Luận văn tốt nghiệp "Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix"

5,305
934
105
34
xut khu, gây ra nhng thit thòi ln. Xut khu thi k này do kém v
cht lượng nên sc cnh tranh kém dn đến vic chúng ta phi bán cho các
nước có truyn thng xut khu go để chế biến li và tái xut, chu chi phí
trung gian cao. Qua nhiu năm, khi sn xut được ci thin, cht lượng go
đã tiến b do có nhiu ging mi và công tác chế biế
n, bo qun tt, Vit
Nam đã có nhiu loi go tt đáp ng yêu cu cnh tranh ca th trường thế
gii.
Xét v t l tm, cht lượng go xut khu ca Vit Nam có xu hướng
tăng t l go cp cao và trung bình, đồng thi gim t l go cp thp. Tuy
nhiên mc tăng không n định. Nă
m 1998, t l go cp cao là 53% tăng so
vi 41,2% trung bình 7 năm (1989-1995). Trong năm 1999, go 5-10% tm
li gim xung còn 34,78%, thp nht so vi các năm trước. D báo năm
2001 t l go theo th t cp cao, trung bình, thp ln lượt là 39%, 13,2%,
và 47,8% - mt kết qu không my kh quan cho vic đánh giá cht lượng
go xut khu da theo t l tm. Tình hình này cũng không có nghĩa ch
t
lượng go Vit Nam nói chung b tt lùi mà có th là s ng x hp lý trong
chiến thut kinh doanh xut khu ca ta căn c vào nhu cu giá c và din
biến thc tế ca th trường go thế gii. Năm 2001 là năm kinh tế toàn cu
có nhiu khó khăn, đặc bit c lượng go xut-nhp đều có nguy cơ gim so
vi năm 2000. Trong đ
iu kin giá go tăng, nhiu nước nghèo ch có th
tiêu dùng nhng loi go có cht lượng thp do sc mua hn chế, đẩy giá
go loi này tăng nhiu so vi giá go cht lượng cao. Gim t l go tm 5-
10% có th là mt ng x linh hot trong vic hoch định chính sách xut
khu ca Vit Nam nhm nâng cao hiu qu kinh doanh, đặc bit khi chúng
ta m rng th trường sang các nước châu Phi và châu Á - nhng nước có
nhiu nhu cu v go phm cp thp và trung bình. Bên cnh đó, để phù hp
vi xu hướng phát trin ca th trường thế gii, Vit Nam vn ch trương
tăng t trng go cht lượng cao nhm hướng ra th trường châu Âu, Nht và
Bc M. Mc dù nhng năm gn đây g
o có cht lượng cao ngày càng
chiếm t trng ln - mt tiến b nói chung ca ngành sn xut và xut khu
go - nhưng vn còn nhng nhược đim khác như độ trng không đồng đều,
ln thóc và tp cht, go v hè thu thường có độ m cao, bc bng, vàng ht,
t l gãy cao... Khi đánh giá cht lượng go xut khu ca nước ta, ngoài t
l tm cũng cn chú trng đến các tiêu thc khác thì mi có th có nhng kết
qu phân tích chính xác v go xut khu được.
34 xuất khẩu, gây ra những thiệt thòi lớn. Xuất khẩu ở thời kỳ này do kém về chất lượng nên sức cạnh tranh kém dẫn đến việc chúng ta phải bán cho các nước có truyền thống xuất khẩu gạo để chế biến lại và tái xuất, chịu chi phí trung gian cao. Qua nhiều năm, khi sản xuất được cải thiện, chất lượng gạo đã tiến bộ do có nhiều giống mới và công tác chế biế n, bảo quản tốt, Việt Nam đã có nhiều loại gạo tốt đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của thị trường thế giới. Xét về tỷ lệ tấm, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng tỷ lệ gạo cấp cao và trung bình, đồng thời giảm tỷ lệ gạo cấp thấp. Tuy nhiên mức tăng không ổn định. Nă m 1998, tỷ lệ gạo cấp cao là 53% tăng so với 41,2% trung bình 7 năm (1989-1995). Trong năm 1999, gạo 5-10% tấm lại giảm xuống còn 34,78%, thấp nhất so với các năm trước. Dự báo năm 2001 tỷ lệ gạo theo thứ tự cấp cao, trung bình, thấp lần lượt là 39%, 13,2%, và 47,8% - một kết quả không mấy khả quan cho việc đánh giá chất lượng gạo xuất khẩu dựa theo tỷ lệ tấm. Tình hình này cũng không có nghĩa chấ t lượng gạo Việt Nam nói chung bị tụt lùi mà có thể là sự ứng xử hợp lý trong chiến thuật kinh doanh xuất khẩu của ta căn cứ vào nhu cầu giá cả và diễn biến thực tế của thị trường gạo thế giới. Năm 2001 là năm kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn, đặc biệt cả lượng gạo xuất-nhập đều có nguy cơ giảm so với năm 2000. Trong đ iều kiện giá gạo tăng, nhiều nước nghèo chỉ có thể tiêu dùng những loại gạo có chất lượng thấp do sức mua hạn chế, đẩy giá gạo loại này tăng nhiều so với giá gạo chất lượng cao. Giảm tỷ lệ gạo tấm 5- 10% có thể là một ứng xử linh hoạt trong việc hoạch định chính sách xuất khẩu của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt khi chúng ta mở rộng thị trường sang các nước châu Phi và châu Á - những nước có nhiều nhu cầu về gạo phẩm cấp thấp và trung bình. Bên cạnh đó, để phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường thế giới, Việt Nam vẫn chủ trương tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao nhằm hướng ra thị trường châu Âu, Nhật và Bắc Mỹ. Mặc dù những năm gần đây g ạo có chất lượng cao ngày càng chiếm tỷ trọng lớn - một tiến bộ nói chung của ngành sản xuất và xuất khẩu gạo - nhưng vẫn còn những nhược điểm khác như độ trắng không đồng đều, lẫn thóc và tạp chất, gạo vụ hè thu thường có độ ẩm cao, bạc bụng, vàng hạt, tỷ lệ gãy cao... Khi đánh giá chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta, ngoài tỷ lệ tấm cũng cần chú trọng đến các tiêu thức khác thì mới có thể có những kết quả phân tích chính xác về gạo xuất khẩu được.
35
* Kim tra
Mt vn đề na cn quan tâm là vic kim tra cht lượng go Vit Nam
trước khi xut khu. Cơ quan quan trng nht ca Vit Nam trong lĩnh vc
kim tra cht lượng là Vinacontrol, cơ quan chu trách nhim kim tra ti
95% lượng go xut khu.
Tiến trình kim tra cht lượng bao gm các bước sau:
- Kim tra cht lượng kho cha go
- Ki
m tra cht lượng đóng bao
- Kim tra cht lượng trước khi xut khu
Theo kết qu nhn định ca Vinacontrol, trong xut khu go tn ti hai
vn đề chính: do cht lượng yếu kém ca các kho go dn đến tăng t l go
m mc trong mùa mưa, các kho cha phi di chuyn đến nơi khác gây khó
khăn cho vic vn chuyn go xut khu.Vi
c khc phc nhng nhược đim
v cht lượng go là mt vn đề không đơn gin. Tuy nhiên, chúng ta phi
c gng n lc tìm ra mu cht và gii quyết hp lý, nâng cao cht lượng
go, t đó tăng sn lượng và kim ngch xut khu.
2.2.1.3. Chng loi go xut khu
Trên th trường thế gii, go thường
được chia làm 6 nhóm như sau:
Nhóm go ht dài cht lượng cao ch yếu xut khu t M. Loi go này
được ưa chung th trường châu Âu, Trung Đông, Hng Kông, Singapo
và chiếm 25% th phn thế gii.
Nhóm go ht dài cht lượng trung bình. Loi go này được dùng ch
yếu trong thương mi quc tế mà khách hàng chính là các nước châu Á
và châu Phi, nhng nước cn nhp khu g
o để gii quyết vn đề thiếu
ht v go.
Nhóm go ht ngn và trung bình. Loi go này được xut khu ch yếu
sang các nước nghèo như Băng-la-đét, Sri-lan-ca, Tây Phi, n Độ
Nhóm go sy chia làm hai loi:
- Go sy có màu, cht lượng kém được tiêu dùng ch yếu trong các nước
có tng thu nhp quc dân thp.
- Go sy tr
ng, cht lượng tt. Được tiêu dùng th trường các nước phát
trin như M, châu Âu và Trung Đông.
Nhóm go đặc sn xut khu ca các nước châu Á như Thái Lan vi go
Jasmin; Vit Nam vi go Nàng Hương, Ch Đào; n Độ vi go
Basmati. Go đặc sn rt được ưa chung trên thế gii, nht là các nước
35 * Kiểm tra Một vấn đề nữa cần quan tâm là việc kiểm tra chất lượng gạo Việt Nam trước khi xuất khẩu. Cơ quan quan trọng nhất của Việt Nam trong lĩnh vực kiểm tra chất lượng là Vinacontrol, cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra tới 95% lượng gạo xuất khẩu. Tiến trình kiểm tra chất lượng bao gồm các bước sau: - Kiểm tra chất lượng kho chứa gạo - Kiể m tra chất lượng đóng bao - Kiểm tra chất lượng trước khi xuất khẩu Theo kết quả nhận định của Vinacontrol, trong xuất khẩu gạo tồn tại hai vấn đề chính: do chất lượng yếu kém của các kho gạo dẫn đến tăng tỷ lệ gạo ẩm mốc trong mùa mưa, các kho chứa phải di chuyển đến nơi khác gây khó khăn cho việc vận chuyển gạo xuất khẩu.Vi ệc khắc phục những nhược điểm về chất lượng gạo là một vấn đề không đơn giản. Tuy nhiên, chúng ta phải cố gắng nỗ lực tìm ra mấu chốt và giải quyết hợp lý, nâng cao chất lượng gạo, từ đó tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. 2.2.1.3. Chủng loại gạo xuất khẩu Trên thị trường thế giới, gạo thường được chia làm 6 nhóm như sau:  Nhóm gạo hạt dài chất lượng cao chủ yếu xuất khẩu từ Mỹ. Loại gạo này được ưa chuộng ở thị trường châu Âu, Trung Đông, Hồng Kông, Singapo và chiếm 25% thị phần thế giới.  Nhóm gạo hạt dài chất lượng trung bình. Loại gạo này được dùng chủ yếu trong thương mại quốc tế mà khách hàng chính là các nước châu Á và châu Phi, những nước cần nhập khẩu g ạo để giải quyết vấn đề thiếu hụt về gạo.  Nhóm gạo hạt ngắn và trung bình. Loại gạo này được xuất khẩu chủ yếu sang các nước nghèo như Băng-la-đét, Sri-lan-ca, Tây Phi, Ấn Độ…  Nhóm gạo sấy chia làm hai loại: - Gạo sấy có màu, chất lượng kém được tiêu dùng chủ yếu trong các nước có tổng thu nhập quốc dân thấp. - Gạo sấy tr ắng, chất lượng tốt. Được tiêu dùng ở thị trường các nước phát triển như Mỹ, châu Âu và Trung Đông.  Nhóm gạo đặc sản xuất khẩu của các nước châu Á như Thái Lan với gạo Jasmin; Việt Nam với gạo Nàng Hương, Chợ Đào; Ấn Độ với gạo Basmati. Gạo đặc sản rất được ưa chuộng trên thế giới, nhất là các nước
36
châu Âu, đồng thi cũng được tiêu th nhiu ti các thành ph giàu có
châu Á như Băng-cc, Hng-kông, Ma-ni-la...
Nhóm go nếp. Loi go này là go tiêu th hàng ngày trong khu vc
Đông Bc Thái Lan và mt vài vùng Lào, Cam-pu-chia.
Vit Nam hin nay, go xut khu ch yếu là go t ht dài, cht
lượng trung bình được sn xut hu hết t đồng bng sông Cu Long, go
h
t ngn và trung bình và go đặc sn. Trong cơ cu xut khu đó, chúng ta
vn chưa chú trng ti go đặc sn truyn thng. Hin nay trên thế gii,
nhng nước phát trin, loi go này rt được ưa chung và trong tương lai,
nhu cu v loi go này s ngày càng tăng, đem li ngun thu ln cho các
nước xut khu.
Vit Nam xut kh
u go đặc sn t lâu nhưng không thường xuyên và
vi s lượng nh nên không đem li hiu qu ln, không đủ sc cnh tranh
vi các nước khác, mc dù cht lượng tương đương. Chúng ta mi ch bước
đầu xut khu go Tám Thơm min Bc, go Nàng Hương và Ch Đào
min Nam. T năm 1992, Vit Nam đã trng go “Japonica” c
a Nht Bn
và xut khu sang nước này. Đó cũng là thành công ca Vit Nam khi đã
xâm nhp được vào th trường Nht Bn, mt th trường vn ni tiếng vi
nhng người tiêu dùng khó tính.
2.2.2. Giá c
Trong Marketing-mix, giá c là yếu t duy nht liên quan trc tiếp đến
doanh s và li nhun. Giá được biu th bng mt lượng tin nht định và là
ni dung ph
c tp đồng thi quan trng nht ca hot động kinh doanh.
Đối vi xut khu go, chính sách giá c phi hp lý để có th thu hút
các thành phn kinh tế khác nhau cùng tham gia vào kinh doanh, làm tăng
kim ngch, đem li ngun thu ln cho đất nước.
Giá xut khu go ca Vit Nam ph thuc vào nhiu yếu t khách
quan và ch quan. Nhà nước Vit Nam can thip nhiu vào giá go trên th
trường ni
địa. Tuy nhiên giá xut khu li được xác định bi quan h cung
cu trên th trường thế gii. Nhìn chung giá xut khu chu nh hưởng ca
nhiu yếu t nhưng cũng có tác động ngược li th trường th hin trên 3
khía cnh: nh hưởng ca giá ti s lượng bán, ti li nhun ca các nhà
xut khu và thu nhp ca người nông dân và nh hưở
ng ti nn kinh tế nói
chung. Nhà nước đóng mt vai trò quan trng trong vic điu tiết giá c trên
cơ s xem xét các yếu t thanh toán, cnh tranh và s phù hp vi các chiến
lược khác trong Marketing-mix.
36 châu Âu, đồng thời cũng được tiêu thụ nhiều tại các thành phố giàu có ở châu Á như Băng-cốc, Hồng-kông, Ma-ni-la...  Nhóm gạo nếp. Loại gạo này là gạo tiêu thụ hàng ngày trong khu vực Đông Bắc Thái Lan và một vài vùng ở Lào, Cam-pu-chia. Ở Việt Nam hiện nay, gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo tẻ hạt dài, chất lượng trung bình được sản xuất hầu hết từ đồng bằng sông Cửu Long, gạo h ạt ngắn và trung bình và gạo đặc sản. Trong cơ cấu xuất khẩu đó, chúng ta vẫn chưa chú trọng tới gạo đặc sản truyền thống. Hiện nay trên thế giới, ở những nước phát triển, loại gạo này rất được ưa chuộng và trong tương lai, nhu cầu về loại gạo này sẽ ngày càng tăng, đem lại nguồn thu lớn cho các nước xuất khẩu. Việt Nam xuất kh ẩu gạo đặc sản từ lâu nhưng không thường xuyên và với số lượng nhỏ nên không đem lại hiệu quả lớn, không đủ sức cạnh tranh với các nước khác, mặc dù chất lượng tương đương. Chúng ta mới chỉ bước đầu xuất khẩu gạo Tám Thơm ở miền Bắc, gạo Nàng Hương và Chợ Đào ở miền Nam. Từ năm 1992, Việt Nam đã trồng gạo “Japonica” c ủa Nhật Bản và xuất khẩu sang nước này. Đó cũng là thành công của Việt Nam khi đã xâm nhập được vào thị trường Nhật Bản, một thị trường vốn nổi tiếng với những người tiêu dùng khó tính. 2.2.2. Giá cả Trong Marketing-mix, giá cả là yếu tố duy nhất liên quan trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận. Giá được biểu thị bằng một lượng tiền nhất định và là nội dung ph ức tạp đồng thời quan trọng nhất của hoạt động kinh doanh. Đối với xuất khẩu gạo, chính sách giá cả phải hợp lý để có thể thu hút các thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia vào kinh doanh, làm tăng kim ngạch, đem lại nguồn thu lớn cho đất nước. Giá xuất khẩu gạo của Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Nhà nước Việt Nam can thiệp nhiều vào giá gạo trên thị trường nội địa. Tuy nhiên giá xuất khẩu lại được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường thế giới. Nhìn chung giá xuất khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhưng cũng có tác động ngược lại thị trường thể hiện trên 3 khía cạnh: ảnh hưởng của giá tới số lượng bán, tới lợi nhuận của các nhà xuất khẩu và thu nhập của người nông dân và ảnh hưở ng tới nền kinh tế nói chung. Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tiết giá cả trên cơ sở xem xét các yếu tố thanh toán, cạnh tranh và sự phù hợp với các chiến lược khác trong Marketing-mix.
37
Để phân tích giá xut khu go theo quan đim ca Marketing-mix,
chúng ta cn xem xét giá go trên th trường thế gii và giá bán trên th
trường trong nước, các nhân t nh hưởng đến giá go xut khu… để t đó
có nhng nhn định v giá xut khu ca go Vit Nam.
2.2.2.1. Giá go trên th trường thế gii
Giá go quc tế
Trên thế gii, tu t
ng điu kin c th ca mi nước như điu kin t
nhiên, cách thc sn xut, k thut ng dng… ca mi nước khác nhau mà
có nhng chng loi go khác nhau. Mi loi go như vy s tương ng vi
mt loi giá, to nên th trường thế gii đa dng, phong phú v giá c và cht
l
ượng. Cũng ging như các hàng hoá khác khi tung ra th trường quc tế, giá
go phi tho mãn ba điu kin căn bn: th nht, phi là giá ca nhng hp
đồng thương mi ln thông thường, trong đó các bên mua bán phi được t
do ký kết hp đồng, không b ràng buc bi nhng điu kin khác; th hai,
phi là giá thanh toán bng đồng tin t do chuyn đổi mà ch
yếu vn là
đô-la M (giá go quc tế thường tính bng đồng tin này); th ba, phi là
giá trung tâm giao dch quc tế quan trng nht. Như đã đề cp chương
I, t trước đến nay, Thái Lan vn là nước dn đầu v xut khu go. Chính
vì vy, giá go xut khu ca Thái Lan (FOB Băng-cc) được coi như giá
chun mc c
a giá quc tế, đáp ng được ba điu kin trên và phn ánh thc
cht quan h cung cu và quy lut vn động ca giá c trên th trường go
thế gii.
Đặc đim ca giá go quc tế trong nhng năm gn đây
- Giá tăng nhưng không n định
Trong thi gian qua, nhìn chung giá go quc tế tăng nhưng không n
định. Tuy nhiên nh
ng năm gn đây nht li có xu hướng gim xung. C
th là:
37 Để phân tích giá xuất khẩu gạo theo quan điểm của Marketing-mix, chúng ta cần xem xét giá gạo trên thị trường thế giới và giá bán trên thị trường trong nước, các nhân tố ảnh hưởng đến giá gạo xuất khẩu… để từ đó có những nhận định về giá xuất khẩu của gạo Việt Nam. 2.2.2.1. Giá gạo trên thị trường thế giới  Giá gạo quốc tế Trên thế giới, tuỳ từ ng điều kiện cụ thể của mỗi nước như điều kiện tự nhiên, cách thức sản xuất, kỹ thuật ứng dụng… của mỗi nước khác nhau mà có những chủng loại gạo khác nhau. Mỗi loại gạo như vậy sẽ tương ứng với một loại giá, tạo nên thị trường thế giới đa dạng, phong phú về giá cả và chất l ượng. Cũng giống như các hàng hoá khác khi tung ra thị trường quốc tế, giá gạo phải thoả mãn ba điều kiện căn bản: thứ nhất, phải là giá của những hợp đồng thương mại lớn thông thường, trong đó các bên mua bán phải được tự do ký kết hợp đồng, không bị ràng buộc bởi những điều kiện khác; thứ hai, phải là giá thanh toán bằng đồng tiền tự do chuyển đổi mà ch ủ yếu vẫn là đô-la Mỹ (giá gạo quốc tế thường tính bằng đồng tiền này); thứ ba, phải là giá ở trung tâm giao dịch quốc tế quan trọng nhất. Như đã đề cập ở chương I, từ trước đến nay, Thái Lan vẫn là nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo. Chính vì vậy, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan (FOB Băng-cốc) được coi như giá chuẩn mực củ a giá quốc tế, đáp ứng được ba điều kiện trên và phản ánh thực chất quan hệ cung cầu và quy luật vận động của giá cả trên thị trường gạo thế giới.  Đặc điểm của giá gạo quốc tế trong những năm gần đây - Giá tăng nhưng không ổn định Trong thời gian qua, nhìn chung giá gạo quốc tế tăng nhưng không ổn định. Tuy nhiên nh ững năm gần đây nhất lại có xu hướng giảm xuống. Cụ thể là:
38
Ngun: V xut nhp khu - B Thương mi
Qua biu đồ trên cho thy giá go xut khu bình quân ca thế gii cao
nht vào năm 1996 (345 USD/tn) và bt đầu gim t năm 1997. Nguyên
nhân ch yếu là mùa hè năm này, Thái Lan phá giá ni tđã làm giá go
thế gii gim mnh. Châu Á là khu vc sn xut, tiêu th go ln nht thế
gii nên khi cuc kh
ng hong tin t bao trùm các nước này làm tăng áp
lc đối vi giá c và làm gía go tiếp tc gim trong sut hai năm tiếp theo
1998, 1999.
Năm 2000 là mt năm sóng gió trên th trường go thế gii, vi nhu
cu đặc bit thp. Giá go tt c các nước xut khu đều gim do nhu cu
go ca các nước nhp khu ln như In-đô-nê-xi-a, B
ăng-la-đét, Bra-xin…
gim. Sn lượng go ca các nước này đã đạt mc cao sau hai năm mt mùa
vì biến động thi tiết và do nhng c gng h tr phát trin ngành go ca
chính ph các nước đó. Năm 2000 được đánh du bi thiên tai (lũ lt, bão
nhit đới…) din ra liên tiếp các nước sn xut go ln như Trung Quc,
Vit Nam,
n Độ và Thái Lan. Mc dù thiên tai gây nh hưởng ti sn
lượng và vic vn ti go, song ch nh hưởng cc b và ngn hn ti giá
go. Sn lượng vn bi thu song giá go nhìn chung gim, ti mc thp k
lc k t 7 năm nay.
BiÓu ®å 2.2: Gi¸ g¹o b×nh qu©n trªn thÕ giíi
trong nh÷ng n¨m qua
213
225
230
235
268
321
345
340
329
289
0
50
100
150
200
250
300
350
400
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
N¨m
GÝa g¹o (USD/tÊn)
Gi¸ g¹o
38 Nguồn: Vụ xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại Qua biểu đồ trên cho thấy giá gạo xuất khẩu bình quân của thế giới cao nhất vào năm 1996 (345 USD/tấn) và bắt đầu giảm từ năm 1997. Nguyên nhân chủ yếu là mùa hè năm này, Thái Lan phá giá nội tệ và đã làm giá gạo thế giới giảm mạnh. Châu Á là khu vực sản xuất, tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới nên khi cuộc kh ủng hoảng tiền tệ bao trùm các nước này làm tăng áp lực đối với giá cả và làm gía gạo tiếp tục giảm trong suốt hai năm tiếp theo 1998, 1999. Năm 2000 là một năm sóng gió trên thị trường gạo thế giới, với nhu cầu đặc biệt thấp. Giá gạo ở tất cả các nước xuất khẩu đều giảm do nhu cầu gạo của các nước nhập khẩu lớn như In-đô-nê-xi-a, B ăng-la-đét, Bra-xin… giảm. Sản lượng gạo của các nước này đã đạt mức cao sau hai năm mất mùa vì biến động thời tiết và do những cố gắng hỗ trợ phát triển ngành gạo của chính phủ các nước đó. Năm 2000 được đánh dấu bởi thiên tai (lũ lụt, bão nhiệt đới…) diễn ra liên tiếp ở các nước sản xuất gạo lớn như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan. Mặc dù thiên tai gây ảnh hưởng tới sản lượng và việc vận tải gạo, song chỉ ảnh hưởng cục bộ và ngắn hạn tới giá gạo. Sản lượng vẫn bội thu song giá gạo nhìn chung giảm, tới mức thấp kỷ lục kể từ 7 năm nay. BiÓu ®å 2.2: Gi¸ g¹o b×nh qu©n trªn thÕ giíi trong nh÷ng n¨m qua 213 225 230 235 268 321 345 340 329 289 0 50 100 150 200 250 300 350 400 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 N¨m GÝa g¹o (USD/tÊn) Gi¸ g¹o
39
9 tháng đầu năm 2001, th trường thế gii tiến trin khá phc tp. Giá
go tăng, gim không n định, ph thuc nhiu vào cu ca các nước nhp
khu vi mc giá trung bình d tính c năm 2001 là 223 USD/tn. Nhng
tháng đầu năm, giá go các nước xut khu chính như Vit Nam, Thái Lan
đều tăng. Tuy nhiên nhng tháng sau giá go gim dn xung do lượng cu
c
a khách hàng thp.
Theo d báo ca T chc lương thc và nông nghip Liên hp quc
(FAO), giá go trong nhng năm ti s tăng. C th là giá go da trên cơ s
go trng ca Thái Lan tăng đều trong hai năm 2001-2002 mc 240
USD/tn vào cui năm 2001, tăng lên 280 USD/tn vào năm 2002 và 290
USD/tn vào quý I / 2003.
- S thay đổi v ch s giá go cht lượng cao và th
p
Thông thường, các loi go trên thế gii thường được chia làm hai
nhóm: nhóm cht lượng cao và nhóm cht lượng thp, căn c vào các ch
tiêu v t l tm, kích thước ht, độ m, mc độ đánh bóng, t l protein…
Theo tng hp ca FAO, ch s giá cht lượng cao và thp thay đổi khác
nhau. Trước năm 1995, giá c nhóm cht lượng cao thường n định và ít
biến động h
ơn so vi nhóm cht lượng thp. Khi giá có xu hướng gim, s
biến động thường tp trung vào nhóm cht lượng thp trong khi nhóm cht
lượng cao s tăng giá nhanh hơn trong trường hp giá có xu hướng tăng.
Đin hình năm 1993, khi giá không tăng (ch s giá chung các nhóm go Ip
= 1) thì ch s giá go cht lượng cao Ip
CLC
=1,02 và ch s giá go cht
lượng thp Ip
CLT
=0,92. Năm 1994, Ip=1,14 thì Ip
CLC
=1,18 và Ip
CLT
=1,04.
Sau năm 1995, giá c ca c hai nhóm go có s thay đổi mt cách tương
đồng, có nghĩa là giá nhóm go cht lượng cao biến động không còn mc
cao hơn nhóm go cht lượng thp mà thm chí còn ngược li. Ví d năm
1995, Ip=1,29 thì Ip
CLC
=1,24 và Ip
CLT
=1,46.
Nhìn chung, qua phân tích ch s ca FAO, có th thy rng giá xut
khu ca nhóm go cht lượng cao vn thường xuyên biến động sát vi ch
s giá chung trên th trường thế gii, là căn c phn ánh tình hình biến động
giá c. Các nhà xut khu thường phn ng vi vic giá go trên th trường
tăng mnh bng cách tăng t trng nhóm go cht lượ
ng thp và gim t
trng nhóm go cht lượng cao nhm nâng cao hiu qu kinh doanh.
- S chênh lch giá gia các loi go
S đa dng phong phú v chng loi go thường dn đến nhng mc
giá khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi có nhng mc chênh lch rõ rt gia các
39 9 tháng đầu năm 2001, thị trường thế giới tiến triển khá phức tạp. Giá gạo tăng, giảm không ổn định, phụ thuộc nhiều vào cầu của các nước nhập khẩu với mức giá trung bình dự tính cả năm 2001 là 223 USD/tấn. Những tháng đầu năm, giá gạo ở các nước xuất khẩu chính như Việt Nam, Thái Lan đều tăng. Tuy nhiên những tháng sau giá gạo giảm dần xuống do lượng cầu c ủa khách hàng thấp. Theo dự báo của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), giá gạo trong những năm tới sẽ tăng. Cụ thể là giá gạo dựa trên cơ sở gạo trắng của Thái Lan tăng đều trong hai năm 2001-2002 ở mức 240 USD/tấn vào cuối năm 2001, tăng lên 280 USD/tấn vào năm 2002 và 290 USD/tấn vào quý I / 2003. - Sự thay đổi về chỉ số giá gạo chất lượng cao và thấ p Thông thường, các loại gạo trên thế giới thường được chia làm hai nhóm: nhóm chất lượng cao và nhóm chất lượng thấp, căn cứ vào các chỉ tiêu về tỷ lệ tấm, kích thước hạt, độ ẩm, mức độ đánh bóng, tỷ lệ protein… Theo tổng hợp của FAO, chỉ số giá chất lượng cao và thấp thay đổi khác nhau. Trước năm 1995, giá cả nhóm chất lượng cao thường ổn định và ít biến động h ơn so với nhóm chất lượng thấp. Khi giá có xu hướng giảm, sự biến động thường tập trung vào nhóm chất lượng thấp trong khi nhóm chất lượng cao sẽ tăng giá nhanh hơn trong trường hợp giá có xu hướng tăng. Điển hình năm 1993, khi giá không tăng (chỉ số giá chung các nhóm gạo Ip = 1) thì chỉ số giá gạo chất lượng cao Ip CLC =1,02 và chỉ số giá gạo chất lượng thấp Ip CLT =0,92. Năm 1994, Ip=1,14 thì Ip CLC =1,18 và Ip CLT =1,04. Sau năm 1995, giá cả của cả hai nhóm gạo có sự thay đổi một cách tương đồng, có nghĩa là giá nhóm gạo chất lượng cao biến động không còn ở mức cao hơn nhóm gạo chất lượng thấp mà thậm chí còn ngược lại. Ví dụ năm 1995, Ip=1,29 thì Ip CLC =1,24 và Ip CLT =1,46. Nhìn chung, qua phân tích chỉ số của FAO, có thể thấy rằng giá xuất khẩu của nhóm gạo chất lượng cao vẫn thường xuyên biến động sát với chỉ số giá chung trên thị trường thế giới, là căn cứ phản ánh tình hình biến động giá cả. Các nhà xuất khẩu thường phản ứng với việc giá gạo trên thị trường tăng mạnh bằng cách tăng tỷ trọng nhóm gạo chất lượ ng thấp và giảm tỷ trọng nhóm gạo chất lượng cao nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Sự chênh lệch giá giữa các loại gạo Sự đa dạng phong phú về chủng loại gạo thường dẫn đến những mức giá khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi có những mức chênh lệch rõ rệt giữa các
40
loi go có cùng thi gian, cùng điu kin giao hàng cùng trung tâm giao
dch dù mc chênh lch này không hoàn toàn ging nhau nhng thi đim
khác nhau. Ví d như mc giá chênh lch gia các khách hàng khác nhau.
Khách hàng ln, làm ăn lâu dài thường được hưởng mc giá ưu đãi, thp
hơn so vi khách hàng nh, giao dch ln đầu. Nhà xut khu cũng có th ưu
tiên v giá và các điu kin khác như cp tín d
ng cho các nhà nhp khu
vi khi lượng ln, theo hp đồng dài hn.
Bên cnh đó, go cùng chng loi cũng có th có giá khác nhau vì được
xut khu t các nước khác nhau. Nhìn chung, do ph thuc vào cht lượng
và nhng yếu t khác chi phi, giá go xut khu ca Thái Lan thp hơn ca
M nhưng li thường cao hơn các nước khác như Vit Nam, n Độ
Giá go th
ơm đặc sn thường cao hơn nhiu so vi giá go đại trà. So
vi giá go đại trà có phm cp trung bình (20% tm) thì giá go thơm đặc
sn xut khu thường gp ti gn 3 ln do cht lượng hơn hn. Hơn na, giá
go thơm đặc sn ca các nước cũng khác nhau. Ví d như go thơm đặc sn
ca Thái Lan thường được khách hàng mế
n m hơn so vi go cùng loi ca
n Độ, Pakistan
2.2.2.2. Chi phí sn xut và giá lúa trong nước
Chi phí sn xut
Nhìn chung, chi phí sn xut go Vit Nam không cao, đặc bit khi so
sánh vi giá thành ca Thái Lan, khi phân tích điu kin sn xut, đất đai, t
l din tích được tưới tiêu, năng sut và giá các yếu t đầu vào, cho thy
Vit Nam r hơn so vi Thái Lan
Bng 2.3. So sánh chi phí sn xut go Vit Nam và Thái Lan
STT Ch tiêu Vit Nam Thái Lan
1 Xăng (lít) 0,35 USD 0,40 USD
2 Du D.O (lít) 0,26 USD 0,30 USD
3 Đin (kW/h) 0,064 USD 0,82 USD
Ngun: Nguyn Đình Long. Tp chí thương mi s 6/2000
Theo tính toán ca tiến sĩ Nguyn Đình Long, vin phó Vin Kinh tế
nông nghip, ước tính chi phí sn xut 1 kg lúa ca Vit Nam là 1250-1600
VNĐ, tương đương 0,83-107 USD/tn, thp hơn so vi giá thành ca Thái
Lan là 105-110 USD/tn. Xét trên góc độ chi phí: chi phí cho yếu t đầu vào
40 loại gạo có cùng thời gian, cùng điều kiện giao hàng ở cùng trung tâm giao dịch dù mức chênh lệch này không hoàn toàn giống nhau ở những thời điểm khác nhau. Ví dụ như mức giá chênh lệch giữa các khách hàng khác nhau. Khách hàng lớn, làm ăn lâu dài thường được hưởng mức giá ưu đãi, thấp hơn so với khách hàng nhỏ, giao dịch lần đầu. Nhà xuất khẩu cũng có thể ưu tiên về giá và các điều kiện khác như cấp tín dụ ng cho các nhà nhập khẩu với khối lượng lớn, theo hợp đồng dài hạn. Bên cạnh đó, gạo cùng chủng loại cũng có thể có giá khác nhau vì được xuất khẩu từ các nước khác nhau. Nhìn chung, do phụ thuộc vào chất lượng và những yếu tố khác chi phối, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan thấp hơn của Mỹ nhưng lại thường cao hơn các nước khác như Việt Nam, Ấn Độ… Giá gạo th ơm đặc sản thường cao hơn nhiều so với giá gạo đại trà. So với giá gạo đại trà có phẩm cấp trung bình (20% tấm) thì giá gạo thơm đặc sản xuất khẩu thường gấp tới gần 3 lần do chất lượng hơn hẳn. Hơn nữa, giá gạo thơm đặc sản của các nước cũng khác nhau. Ví dụ như gạo thơm đặc sản của Thái Lan thường được khách hàng mế n mộ hơn so với gạo cùng loại của Ấn Độ, Pakistan 2.2.2.2. Chi phí sản xuất và giá lúa trong nước  Chi phí sản xuất Nhìn chung, chi phí sản xuất gạo ở Việt Nam không cao, đặc biệt khi so sánh với giá thành của Thái Lan, khi phân tích điều kiện sản xuất, đất đai, tỷ lệ diện tích được tưới tiêu, năng suất và giá các yếu tố đầu vào, cho thấy ở Việt Nam rẻ hơn so với Thái Lan Bảng 2.3. So sánh chi phí sản xuất gạo ở Việt Nam và Thái Lan STT Chỉ tiêu Việt Nam Thái Lan 1 Xăng (lít) 0,35 USD 0,40 USD 2 Dầu D.O (lít) 0,26 USD 0,30 USD 3 Điện (kW/h) 0,064 USD 0,82 USD Nguồn: Nguyễn Đình Long. Tạp chí thương mại số 6/2000 Theo tính toán của tiến sĩ Nguyễn Đình Long, viện phó Viện Kinh tế nông nghiệp, ước tính chi phí sản xuất 1 kg lúa của Việt Nam là 1250-1600 VNĐ, tương đương 0,83-107 USD/tấn, thấp hơn so với giá thành của Thái Lan là 105-110 USD/tấn. Xét trên góc độ chi phí: chi phí cho yếu tố đầu vào
41
ca ta thp hơn song ta li đạt được năng sut lúa cao hơn. Đây là li thế
cnh tranh ln trên th trường go quc tế.
trong nước, chi phí sn xut lúa ca đồng bng sông Hng cao hơn
nhiu so vi sn xut lúa đồng bng sông Cu Long, to ra r chênh lch
đáng k và khó khăn trong vic cân đối giá go gia hai vùng. Ví d như
nă
m 1997, chi phí sn xut lúa đồng bng sông Hng là 1500 đ/kg trong
khi đồng bng sông Cu Long ch có 1100 đ/kg – mt khong cách không
nh trong giá thành sn xut.
Giá lúa trong nước
Giá lúa trong nước tăng đều t năm 1989 và đạt mc cao nht vào năm
1998. Theo s liu ca hip hi XNK lương thc Vit Nam, giá lúa ca các
năm t 1989 đến 2000 ln lượt như sau (tính bng đồng Vit Nam):
Bng 2.4. Giá lúa Vit Nam qua các năm
Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Giá 916 967 1193 975 1097 1111 1693 1578 1447 1650 1380 1144
Chênh
lch
0 51 226 -281 122 4 572 -115 -131 203 -270 -236
Ngun: Hip hi XNK Vit Nam
Do t giá hi đoái VNĐ/USD cũng tăng nên tính li theo din biến ca
t giá này thì giá lúa trong nước ca Vit Nam li gn như n định. Giá lúa
đạt cao nht vào năm 1995, xp x 1700 đ/kg, sau đó là năm 1998. Giá lúa
bình quân năm 2000 cũng ch bng 1140, khong 70% so vi năm 1998.
Năm 2001, giá lúa trong nước không n định và nhiu mc khác nhau. Giá
bình quân mua ca người cung c
p t 1250-1300 đ/kg, giá mua thp nht
tnh An Giang t 1102-1200 đồng, cao nht là tnh Long An vi 1388 đồng.
Phân tích mi quan h gia giá go trong nước và giá go trên th trường
quc tế nhm mc đích để hiu đưọc h thng Marketing đẩy mnh xut
khu go nước ta. Năm 1989, Vit Nam tr thành nước xut khu go vi
cht lượng g
o kém phm cht. Là mt nước bước đầu hot động trên th
trường go thế gii, Vit Nam vn còn khá xa l vi nhng quy lut ca th
trường này. Hơn chc năm qua, vi nhng kinh nghim tích t được, vi
vic ci tiến cht lượng go và thiết lp các mi quan h bn hàng quc tế đã
đưa Vit Nam tr thành m
t nước xut khu go ln. Mi quan h gia giá
41 của ta thấp hơn song ta lại đạt được năng suất lúa cao hơn. Đây là lợi thế cạnh tranh lớn trên thị trường gạo quốc tế. Ở trong nước, chi phí sản xuất lúa của đồng bằng sông Hồng cao hơn nhiều so với sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra rự chênh lệch đáng kể và khó khăn trong việc cân đối giá gạo giữa hai vùng. Ví dụ như nă m 1997, chi phí sản xuất lúa ở đồng bằng sông Hồng là 1500 đ/kg trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 1100 đ/kg – một khoảng cách không nhỏ trong giá thành sản xuất.  Giá lúa trong nước Giá lúa trong nước tăng đều từ năm 1989 và đạt mức cao nhất vào năm 1998. Theo số liệu của hiệp hội XNK lương thực Việt Nam, giá lúa của các năm từ 1989 đến 2000 lần lượt như sau (tính bằng đồng Việt Nam): Bảng 2.4. Giá lúa Việt Nam qua các năm Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Giá 916 967 1193 975 1097 1111 1693 1578 1447 1650 1380 1144 Chênh lệch 0 51 226 -281 122 4 572 -115 -131 203 -270 -236 Nguồn: Hiệp hội XNK Việt Nam Do tỷ giá hối đoái VNĐ/USD cũng tăng nên tính lại theo diễn biến của tỷ giá này thì giá lúa trong nước của Việt Nam lại gần như ổn định. Giá lúa đạt cao nhất vào năm 1995, xấp xỉ 1700 đ/kg, sau đó là năm 1998. Giá lúa bình quân năm 2000 cũng chỉ bằng 1140, khoảng 70% so với năm 1998. Năm 2001, giá lúa trong nước không ổn định và ở nhiều mức khác nhau. Giá bình quân mua của người cung c ấp từ 1250-1300 đ/kg, giá mua thấp nhất ở tỉnh An Giang từ 1102-1200 đồng, cao nhất là tỉnh Long An với 1388 đồng. Phân tích mối quan hệ giữa giá gạo trong nước và giá gạo trên thị trường quốc tế nhằm mục đích để hiểu đưọc hệ thống Marketing đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở nước ta. Năm 1989, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo với chất lượng g ạo kém phẩm chất. Là một nước bước đầu hoạt động trên thị trường gạo thế giới, Việt Nam vẫn còn khá xa lạ với những quy luật của thị trường này. Hơn chục năm qua, với những kinh nghiệm tích tụ được, với việc cải tiến chất lượng gạo và thiết lập các mối quan hệ bạn hàng quốc tế đã đưa Việt Nam trở thành m ột nước xuất khẩu gạo lớn. Mối quan hệ giữa giá
42
go trong nước và giá go trên th trường quc tế cũng phn ánh rõ nét
nhng thay đổi trong thi k này.
2.2.2.3. Các nhân t nh hưởng đến giá go xut khu ca Vit Nam
Khi Vit Nam xut khu go ra th trường thế gii, có rt nhiu nhân t
tác động, nh hưởng không nh ti giá c mt hàng này trong đó có nhng
nhân t lâu dài, tm thi, có nhân t t nhiên, xã h
i, nhân t kinh tế, chính
tr...
Quan h cung cu
Cũng như tt c các hàng hoá khác, quan h cung-cu nh hưởng trc
tiếp đến giá go xut khu ca Vit Nam. Go là ngun lương thc thiết yếu,
chi phi đời sng ca rt đông dân s trên toàn cu, đặc bit châu Á. Khi
Vit Nam bt đầu xut khu go t nhng n
ăm đầu thp k 90, s lượng go
xut khu liên tc tăng. Tuy nhiên giá c go ca Vit Nam trên th trường
thế gii không ph thuc vào lượng go xut ra mà b nh hưởng bi s
lượng nhp khu ca các nước tiêu th ln ca go Vit Nam. Mô hình sau
th hin rõ mi quan h gia thu nhp, sn lượng ca g
o
Sơ đồ 2.1. Mi quan h gia thu nhp và sn lượng ca go
Ngun: Tp chí "Nghiên cu kinh tế", tháng 8/2001
Thc tế cho thy, sn lượng go liên tc gia tăng t năm 1990 đến nay
bt chp có s thay đổi v giá go. Qua mô hình trên, quy ước tng cung go
trong dài hn là mt đường thng đứng đi gn vi sn lượng tim năng và
không ph thuc vào giá c (LAS). Khi tng cu (AD) thay đổi thì giá c
thay đổi, có nghĩa là khi các nước nh
p khu go gim s lượng nhp khu
thì giá go thế gii cũng biến động và gim xung t P
1
xung P
2
. Giá go
xut khu ca Vit Nam do nh hưởng ca giá go thế gii cũnh gim xung
theo.
AD1
A
D2
LAS
P
P1
P2
42 gạo trong nước và giá gạo trên thị trường quốc tế cũng phản ánh rõ nét những thay đổi trong thời kỳ này. 2.2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam Khi Việt Nam xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới, có rất nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới giá cả mặt hàng này trong đó có những nhân tố lâu dài, tạm thời, có nhân tố tự nhiên, xã hộ i, nhân tố kinh tế, chính trị...  Quan hệ cung cầu Cũng như tất cả các hàng hoá khác, quan hệ cung-cầu ảnh hưởng trực tiếp đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Gạo là nguồn lương thực thiết yếu, chi phối đời sống của rất đông dân số trên toàn cầu, đặc biệt ở châu Á. Khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo từ những n ăm đầu thập kỷ 90, số lượng gạo xuất khẩu liên tục tăng. Tuy nhiên giá cả gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới không phụ thuộc vào lượng gạo xuất ra mà bị ảnh hưởng bởi số lượng nhập khẩu của các nước tiêu thụ lớn của gạo Việt Nam. Mô hình sau thể hiện rõ mối quan hệ giữa thu nhập, sản lượng của gạ o Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ giữa thu nhập và sản lượng của gạo Nguồn: Tạp chí "Nghiên cứu kinh tế", tháng 8/2001 Thực tế cho thấy, sản lượng gạo liên tục gia tăng từ năm 1990 đến nay bất chấp có sự thay đổi về giá gạo. Qua mô hình trên, quy ước tổng cung gạo trong dài hạn là một đường thẳng đứng đi gần với sản lượng tiềm năng và không phụ thuộc vào giá cả (LAS). Khi tổng cầu (AD) thay đổi thì giá cả thay đổi, có nghĩa là khi các nước nhậ p khẩu gạo giảm số lượng nhập khẩu thì giá gạo thế giới cũng biến động và giảm xuống từ P 1 xuống P 2 . Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam do ảnh hưởng của giá gạo thế giới cũnh giảm xuống theo. AD1 A D2 LAS P P1 P2
43
Nhân t thi v
Thi v sn xut và thu hoch lúa go gn lin vi nhng biến động
ca cung-cu và giá go qua các tháng ca năm. Vit Nam, thi đim giá
go vào đỉnh cao trong năm không phi thi đim xut khu nhiu, nhưng
lúc xut khu nhiu li thường là lúc giá c go xung thp.
Nhìn chung, s
lượng xut khu go thường mang tính chu k, th hin
mc tăng gim: c mi giai đon 2 đến 3 tháng khi lượng xut khu tăng
mnh thì đến giai đon lượng xut khu gim. Thi đim xut khu mnh li
tp trung vào các thành mùa khô, nht là trong thi v đông xuân, lúc giá
lúa, go tương đối thp. Chu k sn lượng g
o tăng gim này ph thuc ch
yếu vào thi tiết, khí hu ca Vit Nam. Mi khi thiên tai, mt mùa nghiêm
trng thường làm thay đổi giá. Nhng thay đổi đó chi phi quy lut sn xut
và xut khu go ca Vit Nam trong nhiu năm qua. Chính vì tính chu k
ca sn lượng go nên giá c lúa go, bao gm giá lúa trong nước và giá go
xut khu cũng mang tính chu k. Đồng bng sông Cu Long là v
a lúa ca
c nước nên giá lúa go Vit Nam gn lin vi cơ cu mùa v và chu k xut
khu ca khu vc này. Nhu cu nhp khu ca khách hàng nước ngoài nh
hưởng trc tiếp đến quy lut trên. Các nhà nhp khu đã li dng đặc thù sn
xut lúa go ca Vit Nam mong mun giá gim có li nht cho h. Thông
thường vào thi đim xu
t khu go nhiu nht thì giá gn như không bao
gi mc cao nht và ngược li, khi giá cao nht thì s lượng xut khu
không nhiu. Điu này gây thit hi không nh đối vi tng kim ngch xut
khu go ca Vit Nam.
Để gii quyết vn đề, Chính ph ch trương cho các doanh nghip mua
go tm tr t nông dân trong lúc lượng cung dư tha và giá gi
m. Đến lúc
giá go trên thế gii tăng mi tung lượng go d tr ra th trường nhm bán
được giá cao nht. Tuy nhiên vn còn nhiu bt cp trong vic thc hin ch
trương này. C th là năm 2001, sau v thu hoch đông xuân, giá lúa h
xung thp ph biến t 1100-1150 đồng. Các doanh nghip do UBND tnh
ch định được ưu tiên vay vn không lãi trong thi hn 6 tháng để mua đủ
1
triu tn go vi giá sàn quy định là 1300 đ/kg lúa. Khi giá go nhích lên
vào tháng 5 và tăng nhanh trong tháng 8, Chính ph bt đầu ch th cho các
doanh nghip tung hàng ra bán nhưng mi được biết rng, lượng go d tr
không đủ 1 triu tn như đã giao ch tiêu. Lý do là các doanh nghip thy giá
lúa tăng chm, s l nên không mua nhiu, không hoàn thành kế hoch và
không thc hin các bước đi mà Chính ph ch th.
43  Nhân tố thời vụ Thời vụ sản xuất và thu hoạch lúa gạo gắn liền với những biến động của cung-cầu và giá gạo qua các tháng của năm. Ở Việt Nam, thời điểm giá gạo ở vào đỉnh cao trong năm không phải thời điểm xuất khẩu nhiều, nhưng lúc xuất khẩu nhiều lại thường là lúc giá cả gạo xuống thấp. Nhìn chung, số lượng xuất khẩu gạo thường mang tính chu kỳ, thể hiện ở mức tăng giảm: cứ mỗi giai đoạn 2 đến 3 tháng khi lượng xuất khẩu tăng mạnh thì đến giai đoạn lượng xuất khẩu giảm. Thời điểm xuất khẩu mạnh lại tập trung vào các thành mùa khô, nhất là trong thời vụ đông xuân, lúc giá lúa, gạo tương đối thấp. Chu kỳ sản lượng gạ o tăng giảm này phụ thuộc chủ yếu vào thời tiết, khí hậu của Việt Nam. Mỗi khi thiên tai, mất mùa nghiêm trọng thường làm thay đổi giá. Những thay đổi đó chi phối quy luật sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong nhiều năm qua. Chính vì tính chu kỳ của sản lượng gạo nên giá cả lúa gạo, bao gồm giá lúa trong nước và giá gạo xuất khẩu cũng mang tính chu kỳ. Đồng bằng sông Cửu Long là vự a lúa của cả nước nên giá lúa gạo Việt Nam gắn liền với cơ cấu mùa vụ và chu kỳ xuất khẩu của khu vực này. Nhu cầu nhập khẩu của khách hàng nước ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến quy luật trên. Các nhà nhập khẩu đã lợi dụng đặc thù sản xuất lúa gạo của Việt Nam mong muốn giá giảm có lợi nhất cho họ. Thông thường vào thời điểm xuấ t khẩu gạo nhiều nhất thì giá gần như không bao giờ ở mức cao nhất và ngược lại, khi giá cao nhất thì số lượng xuất khẩu không nhiều. Điều này gây thiệt hại không nhỏ đối với tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam. Để giải quyết vấn đề, Chính phủ chủ trương cho các doanh nghiệp mua gạo tạm trữ từ nông dân trong lúc lượng cung dư thừa và giá gi ảm. Đến lúc giá gạo trên thế giới tăng mới tung lượng gạo dự trữ ra thị trường nhằm bán được giá cao nhất. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực hiện chủ trương này. Cụ thể là năm 2001, sau vụ thu hoạch đông xuân, giá lúa hạ xuống thấp phổ biến từ 1100-1150 đồng. Các doanh nghiệp do UBND tỉnh chỉ định được ưu tiên vay vốn không lãi trong thời hạn 6 tháng để mua đủ 1 triệu tấn gạo với giá sàn quy định là 1300 đ/kg lúa. Khi giá gạo nhích lên vào tháng 5 và tăng nhanh trong tháng 8, Chính phủ bắt đầu chỉ thị cho các doanh nghiệp tung hàng ra bán nhưng mới được biết rằng, lượng gạo dự trữ không đủ 1 triệu tấn như đã giao chỉ tiêu. Lý do là các doanh nghiệp thấy giá lúa tăng chậm, sợ lỗ nên không mua nhiều, không hoàn thành kế hoạch và không thực hiện các bước đi mà Chính phủ chỉ thị.