sản, sự tham gia của các nhóm hàng hóa khác vẫn còn quá
ít. Nhà đầu không nhiều sự lựa chọn để thực hiện vị thế đầu phòng
hộ.
Thứ hai, nhìn chung ở Việt Nam hiện nay đã hình thành đội ngũ các nhà
kinh doanh ở thị trường cấp (có nhu cầu mua bán hàng hóa thật sự), còn đội
ngũ các nhà kinh doanh thứ cấp (kinh doanh rủi ro) chưa thật sự mạnh cả về số
lượng chất lượng. Điều này làm cho thị trường hoạt động kém hiệu quả
thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường.
Thứ ba, khung pháp cho giao dịch hợp đồng giao sau vẫn chưa được
ban hành. Mặc trong luật chứng khoán đề cập đến thuật ngữ Hợp đồng
giao sau”, tuy nhiên vẫn chưa có quy định chi tiết về các vấn đề này.
Thứ tư, sự hạn chế về nhận thức của các chủ thể tham gia thị trường giao
sau. Đa số những người tham gia giao dịch hợp đồng giao sau nông sản là những
người sản xuất nhỏ lẻ, những người nông dân nên thuật ngữ “Hợp đồng giao
sau” vẫn còn xa lạ đối với họ.
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 67 và kinh phí, điều này đã giúp thị trường giao sau hoạt động có hiệu quả ngay sau khi được hình thành. Thứ tư, sản phẩm giao sau tại Việt Nam trong thời gian qua tuy chỉ tập trung trên một số mặt hàng nông sản, nhưng cũng đã đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của nhân dân, doanh nghiệp và các đối tượng khác. Đồng thời, cung cấp cho các chủ thể tham gia thêm một kênh đầu tư, phòng hộ hiệu quả, tạo điều kiện liên thông với các thị trường trên thế giới. Thứ năm, giúp trang bị kiến thức cho các chủ thể tham gia thị trường hiểu rõ thêm về hợp đồng giao sau, một công cụ phòng hộ, đầu tư hiệu quả. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư khỏi bỡ ngỡ khi tham gia hội nhập với nền kinh tế thế giới. 3.2.5.2. Những mặt hạn chế Thứ nhất, chủng loại hàng hóa giao dịch trên thị trường chưa nhiều, ngoài nhóm hàng hóa nông sản, sự tham gia của các nhóm hàng hóa khác vẫn còn quá ít. Nhà đầu tư không có nhiều sự lựa chọn để thực hiện vị thế đầu cơ và phòng hộ. Thứ hai, nhìn chung ở Việt Nam hiện nay đã hình thành đội ngũ các nhà kinh doanh ở thị trường sơ cấp (có nhu cầu mua bán hàng hóa thật sự), còn đội ngũ các nhà kinh doanh thứ cấp (kinh doanh rủi ro) chưa thật sự mạnh cả về số lượng và chất lượng. Điều này làm cho thị trường hoạt động kém hiệu quả vì thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường. Thứ ba, khung pháp lý cho giao dịch hợp đồng giao sau vẫn chưa được ban hành. Mặc dù trong luật chứng khoán có đề cập đến thuật ngữ “Hợp đồng giao sau”, tuy nhiên vẫn chưa có quy định chi tiết về các vấn đề này. Thứ tư, sự hạn chế về nhận thức của các chủ thể tham gia thị trường giao sau. Đa số những người tham gia giao dịch hợp đồng giao sau nông sản là những người sản xuất nhỏ lẻ, những người nông dân nên thuật ngữ “Hợp đồng giao sau” vẫn còn xa lạ đối với họ.
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 68
Thứ năm, thông tin về hợp đồng giao sau rất khó tiếp cận. Techcombank
ngân hàng đi đầu trong việc đóng vai trò nhà môi giới khi thực hiện giao
dịch giao sau, tuy nhiên, các thông tin đầy đủ về quy trình giao dịch, mức
quỹ, cách thức thanh toán…vẫn chưa được công bố đầy đủ, điều này làm hạn
chế nhà đầu tư thực hiện giao dịch giao sau.
Thị trường giao sau tại Việt Nam mới đi vào hoạt động, tuy vẫn còn nhiều
khó khăn và phức tạp phía trước nhưng nhìn chung, việc ứng dụng hợp đồng
giao sau trên hàng hóa đã phần nào cung cấp cho các chủ thể tham gia thị trường
giao sau được những kinh nghiệm, nền tảng vững chắc trong xây dựng thị
trường giao sau về cổ phiếu. Những kinh nghiệm này kết hợp với việc nhận diện
được một số khó khăn còn tồn tại trên TTCP thị trường giao sau thì mới
cơ sở để ứng dụng hợp đồng giao sau vào cổ phiếu được thành công.
3.3.3. Một số khó khăn còn tồn tại khi xây dựng thị trường giao sau về cổ
phiếu tại Việt Nam
3.3.3.1. Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích nhà đầu tư sử dụng hợp đồng
giao sau
Việc khống chế biên độ giao dịch trên TTCP, cụ thể là +/- 5% trên HOSE
và +/- 7% trên HNX; +/- 5% trên thị trường hối đoái đã làm cho các nhà đầu tư
được bảo hộ về giá do đó thị trường giao sau hiện nay vẫn chưa được phát
triển. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam gặp biến động mạnh mẽ trong thời gian qua
cũng là tiền đề cần thiết cho sự ra đời TTCP giao sau bởi vì thực tế cho thấy, các
nước phải đương đầu với cuộc khủng hoảng châu Á vào năm 1997 như Thái
Lan, Malaysia, Philipin những nước thị trường giao sau phát triển mạnh
trong khu vực với một hệ thống phòng chống rủi ro tài chính mạnh.
3.3.3.2. TTCK Việt Nam còn nhỏ bé, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tham
gia
TTCK Việt Nam hiện nay chưa đóng vai trò là 01 kênh huy động vốn dài
hạn hiệu quả cho đầu phát triển. Số lượng các CTCK tham gia trên thị
trường chưa nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật còn kém, trình độ am hiểu về chứng
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 68 Thứ năm, thông tin về hợp đồng giao sau rất khó tiếp cận. Techcombank là ngân hàng đi đầu trong việc đóng vai trò là nhà môi giới khi thực hiện giao dịch giao sau, tuy nhiên, các thông tin đầy đủ về quy trình giao dịch, mức ký quỹ, cách thức thanh toán…vẫn chưa được công bố đầy đủ, điều này làm hạn chế nhà đầu tư thực hiện giao dịch giao sau. Thị trường giao sau tại Việt Nam mới đi vào hoạt động, tuy vẫn còn nhiều khó khăn và phức tạp phía trước nhưng nhìn chung, việc ứng dụng hợp đồng giao sau trên hàng hóa đã phần nào cung cấp cho các chủ thể tham gia thị trường giao sau có được những kinh nghiệm, nền tảng vững chắc trong xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu. Những kinh nghiệm này kết hợp với việc nhận diện được một số khó khăn còn tồn tại trên TTCP và thị trường giao sau thì mới có cơ sở để ứng dụng hợp đồng giao sau vào cổ phiếu được thành công. 3.3.3. Một số khó khăn còn tồn tại khi xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam 3.3.3.1. Nhà nước chưa có biện pháp khuyến khích nhà đầu tư sử dụng hợp đồng giao sau Việc khống chế biên độ giao dịch trên TTCP, cụ thể là +/- 5% trên HOSE và +/- 7% trên HNX; +/- 5% trên thị trường hối đoái đã làm cho các nhà đầu tư được bảo hộ về giá và do đó thị trường giao sau hiện nay vẫn chưa được phát triển. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam gặp biến động mạnh mẽ trong thời gian qua cũng là tiền đề cần thiết cho sự ra đời TTCP giao sau bởi vì thực tế cho thấy, các nước phải đương đầu với cuộc khủng hoảng châu Á vào năm 1997 như Thái Lan, Malaysia, Philipin là những nước có thị trường giao sau phát triển mạnh trong khu vực với một hệ thống phòng chống rủi ro tài chính mạnh. 3.3.3.2. TTCK Việt Nam còn nhỏ bé, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia TTCK Việt Nam hiện nay chưa đóng vai trò là 01 kênh huy động vốn dài hạn có hiệu quả cho đầu tư phát triển. Số lượng các CTCK tham gia trên thị trường chưa nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật còn kém, trình độ am hiểu về chứng
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 69
khoán còn hạn chế. Mặt khác, công chúng đầu chưa những hiểu biết về
TTCK cũng như những lợi ích khi tham gia thị thị trường này.
3.3.3.3. Pháp luật về chứng khoán còn nhiều sơ hở, thực hiện thiếu đồng bộ
Luật chứng khoán đã có hiệu lực nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành,
đặc biệt là các quy định về cơ chế quản lý thị trường còn tồn tại nhiều bất cập
cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Hàng loạt vấn đề như:
các chế tài xử phạt trên TTCK, quy định về công bố thông tin, quy chế giám sát
hoạt động TTCK, các biện pháp ngăn ngừa khủng hoảng…đều phải được tham
khảo ý kiến của các chuyên gia và đông đảo công chúng mới đảm bảo được tính
khoa học.
3.3.3.4. Hàng hóa cho TTCP và thị trường giao sau vẫn còn quá ít
Để xây dựng thành công thị trường giao sau về cổ phiếu, điều kiện tiên
quyết là phải phát triển TTCP nhằm cung cấp hàng hóa cho thị trường giao sau.
Trong đó, cung hàng hóa liên quan đến hoạt động phát hành và niêm yết của các
tổ chức trên thị trường thông qua việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh
nghiệp.
Nhìn chung trong thời gian qua, hàng hóa trên TTCP Việt Nam cũng đã
phát triển nhưng chưa thật sự đảm bảo về mặt số lượng chất ợng. Thị
trường giao sau chỉ mang tính thí điểm trên một số hàng hóa nông sản, chưa
được sự đa dạng trong hàng hóa. Do đó chưa thu hút được nhiều nhà đầu
tham gia.
3.3.3.5. Hạn chế về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
sở hạ tầng TTCK Việt Nam hiện nay còn quá khai. Điều này gây
hạn chế cho các nhà đầu trong thực hiện các lệnh giao dịch lớn. Việc giao
dịch qua mạng n gặp trở ngại. Mặt khác, các thông tin lại không kịp thời,
thiếu minh bạch đã gây hoang mang cho các nhà đầu trong việc phân tích
TTCK.
3.3.3.6. Khung pháp cho giao dịch hợp đồng giao sau vẫn chưa được hoàn
thiện
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 69 khoán còn hạn chế. Mặt khác, công chúng đầu tư chưa có những hiểu biết về TTCK cũng như những lợi ích khi tham gia thị thị trường này. 3.3.3.3. Pháp luật về chứng khoán còn nhiều sơ hở, thực hiện thiếu đồng bộ Luật chứng khoán đã có hiệu lực nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các quy định về cơ chế quản lý thị trường còn tồn tại nhiều bất cập và cần phải được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Hàng loạt vấn đề như: các chế tài xử phạt trên TTCK, quy định về công bố thông tin, quy chế giám sát hoạt động TTCK, các biện pháp ngăn ngừa khủng hoảng…đều phải được tham khảo ý kiến của các chuyên gia và đông đảo công chúng mới đảm bảo được tính khoa học. 3.3.3.4. Hàng hóa cho TTCP và thị trường giao sau vẫn còn quá ít Để xây dựng thành công thị trường giao sau về cổ phiếu, điều kiện tiên quyết là phải phát triển TTCP nhằm cung cấp hàng hóa cho thị trường giao sau. Trong đó, cung hàng hóa liên quan đến hoạt động phát hành và niêm yết của các tổ chức trên thị trường thông qua việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp. Nhìn chung trong thời gian qua, hàng hóa trên TTCP Việt Nam cũng đã phát triển nhưng chưa thật sự đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng. Thị trường giao sau chỉ mang tính thí điểm trên một số hàng hóa nông sản, chưa có được sự đa dạng trong hàng hóa. Do đó chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. 3.3.3.5. Hạn chế về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng TTCK Việt Nam hiện nay còn quá sơ khai. Điều này gây hạn chế cho các nhà đầu tư trong thực hiện các lệnh giao dịch lớn. Việc giao dịch qua mạng còn gặp trở ngại. Mặt khác, các thông tin lại không kịp thời, thiếu minh bạch đã gây hoang mang cho các nhà đầu tư trong việc phân tích TTCK. 3.3.3.6. Khung pháp lý cho giao dịch hợp đồng giao sau vẫn chưa được hoàn thiện
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 70
Mặc dù luật chứng khoán được ban hành vào năm 2006 cũng có quy định
về các hình thức giao dịch giao sau, tuy nhiên vẫn chưa văn bản pháp luật
quy định cụ thể về các quan hệ hợp đồng giao sau cũng như quy định được
hướng dẫn về xử lý kế toán, trình bày chỉ tiêu tài chính có liên quan trên báo cáo
tài chính đối với giao dịch giao sau. Do thiếu tính pháp lý trong quy định về hợp
đồng giao sau nên quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chưa được
đảm bảo, do đó chưa tạo được sự quan tâm của các định chế tài chính cũng như
các nhà đầu khi tham gia trên TTCK, trong vận dụng các biện pháp để hạn chế
rủi ro và đầu tư kiếm lợi.
3.3.3.7. Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm giao sau
c chuyên gia am hiểu về sản phẩm giao sau hiện nay còn qít, n
nữa, họ chưa hội tiếp cận thực tiễn về công cụ giao sau nói riêng sản
phẩm phái sinh nói chung. Số đơn vị cung cấp tham gia giao dịch phái sinh
không bao nhiêu. Do đó nguồn nhân lực am hiểu về các công cphái sinh tại
Việt Nam hiện nay rất hạn chế.
3.3.3.8. Thông tin về sản phẩm giao sau rất khó tiếp cận
Nguồn cung cấp thông tin về công cụ giao sau hiện nay chủ yếu là từ sách
báo, internet…nhưng tính chính xác tính thực tiễn của các thông tin này cần
phải được xem xét. Ngoài ra, cũng có một số tổ chức chuyên cung cấp, tư vấn về
hợp đồng giao sau tuy nhiên các thông tin này lại mức độ “Khó hiểu”
không đầy đủ. Sở như vậy sản phẩm giao sau nói riêng các sản phẩm
phái sinh nói chung chủ đề rất khó, cần phải được đào u, nghiên cứu một
cách khoa học mà tại Việt Nam hiện nay thiếu hẳn các chuyên gia am hiểu về
lĩnh vực này để tư vấn cho các nhà đầu tư.
3.3.3.9. Thiếu kiến thức, hiểu biết về TTCK và thị trường giao sau
TTCP biến động mạnh trong khoảng thời gian từ 2006 đến tháng 6/2009
đã thể hiện tâm bầy đàn của các nhà đầu . Đa số các nhà đầu trên thị
trường đều mang sắc thái đơn lẻ, nhỏ bé, thiếu kiến thức, hạn chế về kỹ năng
phân tích, phán đoán, nhận định tình hình. Thị trường vẫn n thiếu lực lượng
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 70 Mặc dù luật chứng khoán được ban hành vào năm 2006 cũng có quy định về các hình thức giao dịch giao sau, tuy nhiên vẫn chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về các quan hệ hợp đồng giao sau cũng như quy định được hướng dẫn về xử lý kế toán, trình bày chỉ tiêu tài chính có liên quan trên báo cáo tài chính đối với giao dịch giao sau. Do thiếu tính pháp lý trong quy định về hợp đồng giao sau nên quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chưa được đảm bảo, do đó chưa tạo được sự quan tâm của các định chế tài chính cũng như các nhà đầu khi tham gia trên TTCK, trong vận dụng các biện pháp để hạn chế rủi ro và đầu tư kiếm lợi. 3.3.3.7. Thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm giao sau Các chuyên gia am hiểu về sản phẩm giao sau hiện nay còn quá ít, hơn nữa, họ chưa có cơ hội tiếp cận thực tiễn về công cụ giao sau nói riêng và sản phẩm phái sinh nói chung. Số đơn vị cung cấp và tham gia giao dịch phái sinh không bao nhiêu. Do đó nguồn nhân lực am hiểu về các công cụ phái sinh tại Việt Nam hiện nay rất hạn chế. 3.3.3.8. Thông tin về sản phẩm giao sau rất khó tiếp cận Nguồn cung cấp thông tin về công cụ giao sau hiện nay chủ yếu là từ sách báo, internet…nhưng tính chính xác và tính thực tiễn của các thông tin này cần phải được xem xét. Ngoài ra, cũng có một số tổ chức chuyên cung cấp, tư vấn về hợp đồng giao sau tuy nhiên các thông tin này lại ở mức độ “Khó hiểu” và không đầy đủ. Sở dĩ như vậy vì sản phẩm giao sau nói riêng và các sản phẩm phái sinh nói chung là chủ đề rất khó, cần phải được đào sâu, nghiên cứu một cách khoa học mà tại Việt Nam hiện nay thiếu hẳn các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực này để tư vấn cho các nhà đầu tư. 3.3.3.9. Thiếu kiến thức, hiểu biết về TTCK và thị trường giao sau TTCP biến động mạnh trong khoảng thời gian từ 2006 đến tháng 6/2009 đã thể hiện tâm lý bầy đàn của các nhà đầu tư. Đa số các nhà đầu tư trên thị trường đều mang sắc thái đơn lẻ, nhỏ bé, thiếu kiến thức, hạn chế về kỹ năng phân tích, phán đoán, nhận định tình hình. Thị trường vẫn còn thiếu lực lượng
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 71
nhà đầu chuyên nghiệp, những nhà tạo lập thị trường với những kiến thức
chuyên sâu, kinh nghiệm am hiểu về luật pháp trong lĩnh vực chứng
khoán.
c sản phẩm giao sau nói riêng và sản phẩm phái sinh nói chung là các
công cụ phòng chống rủi ro phức tạp và là các sản phẩm khá mới mẻ đối với thị
trường Việt Nam. Tuy nhiên khi được hỏi về công cụ phái sinh thì các nhà đầu
chỉ biết đến hợp đồng khạn, là ng cụ phái sinh đơn giản nhất chứa
đựng rủi ro nhiều nhất trong số các công cụ phái sinh. Hơn nữa, các nhà đầu
còn nhập nhằng giữa việc sử dụng công cụ phái sinh đề đầu cơ thu lợi nhuận và
phòng chống rủi ro, họ không nghĩ rằng việc s dụng sản phẩm phái sinh
phòng ngừa rủi ro, thay vào đó họ chỉ muốn kiếm được lợi nhuận và không bị lỗ.
Nhân viên của các CTCK, đặc biệt các công ty con của ngân hàng
thương mại, thông thường được chuyển từ ngân hàng sang lĩnh vực chứng
khoán, trong khi đó kiến thức chuyên môn về kinh doanh chứng khoán còn rất
mơ hồ.
Do tính chất phức tạp của công cụ phái sinh nên việc trang bị kiến thức
cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm dự báo biến động giá cả trong tương lai phải được
kịp thời, liên tục, chính xác. Điều này đòi hỏi các tổ chức và các nhà đầu tư cần
phải chuyên nghiệp trong suy nghĩ hành động nhưng điều này tại Việt Nam
hiện nay vẫn còn hạn chế.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Sau khi nghiên cứu chương 1 Cơ sởluận về hợp đồng cổ phiếu giao
sau và chương 2 – Kinh nghiệm tổ chức và vận hành sàn giao dịch cổ phiếu giao
sau của một số quốc gia trên thế giới thì trong chương 3, tác giả đã đánh giá khái
quát thực trạng TTCP thị trường giao sau tại Việt Nam cũng như một số khó
khăn còn tồn tại khi xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam. Bức
tranh đầy biến động của TTCP Việt Nam được bộc lộ khá rõ nét trong giai đoạn
từ năm 2000 đến tháng 6/2009. Thông qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh sự cần
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 71 nhà đầu tư chuyên nghiệp, những nhà tạo lập thị trường với những kiến thức chuyên sâu, có kinh nghiệm và am hiểu về luật pháp trong lĩnh vực chứng khoán. Các sản phẩm giao sau nói riêng và sản phẩm phái sinh nói chung là các công cụ phòng chống rủi ro phức tạp và là các sản phẩm khá mới mẻ đối với thị trường Việt Nam. Tuy nhiên khi được hỏi về công cụ phái sinh thì các nhà đầu tư chỉ biết đến hợp đồng kỳ hạn, là công cụ phái sinh đơn giản nhất và chứa đựng rủi ro nhiều nhất trong số các công cụ phái sinh. Hơn nữa, các nhà đầu tư còn nhập nhằng giữa việc sử dụng công cụ phái sinh đề đầu cơ thu lợi nhuận và phòng chống rủi ro, họ không nghĩ rằng việc sử dụng sản phẩm phái sinh là phòng ngừa rủi ro, thay vào đó họ chỉ muốn kiếm được lợi nhuận và không bị lỗ. Nhân viên của các CTCK, đặc biệt là các công ty con của ngân hàng thương mại, thông thường được chuyển từ ngân hàng sang lĩnh vực chứng khoán, trong khi đó kiến thức chuyên môn về kinh doanh chứng khoán còn rất mơ hồ. Do tính chất phức tạp của công cụ phái sinh nên việc trang bị kiến thức và cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm dự báo biến động giá cả trong tương lai phải được kịp thời, liên tục, chính xác. Điều này đòi hỏi các tổ chức và các nhà đầu tư cần phải chuyên nghiệp trong suy nghĩ và hành động nhưng điều này tại Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Sau khi nghiên cứu chương 1 – Cơ sở lý luận về hợp đồng cổ phiếu giao sau và chương 2 – Kinh nghiệm tổ chức và vận hành sàn giao dịch cổ phiếu giao sau của một số quốc gia trên thế giới thì trong chương 3, tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng TTCP và thị trường giao sau tại Việt Nam cũng như một số khó khăn còn tồn tại khi xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam. Bức tranh đầy biến động của TTCP Việt Nam được bộc lộ khá rõ nét trong giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 6/2009. Thông qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh sự cần
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 72
thiết phải áp dụng hợp đồng giao sau vào TTCP tại Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 72 thiết phải áp dụng hợp đồng giao sau vào TTCP tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 73
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH
GIAO SAU VỀ CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM.
---------
4.1. Sự cần thiết của việc xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu tại Việt
Nam
Thị trường giao sau về cổ phiếu là một bộ phận không thể tách rời của thị
trường i chính. Đối với Việt Nam, việc xây dựng thị trường giao sau về cổ
phiếu trong giai đoạn hiện nay hết sức cần thiết vì những lý do sau:
4.1.1. Là công cụ để Nhà nước quản lý kinh tế vĩ mô
Việc xây dựng TTCP giao sau giúp các hoạt động mua bán được tập
trung, số liệu cập nhật được đầy đủ, do đó phản ảnh chính xác quan hệ cung cầu,
giá cả trong tương lai gần. Trong khi đó, giá giao ngay lại chứa đựng nhiều rủi
ro do không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Thị trường giao sau thì hiệu quả
hơn thị trường giao ngay. Nhà nước với vai trò là người quản lý vĩ mô nền kinh
tế sẽ dựa vào thị trường giao sau nhằm định hướng sản xuất, thực hiện việc điều
tiết kinh tế của mình.
4.1.2. Là công cụ quản lý rủi ro và bảo vệ lợi nhuận cho nhà đầu tư
c nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam đa số còn yếu kém trong khả năng
phân tích, dự đoán biến động của thị trường trong tương lai, họ rất dễ chịu tác
động từ những thông tin nhiễu, từ tâm lý bầy đàn và không nhạy bén trước biến
động của thị trường. Hơn nữa, do nguồn vốn đầu tư nhỏ bé, nên dẫn đến hành
động mua thấp, bán cao, không đạt lợi nhuận như kỳ vọng.
Cũng chính những do trên nên sự ra đời của hợp đồng giao sau cổ
phiếu, một công cụ phòng ngừa rủi ro, bảo vệ lợi nhuận cho các nhà đầu tại
Việt Nam trong giai đoạn này hết sức cần thiết. Ngoài ra, chức năng đòn bẩy
tài chính của hợp đồng cổ phiếu giao sau sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư bị
hạn chế về nguồn vốn có thể tham gia rộng rãi.
4.1.3. Tác động đến các công ty niêm yết
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 73 CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH GIAO SAU VỀ CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM. --------- 4.1. Sự cần thiết của việc xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Thị trường giao sau về cổ phiếu là một bộ phận không thể tách rời của thị trường tài chính. Đối với Việt Nam, việc xây dựng thị trường giao sau về cổ phiếu trong giai đoạn hiện nay hết sức cần thiết vì những lý do sau: 4.1.1. Là công cụ để Nhà nước quản lý kinh tế vĩ mô Việc xây dựng TTCP giao sau giúp các hoạt động mua bán được tập trung, số liệu cập nhật được đầy đủ, do đó phản ảnh chính xác quan hệ cung cầu, giá cả trong tương lai gần. Trong khi đó, giá giao ngay lại chứa đựng nhiều rủi ro do không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Thị trường giao sau thì hiệu quả hơn thị trường giao ngay. Nhà nước với vai trò là người quản lý vĩ mô nền kinh tế sẽ dựa vào thị trường giao sau nhằm định hướng sản xuất, thực hiện việc điều tiết kinh tế của mình. 4.1.2. Là công cụ quản lý rủi ro và bảo vệ lợi nhuận cho nhà đầu tư Các nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam đa số còn yếu kém trong khả năng phân tích, dự đoán biến động của thị trường trong tương lai, họ rất dễ chịu tác động từ những thông tin nhiễu, từ tâm lý bầy đàn và không nhạy bén trước biến động của thị trường. Hơn nữa, do nguồn vốn đầu tư nhỏ bé, nên dẫn đến hành động mua thấp, bán cao, không đạt lợi nhuận như kỳ vọng. Cũng chính những lý do trên nên sự ra đời của hợp đồng giao sau cổ phiếu, một công cụ phòng ngừa rủi ro, bảo vệ lợi nhuận cho các nhà đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn này là hết sức cần thiết. Ngoài ra, chức năng đòn bẩy tài chính của hợp đồng cổ phiếu giao sau sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư bị hạn chế về nguồn vốn có thể tham gia rộng rãi. 4.1.3. Tác động đến các công ty niêm yết
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 74
Giá cổ phiếu của công ty được niêm yết phản ánh mức độ phân tích, nhận
định, đánh giá của các nhà đầu tư đối với công ty còn giá của hợp đồng giao sau
đo lường mức độ kỳ vọng trong tương lai gần của nhà đầu đối với ng ty
được niêm yết. Các nhà sản xuất sẽ thực hiện việc điều tiết sản xuất kinh doanh
theo quan hệ cung cầu, chủ động điều chỉnh những hoạt động hiện tại, những kế
hoạch sẽ triển khai.
4.1.4. Thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia
Như đã trình bày trong các phần trước, khi tham gia giao dịch hợp đồng
cổ phiếu giao sau, nhà đầu phải thực hiện ký quỹ ban đầu (thường 20%).
Hơn nữa, khi tham gia vào TTCP giao sau, nhà đầu tư sẽ dễ dàng việc thực hiện
“Bán khống”, một nghiệp vụ không dễ dàng thực hiện trên thị trường giao ngay
những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nhà đầu cả nền kinh tế. Chức
năng đòn bẩy của hợp đồng cổ phiếu giao sau việc thực hiện “Bán khống”
làm thị trường hoạt động sôi động hơn, giúp các nhà đầu tư tham gia thị trường
sẽ sẵn ng cung cấp nhiều vốn hơn cho nền kinh tế, cả nguồn vốn trong
ngoài nước, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đang cần tập trung nguồn vốn
để phát triển kinh tế như hiện nay.
4.1.5. Bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu một mặt tạo điều kiện cho Việt Nam
tiếp cận được các sản phẩm cao cấp của thị trường tài chính, mà điển hình là hợp
đồng cổ phiếu giao sau. Mặt khác, hội nhập kinh tế làm tự do hoá sự dịch
chuyển các nguồn vốn nước ngoài vào TTCK Việt Nam trong điều kiện TTCK
Việt Nam còn m phát triển, đã làm gia tăng rủi ro tính bất ổn cho thị
trường. Sự ra đời của TTCP giao sau được xem là một lá chắn quan trọng để hạn
chế rủi ro của thị trường đối với các nhà đầu tư.
4.2. Các điều kiện cần thiết nhằm xây dựng TTCP giao sau tại Việt Nam
4.2.1. TTCK phát triển
c TTCK lớn trên thế giới đã quá trình phát triển lâu đời, hàng hóa
chứng khoán đa dạng, phong phú, giao dịch chứng khoán diễn ra sôi động. Hơn
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 74 Giá cổ phiếu của công ty được niêm yết phản ánh mức độ phân tích, nhận định, đánh giá của các nhà đầu tư đối với công ty còn giá của hợp đồng giao sau đo lường mức độ kỳ vọng trong tương lai gần của nhà đầu tư đối với công ty được niêm yết. Các nhà sản xuất sẽ thực hiện việc điều tiết sản xuất kinh doanh theo quan hệ cung cầu, chủ động điều chỉnh những hoạt động hiện tại, những kế hoạch sẽ triển khai. 4.1.4. Thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia Như đã trình bày trong các phần trước, khi tham gia giao dịch hợp đồng cổ phiếu giao sau, nhà đầu tư phải thực hiện ký quỹ ban đầu (thường là 20%). Hơn nữa, khi tham gia vào TTCP giao sau, nhà đầu tư sẽ dễ dàng việc thực hiện “Bán khống”, một nghiệp vụ không dễ dàng thực hiện trên thị trường giao ngay vì những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nhà đầu tư và cả nền kinh tế. Chức năng đòn bẩy của hợp đồng cổ phiếu giao sau và việc thực hiện “Bán khống” làm thị trường hoạt động sôi động hơn, giúp các nhà đầu tư tham gia thị trường sẽ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho nền kinh tế, cả nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đang cần tập trung nguồn vốn để phát triển kinh tế như hiện nay. 4.1.5. Bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu một mặt tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận được các sản phẩm cao cấp của thị trường tài chính, mà điển hình là hợp đồng cổ phiếu giao sau. Mặt khác, hội nhập kinh tế làm tự do hoá sự dịch chuyển các nguồn vốn nước ngoài vào TTCK Việt Nam trong điều kiện TTCK Việt Nam còn kém phát triển, đã làm gia tăng rủi ro và tính bất ổn cho thị trường. Sự ra đời của TTCP giao sau được xem là một lá chắn quan trọng để hạn chế rủi ro của thị trường đối với các nhà đầu tư. 4.2. Các điều kiện cần thiết nhằm xây dựng TTCP giao sau tại Việt Nam 4.2.1. TTCK phát triển Các TTCK lớn trên thế giới đã có quá trình phát triển lâu đời, hàng hóa chứng khoán đa dạng, phong phú, giao dịch chứng khoán diễn ra sôi động. Hơn
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 75
nữa, do quy rộng lớn và không bị khống chế bởi biên độ giao động giá nên
giá mua, bán chứng khoán phản ánh được quan hệ cung cầu, các nhà tạo lập thị
trường sẵn sàng cung cấp hàng hóa nhiều thêm cho thị trường, từ đó mới xuất
hiện nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro đầu tư thu lợi
nhuận.
Trở lại với Việt Nam, việc khống chế biên độ giao dịch 5% đối với HOSE
7% đối với HNX đối với thị trường n non trẻ như Việt Nam phù hợp.
Tuy nhiên, điều này không khuyến khích được các nhà đầu tham gia TTCP
giao sau. Ngoài ra, do đang trong thời kỳ suy giảm, giá trị vốn hóa của cả hai
sàn chỉ vào khoảng trên 22.000 tỷ đồng, cộng thêm vai trò của các nhà tạo lập
thị trường còn mờ nhạt, thị trường thiếu hẳn tính thanh khoản nên việc xây dựng
TTCP giao sau hiện nay gặp rất nhiều khó khăn.
4.2.2. Cơ sở vật chất, kỹ thuật
một số sở giao dịch hoàn toàn bằng điện tử như LIFFE, OC thì yếu tố
kỹ thuật được đặt lên hàng đầu. Với phương thức giao dịch trực tuyến, nhà đầu
tư không cần phải đến các CTCK hoặc đặt lệnh bằng điện thoại, thể đặt
lệnh qua mạng. Lệnh sẽ chuyển đến sàn giao dịch, đảm bảo sự ng bằng cho
nhà đầu tư. Muốn như vậy thì sàn giao dịch phải có hệ thống giao dịch gồm máy
chủ và các máy mạng đủ mạnh, đồng bộ và ổn định, đảm bảo việc giao dịch cho
nhà đầu tư được thông suốt.
Điều kiện vật chất, kỹ thuật càng tốt sẽ giúp cho thị trường vận hành
thuận lợi, nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia thị trường, đồng thời cơ quan quản
lý sẽ kiểm soát được tính tuân thủ của các nhà đầu tư trong thực hiện giao dịch.
Hệ thống thông tin ng hiện đại thì hội nắm bắt thông tin thị trường càng
cao, góp phần tăng tính minh bạch cho thị trường.
Hiện nay, TTCK Việt Nam cũng đang áp dụng hình giao dịch không
sàn, điều này sẽ mang lại rất nhiều tiện lợi. Lợi ích trước mắt có thể thấy rõ khi
giao dịch trực tuyến các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, chính xác,
bảo mật, không phụ thuộc vào nhân viên môi giới, tiết kiệm thời gian, nhà đầu
Đề tài: Xây dựng thị trường hợp đồng giao sau về cổ phiếu tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 75 nữa, do quy mô rộng lớn và không bị khống chế bởi biên độ giao động giá nên giá mua, bán chứng khoán phản ánh được quan hệ cung cầu, các nhà tạo lập thị trường sẵn sàng cung cấp hàng hóa nhiều thêm cho thị trường, từ đó mới xuất hiện nhu cầu sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro và đầu tư thu lợi nhuận. Trở lại với Việt Nam, việc khống chế biên độ giao dịch 5% đối với HOSE và 7% đối với HNX đối với thị trường còn non trẻ như Việt Nam là phù hợp. Tuy nhiên, điều này không khuyến khích được các nhà đầu tư tham gia TTCP giao sau. Ngoài ra, do đang trong thời kỳ suy giảm, giá trị vốn hóa của cả hai sàn chỉ vào khoảng trên 22.000 tỷ đồng, cộng thêm vai trò của các nhà tạo lập thị trường còn mờ nhạt, thị trường thiếu hẳn tính thanh khoản nên việc xây dựng TTCP giao sau hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. 4.2.2. Cơ sở vật chất, kỹ thuật Ở một số sở giao dịch hoàn toàn bằng điện tử như LIFFE, OC thì yếu tố kỹ thuật được đặt lên hàng đầu. Với phương thức giao dịch trực tuyến, nhà đầu tư không cần phải đến các CTCK hoặc đặt lệnh bằng điện thoại, mà có thể đặt lệnh qua mạng. Lệnh sẽ chuyển đến sàn giao dịch, đảm bảo sự công bằng cho nhà đầu tư. Muốn như vậy thì sàn giao dịch phải có hệ thống giao dịch gồm máy chủ và các máy mạng đủ mạnh, đồng bộ và ổn định, đảm bảo việc giao dịch cho nhà đầu tư được thông suốt. Điều kiện vật chất, kỹ thuật càng tốt sẽ giúp cho thị trường vận hành thuận lợi, nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia thị trường, đồng thời cơ quan quản lý sẽ kiểm soát được tính tuân thủ của các nhà đầu tư trong thực hiện giao dịch. Hệ thống thông tin càng hiện đại thì cơ hội nắm bắt thông tin thị trường càng cao, góp phần tăng tính minh bạch cho thị trường. Hiện nay, TTCK Việt Nam cũng đang áp dụng mô hình giao dịch không sàn, điều này sẽ mang lại rất nhiều tiện lợi. Lợi ích trước mắt có thể thấy rõ khi giao dịch trực tuyến là các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, chính xác, bảo mật, không phụ thuộc vào nhân viên môi giới, tiết kiệm thời gian, nhà đầu