LUẬN VĂN: Vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Bắc Trung bộ

3,605
458
96
trên, làm gì cũng phải báo cáo, xin phép. Suy nghĩ đó cả cán bộ Trung ương cũng
như ở địa phương. Cần có sự rõ ràng, minh bạch để một mặt, địa phương không cảm thấy
bị Trung ương bỏ rơi, dửng dưng; nhưng mặt khác, không để cơ sở thấy bị can thiệp quá
sâu vào nội bộ. Còn địa phương không quá phụ thuộc ý kiến của cấp trên và coi đó như
các tín điều, nhưng cũng không được bỏ qua sự chỉ đạo của cấp trên theo kiểu “phép vua
thua lệ làng”. Quá trình này phải được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến tận sở.
Ngay trong mục tiêu, phương hướng của Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Trị, vẫn đã
xác định: “Thực hiện tốt việc phân cấp, phân quyền để khuyến khích tính sáng tạo, tự
chịu trách nhiệm của chính quyền cấp dưới các quan của ủy ban nhân dân”[6,
tr.95].
Việc phân cấp quản lý là công việc phức tạp, lâu dài, không thể thực hiện trong
một sớm một chiều. Trước tiên, cần phải xác định mục tiêu của việc phân cấp để
tăng tính tích cực, chủ động của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, tránh phụ thuộc, rập
khuôn, giáo điều. Tuy nhiên, Trung ương cũng cần xác định những nội dung, địa bàn,
lĩnh vực cần phân cấp để tránh được hiện tượng buông lỏng những lĩnh vực cần quan
tâm, quản lý, trong khi đó lại can thiệp quá sâu vào những vấn đề cụ thể. Những địa bàn
trọng điểm, giữ vị trí chiến lược về kinh tế hội, an ninh, quốc phòng như Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh thì sự phân cấp phải phân biệt các tỉnh thành khác. Cũng như
vậy, sự phân cấp quản lý giữa Trung ương và tỉnh trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng
cũng không thể giống như các vấn đề về hội, tôn giáo. Từ đó, Trung ương cần xác
định được thời gian, phương pháp, tiến trình cụ thể cho việc phân cấp quản lý. Đây là
một quá trình lâu dài, phức tạp, vậy, không thể tiến hành một cáchạt, quy mô trên
toàn quốc cần phải thí điểm trên một số địa bàn một số lĩnh vực nhất định.
Sau thời gian thực hiện thí điểm, cần phải tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm
để điều chỉnh và nhân rộng mô hình.
Việc phân cấp quản lý là một yêu cầu bức thiết trong điều kiện đổi mới toàn diện
đất nước hiện nay. Công việc này đem lại nhiều lợi ích thiết thực, trong đó có việc thúc
đẩy tính tích cực, chủ động, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh. Sự thay đổi trong cả duy hành động một trong
trên, làm gì cũng phải báo cáo, xin phép. Suy nghĩ đó có cả ở cán bộ Trung ương cũng như ở địa phương. Cần có sự rõ ràng, minh bạch để một mặt, địa phương không cảm thấy bị Trung ương bỏ rơi, dửng dưng; nhưng mặt khác, không để cơ sở thấy bị can thiệp quá sâu vào nội bộ. Còn địa phương không quá phụ thuộc ý kiến của cấp trên và coi đó như các tín điều, nhưng cũng không được bỏ qua sự chỉ đạo của cấp trên theo kiểu “phép vua thua lệ làng”. Quá trình này phải được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến tận cơ sở. Ngay trong mục tiêu, phương hướng của Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh Quảng Trị, vẫn đã xác định: “Thực hiện tốt việc phân cấp, phân quyền để khuyến khích tính sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp dưới và các cơ quan của ủy ban nhân dân”[6, tr.95]. Việc phân cấp quản lý là công việc phức tạp, lâu dài, không thể thực hiện trong một sớm một chiều. Trước tiên, cần phải xác định rõ mục tiêu của việc phân cấp là để tăng tính tích cực, chủ động của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, tránh phụ thuộc, rập khuôn, giáo điều. Tuy nhiên, Trung ương cũng cần xác định những nội dung, địa bàn, lĩnh vực cần phân cấp để tránh được hiện tượng buông lỏng những lĩnh vực cần quan tâm, quản lý, trong khi đó lại can thiệp quá sâu vào những vấn đề cụ thể. Những địa bàn trọng điểm, giữ vị trí chiến lược về kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thì sự phân cấp phải phân biệt các tỉnh thành khác. Cũng như vậy, sự phân cấp quản lý giữa Trung ương và tỉnh trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng cũng không thể giống như các vấn đề về xã hội, tôn giáo. Từ đó, Trung ương cần xác định được thời gian, phương pháp, tiến trình cụ thể cho việc phân cấp quản lý. Đây là một quá trình lâu dài, phức tạp, vì vậy, không thể tiến hành một cách ồ ạt, quy mô trên toàn quốc mà cần phải có thí điểm trên một số địa bàn và ở một số lĩnh vực nhất định. Sau thời gian thực hiện thí điểm, cần phải tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm để điều chỉnh và nhân rộng mô hình. Việc phân cấp quản lý là một yêu cầu bức thiết trong điều kiện đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Công việc này đem lại nhiều lợi ích thiết thực, trong đó có việc thúc đẩy tính tích cực, chủ động, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh. Sự thay đổi trong cả tư duy và hành động là một trong
những tác nhân nâng cao được năng lực nói chung, trong đó có năng lực duy luận
của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh.
3.4. Có chính sách cán bộ hợp lý nhằm đề ra những tiêu chí đánh giá cán bộ,
khuyến khích nâng cao năng lực tư duy lý luận
Đánh giá cán bộ là một nội dung có tính nguyên tắc, là vấn đề hết sức hệ trọng, tế
nhị, nhạy cảm, phức tạp; là khâu mở đầu quyết định cho việc xem xét, quyết định đề bạt, bổ
nhiệm, bố trí, sử dụng, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Đây là một công việc
quan trọng, là động lực kích thích, động viên cán bộ phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành, hoàn
thiện nhân cách, nâng cao phẩm chất cũng như trình độ năng lực về mọi mặt, trong đó
năng lực tư duy lý luận.
Ngay từ khi Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII ngày 18/6/1997 về chiến
lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy tỉnh Quảng Trị các tỉnh Bắc Trung bộ nói chung đã kế hoạch để các cấp, các
ngành căn cứ vào các tiêu chí cụ thể để đánh giá đối với cán bộ. Việc thực hiện đánh giá
cán bộ hàng năm bước đầu đã tiến hành khá tốt, công tác cán bộ đã thực hiện ngày càng
có chất lượng, sát với yêu cầu, đúng quy trình và đi vào nền nếp, chính xác, khách quan,
hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đánh giá cán bộ vẫn còn
một số tồn tại, hạn chế. Thực trạng này đòi hỏi:
Một là, các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị cần quán triệt đầy đủ chủ trương, quan
điểm, yêu cầu của Trung ương về đánh giá cán bộ; cần nhận thức thống nhất về vai trò,
vị trí công tác đánh giá cán bộ, hiểu đúng, mềm dẻo, linh hoạt yêu cầu đánh giá cán bộ để
tránh lúng túng, xem nhẹ yêu cầu, quy định trong đánh giá cán bộ, ảnh hưởng đến kết quả
đánh giá cán bộ làm hạn chế trong công tác tham mưu cho cấp ủy trong quy hoạch, đào
tạo, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ.
Hai là, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh cần thực hiện đầy đủ theo yêu cầu của
Ban Tổ chức Trung ương, tránh đơn giản khi thực hiện quy trình, thủ tục. Tránh bệnh
hình thức, tư tưởng “dĩ hòa vi quý”.
những tác nhân nâng cao được năng lực nói chung, trong đó có năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh. 3.4. Có chính sách cán bộ hợp lý nhằm đề ra những tiêu chí đánh giá cán bộ, khuyến khích nâng cao năng lực tư duy lý luận Đánh giá cán bộ là một nội dung có tính nguyên tắc, là vấn đề hết sức hệ trọng, tế nhị, nhạy cảm, phức tạp; là khâu mở đầu quyết định cho việc xem xét, quyết định đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Đây là một công việc quan trọng, là động lực kích thích, động viên cán bộ phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành, hoàn thiện nhân cách, nâng cao phẩm chất cũng như trình độ năng lực về mọi mặt, trong đó có năng lực tư duy lý luận. Ngay từ khi có Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII ngày 18/6/1997 về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Quảng Trị và các tỉnh Bắc Trung bộ nói chung đã có kế hoạch để các cấp, các ngành căn cứ vào các tiêu chí cụ thể để đánh giá đối với cán bộ. Việc thực hiện đánh giá cán bộ hàng năm bước đầu đã tiến hành khá tốt, công tác cán bộ đã thực hiện ngày càng có chất lượng, sát với yêu cầu, đúng quy trình và đi vào nền nếp, chính xác, khách quan, hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đánh giá cán bộ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Thực trạng này đòi hỏi: Một là, các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị cần quán triệt đầy đủ chủ trương, quan điểm, yêu cầu của Trung ương về đánh giá cán bộ; cần nhận thức thống nhất về vai trò, vị trí công tác đánh giá cán bộ, hiểu đúng, mềm dẻo, linh hoạt yêu cầu đánh giá cán bộ để tránh lúng túng, xem nhẹ yêu cầu, quy định trong đánh giá cán bộ, ảnh hưởng đến kết quả đánh giá cán bộ làm hạn chế trong công tác tham mưu cho cấp ủy trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ. Hai là, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh cần thực hiện đầy đủ theo yêu cầu của Ban Tổ chức Trung ương, tránh đơn giản khi thực hiện quy trình, thủ tục. Tránh bệnh hình thức, tư tưởng “dĩ hòa vi quý”.
Ba là, phải công khai trao đổi kết quả đầy đủ và kết luận đánh giá cán bộ đối với
cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Quản lý, sử dụng khoa học kết quả đánh giá cán bộ, gắn với
việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng cán bộ.
Bốn là, về phía Trung ương, cần sớm đề ra nội dung, cơ chế, quy trình về đánh
giá cán bộ cho thật sát hợp, cụ thể, để thực hiện nhằm nâng tác dụng, hiệu quả so với hiện
nay.
Tuy nhiên, đánh giá đúng cán bộ vấn đề phức tạp. Đánh giá về công tác này
trong những năm vừa qua, kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX chỉ rằng quản lý và đánh giá cán bộ khâu yếu nhất nhưng chậm khắc phục;
quan điểm, phương pháp, tiêu chí đánh giá cán bộ chưa rõ ràng, nhất quán, chưa căn cứ trước
hết vào kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Để đánh giá đúng năng lực của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cần phải
những tiêu chí cụ thể. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá mỗi loại cán bộ có khác nhau, và ngay
trong từng loại cán bộ đó ở các cấp khác nhau, với công việc cụ thể khác nhau cũng khác
nhau. Điều đó đòi hỏi phải bên cạnh những tiêu chí đánh giá cán bộ chung, cần có những
tiêu chí mang tính đặc thù, cụ thể. Vì thế, Trung ương cần một chính sách hợp lý khi
đề cập đến vấn đề này. Một trong những nhiệm vụ cách mạng ở thời điểm hiện nay yêu
cầu cán bộ từ cấp tỉnh trở lên phải có năng lực tư duy ở trình độ lý luận. Năng lực này thể
hiện trong thực tế chủ yếu ở kết quả nhiệm vụ ở từng cán bộ.
Đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, năng lực tư duy lý luận còn thể hiện ở
mức độ đóng góp vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; vào
Nghị quyết, chủ trương, quyết định những công tác chung trên địa bàn, lĩnh vực họ
phụ trách … thông qua nghiên cứu thực tiễn, tổng kết thực tiễn của họ. Tuy tiêu chí này
không phải là duy nhất, quan trọng nhất, nhưng lại cái đang đòi hỏi bức thiết của thực
tiễn phức tạp, đầy biến động. Đánh giá cán bộ, nhấn mạnh tiêu chuẩn năng lực tư duy
luận, gắn tiêu chuẩn này với kết quả thực hiện nhiệm vụ, một mặt động viên được những
cán bộ năng lực duy luận tiếp tục phát huy; mặt khác, đòi hỏi các cán bộ chưa
tương xứng với nhiệm vụ phải dày công học tập rèn luyện nâng cao trình độ tư duy trong
thực tế nếu không muốn bị đào thải.
Ba là, phải công khai trao đổi kết quả đầy đủ và kết luận đánh giá cán bộ đối với cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Quản lý, sử dụng khoa học kết quả đánh giá cán bộ, gắn với việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng cán bộ. Bốn là, về phía Trung ương, cần sớm đề ra nội dung, cơ chế, quy trình về đánh giá cán bộ cho thật sát hợp, cụ thể, để thực hiện nhằm nâng tác dụng, hiệu quả so với hiện nay. Tuy nhiên, đánh giá đúng cán bộ là vấn đề phức tạp. Đánh giá về công tác này trong những năm vừa qua, kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX chỉ rõ rằng quản lý và đánh giá cán bộ là khâu yếu nhất nhưng chậm khắc phục; quan điểm, phương pháp, tiêu chí đánh giá cán bộ chưa rõ ràng, nhất quán, chưa căn cứ trước hết vào kết quả thực hiện nhiệm vụ. Để đánh giá đúng năng lực của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cần phải có những tiêu chí cụ thể. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá mỗi loại cán bộ có khác nhau, và ngay trong từng loại cán bộ đó ở các cấp khác nhau, với công việc cụ thể khác nhau cũng khác nhau. Điều đó đòi hỏi phải bên cạnh những tiêu chí đánh giá cán bộ chung, cần có những tiêu chí mang tính đặc thù, cụ thể. Vì thế, Trung ương cần có một chính sách hợp lý khi đề cập đến vấn đề này. Một trong những nhiệm vụ cách mạng ở thời điểm hiện nay yêu cầu cán bộ từ cấp tỉnh trở lên phải có năng lực tư duy ở trình độ lý luận. Năng lực này thể hiện trong thực tế chủ yếu ở kết quả nhiệm vụ ở từng cán bộ. Đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, năng lực tư duy lý luận còn thể hiện ở mức độ đóng góp vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; vào Nghị quyết, chủ trương, quyết định những công tác chung trên địa bàn, lĩnh vực mà họ phụ trách … thông qua nghiên cứu thực tiễn, tổng kết thực tiễn của họ. Tuy tiêu chí này không phải là duy nhất, quan trọng nhất, nhưng lại là cái đang đòi hỏi bức thiết của thực tiễn phức tạp, đầy biến động. Đánh giá cán bộ, nhấn mạnh tiêu chuẩn năng lực tư duy lý luận, gắn tiêu chuẩn này với kết quả thực hiện nhiệm vụ, một mặt động viên được những cán bộ có năng lực tư duy lý luận tiếp tục phát huy; mặt khác, đòi hỏi các cán bộ chưa tương xứng với nhiệm vụ phải dày công học tập rèn luyện nâng cao trình độ tư duy trong thực tế nếu không muốn bị đào thải.
Ngoài ra, để thúc đẩy cán bộ nâng cao năng lực duy luận cần những
chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên cả về vật chất lẫn tinh
thần đối với những người tích cực rèn luyện, trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực và
trình độ duy luận. Biện pháp này sẽ làm cho cán bộ thêm phấn khởi, tăng thêm
quyết tâm, tự giác rèn luyện, học tập đạt hiệu quả tốt hơn, hạn chế được tình trạng học để
đối phó, học để lấy tấm bằng,… Đồng thời, cũng cần kiên quyết không đề bạt, bổ nhiệm
những cán bộ có tư duy cũ kỹ, lạc hậu, bảo thủ, không có ý chí phấn đấu rèn luyện nâng
cao năng lực duy biện chứng, khoa học; hình thức kỷ luật nghiêm đối với những
cán bộ luôn tìm cách thoái thác, trì hoãn việc chấp hành quyết định cử đi học tập, bồi
dưỡng trình độ chuyên môn cũng như lý luận chính trị…
Như vậy, chú ý đến năng lực duy luận, gắn năng lực đó với kết quả thực
hiện nhiệm vụ trong đánh giá cán bộ, đồng thời chính sách khuyến khích hợp đối
với những cán bộ tích cực trong học tập, rèn luyện và vận dụng tư duy lý luận trong thực
hiện nhiệm vụ là một giải pháp cần thiết,giá trị cao đối với việc thúc đẩy, kích thích
cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói riêng nâng cao năng lực
tư duy lý luận.
Trên đây là những giải pháp chủ yếu nhằm tạo ra động lực kích thích và tạo điều
kiện từng bước nâng cao năng lực duy luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh vùng Bắc Trung bộ nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng hiện nay. Muốn thực
hiện trên thực tế được chất lượng, hiệu quả, các giải pháp ấy phải được tiến hành đồng bộ
nhất quán. Tuy nhiên, việc giải quyết tốt những yêu cầu trên chỉ tạo ra những điều
kiện khách quan, những tiền đề cần thiết cho việc nâng cao năng lực tư duy lý luận. Trên
nền tảng đó, người cán bộ chủ chốt cần phát huy nhân tố chủ quan, cố gắng nỗ lực
nhân. vậy, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục, thì còn phải được một chế trên
thực tế để hướng được tất cả mọi cán bộ lãnh đạo vào quỹ đạo học tập và rèn luyện, trong
đó, tự học tập, tự rèn luyện quan trọng nhất để nâng cao năng lực tư duy luận cho
mình. Đồng thời phải không ngừng trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ
cán bộ này. Có như vậy thì chủ trương nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán
Ngoài ra, để thúc đẩy cán bộ nâng cao năng lực tư duy lý luận cần có những chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên cả về vật chất lẫn tinh thần đối với những người tích cực rèn luyện, trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực và trình độ tư duy lý luận. Biện pháp này sẽ làm cho cán bộ thêm phấn khởi, tăng thêm quyết tâm, tự giác rèn luyện, học tập đạt hiệu quả tốt hơn, hạn chế được tình trạng học để đối phó, học để lấy tấm bằng,… Đồng thời, cũng cần kiên quyết không đề bạt, bổ nhiệm những cán bộ có tư duy cũ kỹ, lạc hậu, bảo thủ, không có ý chí phấn đấu rèn luyện nâng cao năng lực tư duy biện chứng, khoa học; có hình thức kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ luôn tìm cách thoái thác, trì hoãn việc chấp hành quyết định cử đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn cũng như lý luận chính trị… Như vậy, chú ý đến năng lực tư duy lý luận, gắn năng lực đó với kết quả thực hiện nhiệm vụ trong đánh giá cán bộ, đồng thời có chính sách khuyến khích hợp lý đối với những cán bộ tích cực trong học tập, rèn luyện và vận dụng tư duy lý luận trong thực hiện nhiệm vụ là một giải pháp cần thiết, có giá trị cao đối với việc thúc đẩy, kích thích cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói riêng nâng cao năng lực tư duy lý luận. Trên đây là những giải pháp chủ yếu nhằm tạo ra động lực kích thích và tạo điều kiện từng bước nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Bắc Trung bộ nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng hiện nay. Muốn thực hiện trên thực tế được chất lượng, hiệu quả, các giải pháp ấy phải được tiến hành đồng bộ và nhất quán. Tuy nhiên, việc giải quyết tốt những yêu cầu trên chỉ tạo ra những điều kiện khách quan, những tiền đề cần thiết cho việc nâng cao năng lực tư duy lý luận. Trên nền tảng đó, người cán bộ chủ chốt cần phát huy nhân tố chủ quan, cố gắng nỗ lực cá nhân. Vì vậy, ngoài việc tuyên truyền, giáo dục, thì còn phải có được một cơ chế trên thực tế để hướng được tất cả mọi cán bộ lãnh đạo vào quỹ đạo học tập và rèn luyện, trong đó, tự học tập, tự rèn luyện là quan trọng nhất để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho mình. Đồng thời phải không ngừng trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ này. Có như vậy thì chủ trương nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, mới không dừng lại trên lý thuyết sách vở, thực sự đi vào
cuộc sống.
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, mới không dừng lại trên lý thuyết sách vở, thực sự đi vào cuộc sống.
Kết luận
Từ khi xã hội loài người có sự phân chia lao động thành lao động trí óc và lao động
tay chân thì tư duy, trí tuệ càng thể hiện vai trò và sức mạnh của mình trong việc trợ giúp con
người vươn lên chinh phục tự nhiên, xã hội. Trong thời đại hiện nay thời đại công nghệ
thông tin phát triển mạnh mẽ – tư duy, trí tuệ trở thành tài sản vô giá, nguồn lực cơ bản cho sự
phát triển của một quốc gia, dân tộc. Nếu trí tuệ được xem là kết quả của quá trình thu nhận tri
thức thì tư duy chính là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng những tri thức đó để đề xuất
những nhận thức mới hướng đến bản chất, quy luật của sự vật, hiệnợng.
Năng lực duy luận được xem là một nhân tố không thể thiếu, có tầm quan
trọng đặc biệt, vừa là bộ phận cấu thành năng lực của người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh vừa
động lực thúc đẩy năng lực lãnh đạo, quản nói chung phát triển. Đó chính năng
lực suy nghĩ thấu đáo đến bản chất của sự vật, hiện ợng; biết phân tích, tổng hợp
khái quát từ những hiện tượng sinh động, đa dạng của đời sống thực tiễn, từ kinh nghiệm
muôn vẻ của hoạt động hàng ngày tích lũy khái quát thành luận. Trong quá trình
lãnh đạo, yêu cầu về năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
còn thể hiện ở nhiều khía cạnh như: năng lực tư duy về con người, hiểu biết về con người
để thu hút tập hợp họ, động viên, lôi cuốn họ để họ hoạt động tích cực, năng lực tổng kết
thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để sở hình thành các giải pháp cho việc giải quyết
các vấn đề ở quá trình thực tiễn tiếp theo.
Năng lực duy lý luận vũ khí sắc bén nhất trong hoạt động lãnh đạo của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Năng lực ấy được thể hiện ở khả năng nắm bắt được bản chất
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước... trong quan hệ với nhiệm vụ của mình; ở khả năng nắm bắt vấn đề
thực tiễn trên địa bàn mình phụ trách khả năng đề ra phương hướng tối ưu để giải
quyết vấn đề đó.
Như vậy, năng lực tư duy lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động lãnh
đạo của cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nói riêng. Đối với thực tiễn đổi mới ở
nước ta hiện nay, vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với cán bộ nói chung, đặc biệt là
Kết luận Từ khi xã hội loài người có sự phân chia lao động thành lao động trí óc và lao động tay chân thì tư duy, trí tuệ càng thể hiện vai trò và sức mạnh của mình trong việc trợ giúp con người vươn lên chinh phục tự nhiên, xã hội. Trong thời đại hiện nay – thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ – tư duy, trí tuệ trở thành tài sản vô giá, nguồn lực cơ bản cho sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. Nếu trí tuệ được xem là kết quả của quá trình thu nhận tri thức thì tư duy chính là quá trình suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng những tri thức đó để đề xuất những nhận thức mới hướng đến bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Năng lực tư duy lý luận được xem là một nhân tố không thể thiếu, có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là bộ phận cấu thành năng lực của người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh vừa là động lực thúc đẩy năng lực lãnh đạo, quản lý nói chung phát triển. Đó chính là năng lực suy nghĩ thấu đáo đến bản chất của sự vật, hiện tượng; biết phân tích, tổng hợp và khái quát từ những hiện tượng sinh động, đa dạng của đời sống thực tiễn, từ kinh nghiệm muôn vẻ của hoạt động hàng ngày tích lũy và khái quát thành lý luận. Trong quá trình lãnh đạo, yêu cầu về năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh còn thể hiện ở nhiều khía cạnh như: năng lực tư duy về con người, hiểu biết về con người để thu hút tập hợp họ, động viên, lôi cuốn họ để họ hoạt động tích cực, năng lực tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để có cơ sở hình thành các giải pháp cho việc giải quyết các vấn đề ở quá trình thực tiễn tiếp theo. Năng lực tư duy lý luận là vũ khí sắc bén nhất trong hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Năng lực ấy được thể hiện ở khả năng nắm bắt được bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... trong quan hệ với nhiệm vụ của mình; ở khả năng nắm bắt vấn đề thực tiễn trên địa bàn mình phụ trách và ở khả năng đề ra phương hướng tối ưu để giải quyết vấn đề đó. Như vậy, năng lực tư duy lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động lãnh đạo của cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nói riêng. Đối với thực tiễn đổi mới ở nước ta hiện nay, vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với cán bộ nói chung, đặc biệt là
đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói riêng lại càng quan trọng do phải
đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt tỉnh Quảng Trị nói riêng Bắc Trung bộ nói
chung đang đứng trước mâu thuẫn giữa thực trạng yếu kém, chưa ngang tầm về năng lực
tư duy lý luận với những yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của thực tiễn đổi mới. Nguyên
nhân yếu kém về năng lực của đội ngũ này bắt nguồn từ sự tác động tiêu cực của nhiều
yếu tố. Xét về điều kiện khách quan có cả điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, hội. Nhân tố chủ quan ảnh ởng đến chính yếu tố sinh học, nhu cầu
lợi ích, sự cố gắng nổ lực của bản thân và hoạt động thực tiễn của chủ thể. Các yếu tố này
có quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, trong đó, nhân tố chủ quan là yếu tố mang tính
quyết định nhất đến sự hình thành phát triển năng lực duy luận. Trong nhân tố
chủ quan, hoạt động thực tiễn chính là sở sâu xa và chủ yếu nhất của năng lực tư duy
lý luận.
Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, người cán bộ
chủ chốt cấp tỉnh vùng Bắc Trung bộ phải kịp thời khắc phục hạn chế, khiếm khuyết,
nâng cao năng lực duy luận. Muốn làm được điều đó phải biện pháp tác động
đồng thời lên cả điều kiện khách quan nhân tố chủ quan, trong đó, những giải pháp
trực tiếp lên nhân tố chủ quan là quan trọng nhất. Đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp,
đòi hỏi phải nhanh chóng thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó những giải
pháp mang tính cơ bản là: đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng giáo dục và hoạt động tự
giáo dục của người cán bộ quản lý; tăng cường, nâng cao tính hiệu quả của công tác tổng
kết thực tiễn; phân cấp quản lý giữa trung ương địa phương để đội ngũ cán bộ lãnh
đạo quản cấp tỉnh phát huy được tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm;
chính sách cán bộ hợp nhằm đề ra những tiêu chí đánh giá, khuyến khích nâng cao
năng lực tư duy lý luận…
đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói riêng lại càng quan trọng do phải đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt tỉnh Quảng Trị nói riêng và Bắc Trung bộ nói chung đang đứng trước mâu thuẫn giữa thực trạng yếu kém, chưa ngang tầm về năng lực tư duy lý luận với những yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của thực tiễn đổi mới. Nguyên nhân yếu kém về năng lực của đội ngũ này bắt nguồn từ sự tác động tiêu cực của nhiều yếu tố. Xét về điều kiện khách quan có cả điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến chính là yếu tố sinh học, nhu cầu lợi ích, sự cố gắng nổ lực của bản thân và hoạt động thực tiễn của chủ thể. Các yếu tố này có quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, trong đó, nhân tố chủ quan là yếu tố mang tính quyết định nhất đến sự hình thành và phát triển năng lực tư duy lý luận. Trong nhân tố chủ quan, hoạt động thực tiễn chính là cơ sở sâu xa và chủ yếu nhất của năng lực tư duy lý luận. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, người cán bộ chủ chốt cấp tỉnh vùng Bắc Trung bộ phải kịp thời khắc phục hạn chế, khiếm khuyết, nâng cao năng lực tư duy lý luận. Muốn làm được điều đó phải có biện pháp tác động đồng thời lên cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó, những giải pháp trực tiếp lên nhân tố chủ quan là quan trọng nhất. Đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nhanh chóng thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có những giải pháp mang tính cơ bản là: đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng giáo dục và hoạt động tự giáo dục của người cán bộ quản lý; tăng cường, nâng cao tính hiệu quả của công tác tổng kết thực tiễn; phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương để đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh phát huy được tính năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; có chính sách cán bộ hợp lý nhằm đề ra những tiêu chí đánh giá, khuyến khích nâng cao năng lực tư duy lý luận…
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1996), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập 1,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Hoàng Chí Bảo (1988), "Từ duy kinh nghiệm tới duy luận", Thông tin
luận, (6).
3. Lê Thanh Bình (1986), “Xây dựng phong cách tư duy khoa học của người cán bộ
đảng viên theo gương Bác Hồ vĩ đại”, Triết học, (13).
4. Vũ Đình Chuyên (2000), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang, Luận
văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
5. Cục Thống kê Quảng Trị (2009), Niên giám thống kê Quảng Trị, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
6. Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn
qua 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Dương Minh Đức (2006), Nâng cao năng lực duy luận cho cán bộ lãnh đạo
chủ chốt các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án Tiến Triết học,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
12. Tô Duy Hợp (1989), “Bàn về cơ sở triết học của đổi mới tư duy ở nước ta hiện nay”,
Triết học, (1).
Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1996), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Hoàng Chí Bảo (1988), "Từ tư duy kinh nghiệm tới tư duy lý luận", Thông tin lý luận, (6). 3. Lê Thanh Bình (1986), “Xây dựng phong cách tư duy khoa học của người cán bộ đảng viên theo gương Bác Hồ vĩ đại”, Triết học, (13). 4. Vũ Đình Chuyên (2000), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 5. Cục Thống kê Quảng Trị (2009), Niên giám thống kê Quảng Trị, Nxb Thống kê, Hà Nội. 6. Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Dương Minh Đức (2006), Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 12. Tô Duy Hợp (1989), “Bàn về cơ sở triết học của đổi mới tư duy ở nước ta hiện nay”, Triết học, (1).
13. Nguyễn Hoàng Hưng (2005), Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt
người dân tộc thiểu số cấp tỉnh ở miền núi phía Bắc, luận văn thạc sĩ triết học,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
14. Nguyễn Thế Kiệt (2001), Thực trạng duy luận của cán bộ lãnh đạo, quản
nước ta hiện nay, Trong sách: "Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh", Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Nguyễn Thị Hồng Lê (2004), Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay, Luận văn
thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
16. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
17. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 9, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
18. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
19. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
20. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
21. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
22. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
23. V.I.Lênin (1984), Toàn tập, tập 37, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
24. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
25. Nguyễn Văn Linh (1987), Đổi mới duy phong cách, Nxb Sự
thật, Hà Nội.
26. Nguyễn Ngọc Long (1988), Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh
kinh nghiệm bệnh giáo điều trong quá trình đổi mới duy lý luận, Trong
sách: "Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận", Học viện Nguyễn ái
Quốc, Hà Nội.
27. Nguyễn Ngọc Long (1987), "Năng lực duy luận trong quá trình đổi mới
duy", Cộng sản, (10).
28. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. C.Mác - Phngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. C.Mác - Phngghen (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Nguyễn Hoàng Hưng (2005), Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số cấp tỉnh ở miền núi phía Bắc, luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 14. Nguyễn Thế Kiệt (2001), Thực trạng tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, quản lý nước ta hiện nay, Trong sách: "Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Nguyễn Thị Hồng Lê (2004), Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 16. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 17. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 9, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 18. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 19. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 20. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 21. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 22. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 23. V.I.Lênin (1984), Toàn tập, tập 37, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 24. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 25. Nguyễn Văn Linh (1987), Đổi mới tư duy và phong cách, Nxb Sự thật, Hà Nội. 26. Nguyễn Ngọc Long (1988), Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong quá trình đổi mới tư duy lý luận, Trong sách: "Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận", Học viện Nguyễn ái Quốc, Hà Nội. 27. Nguyễn Ngọc Long (1987), "Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy", Cộng sản, (10). 28. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. C.Mác - Phngghen (1993), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. C.Mác - Phngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Nội.
33. C.Mác - Phngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Nội.
34. C.Mác - Phngghen (1996), Toàn tập, tập 29, Nxb Chính trị quốc gia, Nội.
35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Lê Hữu Nghĩa (1992), "Quan hệ giữa lý luận và chính trị", Cộng sản, (6).
40. Thái Ninh (1988), "Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận", Cộng sản, (3).
41. Trần Văn Phòng (1994), Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đội ngũ cán bộ nước ta
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa hội, Luận án PTS Triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
42. Trần Văn Phòng (chủ biên) (2008), Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, Học viện
Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
43. Nguyễn Đa Phúc (1997), Phát triển tư duy biện chứng của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cơ sở nước ta hiện nay, Luận văn thạc Triết học, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
44. Đỗ Cao Quang (1996), Nâng cao năng lực duy luận cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã miền núi hiện nay (qua thực tế tỉnh Tuyên Quang), Luận văn Thạc
sĩ triết học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
45. Nguyễn Đăng Quang (1987), "Quan hệ giữa đổi mới nội dung phương pháp
duy", Cộng sản, (10).
46. Phạm Ngọc Quang (1994), "Yêu cầu đổi mới về năng lực trí tuệ của Đảng trong giai
đoạn hiện nay", Triết học, (2).
47. Trần Viết Quang (1996), Phát triển năng lực tư duy lý luận cho sinh viên thông qua
việc giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc
sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
31. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. C.Mác - Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 33. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. C.Mác - Ph.Ăngghen (1996), Toàn tập, tập 29, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Lê Hữu Nghĩa (1992), "Quan hệ giữa lý luận và chính trị", Cộng sản, (6). 40. Thái Ninh (1988), "Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận", Cộng sản, (3). 41. Trần Văn Phòng (1994), Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 42. Trần Văn Phòng (chủ biên) (2008), Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 43. Nguyễn Đa Phúc (1997), Phát triển tư duy biện chứng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 44. Đỗ Cao Quang (1996), Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay (qua thực tế tỉnh Tuyên Quang), Luận văn Thạc sĩ triết học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 45. Nguyễn Đăng Quang (1987), "Quan hệ giữa đổi mới nội dung và phương pháp tư duy", Cộng sản, (10). 46. Phạm Ngọc Quang (1994), "Yêu cầu đổi mới về năng lực trí tuệ của Đảng trong giai đoạn hiện nay", Triết học, (2). 47. Trần Viết Quang (1996), Phát triển năng lực tư duy lý luận cho sinh viên thông qua việc giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.