Luận văn thạc sỹ kinh tế: Năng lực tài chính của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn hội nhập WTO thực trạng và giải pháp

1,496
887
116
55
Năm 2007, ngân hàng đã thực hiện thành công việc kiểm soát chất lượng tín
dụng xử lý nợ xấu như: đánh giá khách hàng và phân loại nợ chính xác theo
thông lệ quốc tế (nhờ việc tiếp tục triển khai hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ với việc mở rộng đối tượng xếp hạng từ những khách hàng doanh
nghiệp có nợ trên 5 tỷ VND (năm 2006) đến toàn bộ khách hàng doanh nghiệp
(năm 2007); kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng tới từng khoản vay, từng khách
hàng; hạn chế cho vay những khách hàng nợ xấu; tích cực đôn đốc thu hồi nợ
xấu; xử tài sản đảm bảo để thu hồi nợ; cơ cấu lại các khoản nợ, xử rủi ro
bán nợ. Kết quả, tất cả các nhóm nợ dưới chuẩn đều giảm mạnh, thể hiện chi tiết
qua bảng 2.6 dưới đây:
Bảng 2.6 : Kết quả phân loại nợ của BIDV theo IFRS qua các năm 2005 - 2007
Đơn vị tính: tỷ VND
Chỉ tiêu
31/12/2005
31/12/2006
31/12/2007
Dƣ nợ
Tỷ trọng
(%)
Dƣ nợ
Tỷ trọng
(%)
Dƣ nợ
Tỷ trọng
(%)
Tổng dƣ nợ
76.174
90.581
119.559
Nhóm 1
17.330
22,75
49.138
54,24
86.798
72,62
Nhóm 2
34.999
45,95
32.753
36,16
28.005
23,4
Nợ xấu
23.844
31,3
8.689
9,6
4756
3,98
Nhóm 3
15.993
21
6.232
6,88
3427
2,87
Nhóm 4
4.045
5,31
333
0,37
212
0,17
Nhóm 5
3806
4,99
2.124
2,35
1117
0,94
Nguồn: Báo cáo kiểm toán BIDV các năm 2005-2007
(*): Tổng nợ không bao gồm các khoản cho vay ODA, cho vay theo chỉ
định của nhà nước và nợ khoanh
Tỷ lệ nợ xấu thời điểm 31/12/2007 theo báo cáo kiểm toán là 3,98%. So sánh
tỷ lệ nợ xấu của năm 2007 với tỷ lệ nợ xấu năm 2005 (31,3%) và năm 2006 (9,6%)
có thể thấy được nỗ lực cũng như hiệu quả trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng,
55 Năm 2007, ngân hàng đã thực hiện thành công việc kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu như: đánh giá khách hàng và phân loại nợ chính xác theo thông lệ quốc tế (nhờ việc tiếp tục triển khai và hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với việc mở rộng đối tượng xếp hạng từ những khách hàng doanh nghiệp có dư nợ trên 5 tỷ VND (năm 2006) đến toàn bộ khách hàng doanh nghiệp (năm 2007); kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng tới từng khoản vay, từng khách hàng; hạn chế cho vay những khách hàng có nợ xấu; tích cực đôn đốc thu hồi nợ xấu; xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ; cơ cấu lại các khoản nợ, xử lý rủi ro và bán nợ. Kết quả, tất cả các nhóm nợ dưới chuẩn đều giảm mạnh, thể hiện chi tiết qua bảng 2.6 dưới đây: Bảng 2.6 : Kết quả phân loại nợ của BIDV theo IFRS qua các năm 2005 - 2007 Đơn vị tính: tỷ VND Chỉ tiêu 31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007 Dƣ nợ Tỷ trọng (%) Dƣ nợ Tỷ trọng (%) Dƣ nợ Tỷ trọng (%) Tổng dƣ nợ 76.174 90.581 119.559 Nhóm 1 17.330 22,75 49.138 54,24 86.798 72,62 Nhóm 2 34.999 45,95 32.753 36,16 28.005 23,4 Nợ xấu 23.844 31,3 8.689 9,6 4756 3,98 Nhóm 3 15.993 21 6.232 6,88 3427 2,87 Nhóm 4 4.045 5,31 333 0,37 212 0,17 Nhóm 5 3806 4,99 2.124 2,35 1117 0,94 Nguồn: Báo cáo kiểm toán BIDV các năm 2005-2007 (*): Tổng dư nợ không bao gồm các khoản cho vay ODA, cho vay theo chỉ định của nhà nước và nợ khoanh Tỷ lệ nợ xấu thời điểm 31/12/2007 theo báo cáo kiểm toán là 3,98%. So sánh tỷ lệ nợ xấu của năm 2007 với tỷ lệ nợ xấu năm 2005 (31,3%) và năm 2006 (9,6%) có thể thấy được nỗ lực cũng như hiệu quả trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng,
56
xử lý nợ xấu, làm sạch bảng cân đối của ngân hàng. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều tỷ lệ
trung bình của các ngân hàng quốc doanh (6%) [2]. Như vậy, ngân hàng bước đầu
đã đạt được thành công trong công tác quản lý tín dụng theo thông lệ quốc tế.
Tuy tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh và cao hơn mức trung bình của toàn hệ thống
(6%) nhưng cao hơn một số ngân hàng cổ phần lớn trong nước (Ngân hàng Á Châu
0,1%; Ngân hàng Kỹ Thương 1,4%; …) và còn cao hơn nhiều so với mức 0,06%
của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam [2], [23]. Mặt khác, một điều
cần lưu ý nợ cần chú ý đặc biệt đã giảm mạnh 14,5% so với năm 2006 vẫn
chiếm tỷ trọng cao (23,4%). Nhóm này sẽ nguy rơi xuống các nhóm nợ xấu
nếu điều kiện thị trường bị biến động. Dẫu vậy, với nỗ lực tăng cường kiểm soát tín
dụng mạnh mẽ của toàn hệ thống, khả năng đạt được tỷ lệ như mong muốn hoàn
toàn nằm trong khả năng của ngân hàng. Kết quả về nợ xấu giảm đáng kể trong năm
qua phần nào thể hiện hướng đi đúng đắn của ngân hàng trong quản rủi ro, nâng
cao chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Ngoài ra, việc trích lập dự phòng rủi ro của BIDV ngày càng được chú trọng
giữ ở tỷ lệ khá đảm bảo. Tỷ lệ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng/tổng nợ xấu theo
IFRS đạt 134%, với mức dự phòng rủi ro như vậy có thể yên tâm về mức độ bù đắp
cho các khoản nợ xấu trong trường hợp xấu nhất là các khoản nợ xấu này không thu
hồi được. Mặt khác, từ cuối năm 2006, BIDV bắt đầu trích lập dự phòng cho các
khoản nợ xấu thuộc nợ cho vay theo chính sách mặc dù các khoản nợ này đã được
đảm bảo hỗ trợ từ phía chính phủ. Điều này cho thấy mức độ quan tâm đối với việc
hạn chế rủi ro tín dụng của Ban lãnh đạo ngân hàng. Tuy nhiên, nếu xét cả nợ nhóm
2 - nhóm nợ tuy không thuộc nhóm nợ xấu nhưng sẽ có nguy cơ xấu đi trong trường
hợp nền kinh tế gặp khó khăn thì tỷ lệ Quỹ dự phòng/Nợ có vấn đề (bao gồm nợ
từ nhóm 2 đến nhóm 5) chỉ đạt 21,46% - tỷ lệ này là chưa đủ và không đảm bảo an
toàn đối với rủi ro tín dụng. Mặc 73% các khoản nợ của ngân hàng là có tài sản
đảm bảo, nhưng với hệ thống luật pháp còn yếu, chưa chặt chẽ như hiện nay thì việc
thu hồi được toàn bộ các tài sản đảm bảo là không dễ dàng.
56 xử lý nợ xấu, làm sạch bảng cân đối của ngân hàng. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều tỷ lệ trung bình của các ngân hàng quốc doanh (6%) [2]. Như vậy, ngân hàng bước đầu đã đạt được thành công trong công tác quản lý tín dụng theo thông lệ quốc tế. Tuy tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh và cao hơn mức trung bình của toàn hệ thống (6%) nhưng cao hơn một số ngân hàng cổ phần lớn trong nước (Ngân hàng Á Châu 0,1%; Ngân hàng Kỹ Thương 1,4%; …) và còn cao hơn nhiều so với mức 0,06% của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam [2], [23]. Mặt khác, một điều cần lưu ý là nợ cần chú ý đặc biệt dù đã giảm mạnh 14,5% so với năm 2006 vẫn chiếm tỷ trọng cao (23,4%). Nhóm này sẽ có nguy cơ rơi xuống các nhóm nợ xấu nếu điều kiện thị trường bị biến động. Dẫu vậy, với nỗ lực tăng cường kiểm soát tín dụng mạnh mẽ của toàn hệ thống, khả năng đạt được tỷ lệ như mong muốn hoàn toàn nằm trong khả năng của ngân hàng. Kết quả về nợ xấu giảm đáng kể trong năm qua phần nào thể hiện hướng đi đúng đắn của ngân hàng trong quản lý rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, việc trích lập dự phòng rủi ro của BIDV ngày càng được chú trọng và giữ ở tỷ lệ khá đảm bảo. Tỷ lệ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng/tổng nợ xấu theo IFRS đạt 134%, với mức dự phòng rủi ro như vậy có thể yên tâm về mức độ bù đắp cho các khoản nợ xấu trong trường hợp xấu nhất là các khoản nợ xấu này không thu hồi được. Mặt khác, từ cuối năm 2006, BIDV bắt đầu trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu thuộc nợ cho vay theo chính sách mặc dù các khoản nợ này đã được đảm bảo hỗ trợ từ phía chính phủ. Điều này cho thấy mức độ quan tâm đối với việc hạn chế rủi ro tín dụng của Ban lãnh đạo ngân hàng. Tuy nhiên, nếu xét cả nợ nhóm 2 - nhóm nợ tuy không thuộc nhóm nợ xấu nhưng sẽ có nguy cơ xấu đi trong trường hợp nền kinh tế gặp khó khăn – thì tỷ lệ Quỹ dự phòng/Nợ có vấn đề (bao gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5) chỉ đạt 21,46% - tỷ lệ này là chưa đủ và không đảm bảo an toàn đối với rủi ro tín dụng. Mặc dù 73% các khoản nợ của ngân hàng là có tài sản đảm bảo, nhưng với hệ thống luật pháp còn yếu, chưa chặt chẽ như hiện nay thì việc thu hồi được toàn bộ các tài sản đảm bảo là không dễ dàng.
57
Theo đánh giá của tác giả thì chất lượng tài sản của ngân hàng còn khá yếu,
xét trên bình diện trong nước thì Hạng 3 dưới mức thỏa đáng, ngân hàng cần
giám sát và cải thiện hơn nữa. Tuy nhiên, xét theo bình diện quốc tế thì tổ chức định
hạng Moody’s xếp chất lượng tài sản của BIDV ở mức kém nhất (mức E) do quan
ngại về tỷ lệ nợ nhóm 2 của ngân hàng. Do vậy, ngân hàng cần tiếp tục giải quyết
triệt để vấn đề nợ xấu và đặc biệt là nợ nhóm 2.
2.2.2.3. Khả năng quản lý
Phấn đấu có năng lực tài chính mạnh thôi chưa đủviệc quản, điu hành
việc khai thác các ngun lực tài chính đó nhm đạt hiệu qu cao nhất cũng một
thách thức không nh không ch vi BIDV mà vi bất k ngân hàng nào.
Về khả năng quản lý điều hành chung các nguồn lực tài chính, cũng như các
ngân hàng quốc doanh khác, năng lực quản trị điều hành của BIDV còn nhiều hạn
chế, do đặc điểm của cơ chế quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại
đây, với xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực thế giới, BIDV đang nỗ lực
chuyển đổi từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế quản lý theo hướng một ngân hàng hiện đại,
kết quả tháng 8/2008, BIDV đã chính thức chuyển đổi hình tổ chức theo
hướng một NHTM đa năng, hoạt động đa ngành, kinh doanh đa lĩnh vực, gồm 7 khối
chức năng với bộ phận kinh doanh và bộ phận tác nghiệp riêng.
Theo đó, mô hình này giải quyết được hạn chế trước đây về việc không tách
bạch giữa vai trò quản của Hội đồng quản trị chức năng điều hành của Ban
điều hành; sự chồng chéo hoặc không ràng trong chức năng nhiệm v của các
Ban phòng hội sở chính; quản phi tập trung, các chi nhánh hoạt động như một
ngân hàng con, không đảm bảo hạn chế rủi ro. Với hình chuyển đổi này, mọi
hoạt động của ngân hàng sẽ được quản tập trung tại hội sở chính, các phòng ban
tại hội sở chính và chi nhánh được phân cấp theo chiều dọc, theo sản phẩm
khách hàng. Hội đồng quản trị Ban điều hành sẽ thuận lợi hơn trong việc giám
sát điều hành các hoạt động của Ngân hàng. Theo đó, việc điều hành các hoạt
động kinh doanh nhm đảm bo kim soát các ch tiêu tài chính s thuận lợi và sát
sao hơn nhiu. Ví d như ch tiêu v t l n xu, mô hình mới đã giúp hạn chế việc
57 Theo đánh giá của tác giả thì chất lượng tài sản của ngân hàng còn khá yếu, xét trên bình diện trong nước thì ở Hạng 3 là dưới mức thỏa đáng, ngân hàng cần giám sát và cải thiện hơn nữa. Tuy nhiên, xét theo bình diện quốc tế thì tổ chức định hạng Moody’s xếp chất lượng tài sản của BIDV ở mức kém nhất (mức E) do quan ngại về tỷ lệ nợ nhóm 2 của ngân hàng. Do vậy, ngân hàng cần tiếp tục giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu và đặc biệt là nợ nhóm 2. 2.2.2.3. Khả năng quản lý Phấn đấu có năng lực tài chính mạnh thôi chưa đủ mà việc quản lý, điều hành việc khai thác các nguồn lực tài chính đó nhằm đạt hiệu quả cao nhất cũng là một thách thức không nhỏ không chỉ với BIDV mà với bất kỳ ngân hàng nào. Về khả năng quản lý điều hành chung các nguồn lực tài chính, cũng như các ngân hàng quốc doanh khác, năng lực quản trị điều hành của BIDV còn nhiều hạn chế, do đặc điểm của cơ chế quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, với xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, BIDV đang nỗ lực chuyển đổi từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế quản lý theo hướng một ngân hàng hiện đại, kết quả là tháng 8/2008, BIDV đã chính thức chuyển đổi mô hình tổ chức theo hướng một NHTM đa năng, hoạt động đa ngành, kinh doanh đa lĩnh vực, gồm 7 khối chức năng với bộ phận kinh doanh và bộ phận tác nghiệp riêng. Theo đó, mô hình này giải quyết được hạn chế trước đây về việc không tách bạch giữa vai trò quản lý của Hội đồng quản trị và chức năng điều hành của Ban điều hành; sự chồng chéo hoặc không rõ ràng trong chức năng nhiệm vụ của các Ban phòng hội sở chính; quản lý phi tập trung, các chi nhánh hoạt động như một ngân hàng con, không đảm bảo hạn chế rủi ro. Với mô hình chuyển đổi này, mọi hoạt động của ngân hàng sẽ được quản lý tập trung tại hội sở chính, các phòng ban tại hội sở chính và chi nhánh được phân cấp theo chiều dọc, theo sản phẩm và khách hàng. Hội đồng quản trị và Ban điều hành sẽ thuận lợi hơn trong việc giám sát và điều hành các hoạt động của Ngân hàng. Theo đó, việc điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo kiểm soát các chỉ tiêu tài chính sẽ thuận lợi và sát sao hơn nhiều. Ví dụ như chỉ tiêu về tỷ lệ nợ xấu, mô hình mới đã giúp hạn chế việc
58
hoạt động phi tập trung, các chi nhánh hoạt động như một ngân hàng con dẫn đến
một tỷ lệ lớn trong nợ xấu tại ngân hàng bắt nguồn từ các khoản vay tại cấp chi
nhánh. Đây được coi bước tiến lớn của BIDV trên con đường hội nhập với nền
kinh tế thế giới.
Cơ chế quản lý rủi ro nhm đảm bo nguồn vốn được s dụng, khai thác một
cách an toàn cũng đã được chú trọng phát trin. BIDV ngân hàng đi đầu và duy
nhất trong các NHTM Việt Nam có bộ máy quản lý rủi ro chuyên biệt. Theo mô hình
mới, chức năng quản lý rủi ro được phân về hai Ban: Ban Quản lý rủi ro tín dụng tập
trung vào quản lý rủi ro tín dụng, Ban Quản lý rủi ro phi tín dụng chuyên về quản lý
rủi ro thị trường và tác nghiệp. Các quy định, chính sách, quy trình của hoạt động quản
lý rủi ro luôn được chú trọng quy chuẩn, nâng cấp, cải tiến cho phù hợp với từng thời
kỳ và đảm bảo tính độc lập giữa các khối Kinh doanh (front office), Quản rủi ro
(middle office) và Quản trị (back office). BIDV là ngân hàng thương mại quốc doanh
đầu tiên thiết lập một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Hệ thống này đã làm giảm
rõ rệt thẩm quyền phê duyệt tín dụng cấp chi nhánh.
Bên cạnh đó, Hội đồng quản Tài sản Nợ - (ALCO) đã được phát huy
với nhiệm vụ đánh giá mức độ rủi ro của danh mục tài sản trên bảng tổng kết tài sản
và giám sát việc tuân thủ các hạn mức quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư của hệ
thống BIDV, đồng thời một ban chuyên phục vụ hỗ trợ ALCO trong việc đánh
giá và thực hiện các quyết định của ALCO.Thêm vào đó, BIDV vẫn đang phát triển
cấu quản rủi ro cũng như hệ thống kỹ năng thông tin trước khi mở rộng
phạm vi ra ngoài những khách hàng nền tảng hiện tại. Mục tiêu của BIDV ngăn
chặn nợ xấu phát sinh và mở rộng hệ thống quản lý rủi ro nhằm tiến tới đáp ứng các
tiêu chuẩn quốc tế và quản lý rủi ro phù hợp với các nguyên tắc của Basel 2 vào năm
2010.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát khả năng thanh khoản
s tn vong ca ngân hàng, quản lý thanh khoản cũng được ngân hàng chú trọng
ngày càng hoàn thiện với đơn vị chịu trách nhiệm chính về đảm bảo thanh khoản của
cả hệ thống là hội đồng ALCO. ALCO chịu trách nhiệm thường xuyên giám sát tình
58 hoạt động phi tập trung, các chi nhánh hoạt động như một ngân hàng con dẫn đến một tỷ lệ lớn trong nợ xấu tại ngân hàng bắt nguồn từ các khoản vay tại cấp chi nhánh. Đây được coi là bước tiến lớn của BIDV trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới. Cơ chế quản lý rủi ro nhằm đảm bảo nguồn vốn được sử dụng, khai thác một cách an toàn cũng đã được chú trọng phát triển. BIDV là ngân hàng đi đầu và duy nhất trong các NHTM Việt Nam có bộ máy quản lý rủi ro chuyên biệt. Theo mô hình mới, chức năng quản lý rủi ro được phân về hai Ban: Ban Quản lý rủi ro tín dụng tập trung vào quản lý rủi ro tín dụng, và Ban Quản lý rủi ro phi tín dụng chuyên về quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp. Các quy định, chính sách, quy trình của hoạt động quản lý rủi ro luôn được chú trọng quy chuẩn, nâng cấp, cải tiến cho phù hợp với từng thời kỳ và đảm bảo tính độc lập giữa các khối Kinh doanh (front office), Quản lý rủi ro (middle office) và Quản trị (back office). BIDV là ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên thiết lập một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Hệ thống này đã làm giảm rõ rệt thẩm quyền phê duyệt tín dụng cấp chi nhánh. Bên cạnh đó, Hội đồng quản lý Tài sản Nợ - Có (ALCO) đã được phát huy với nhiệm vụ đánh giá mức độ rủi ro của danh mục tài sản trên bảng tổng kết tài sản và giám sát việc tuân thủ các hạn mức quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư của hệ thống BIDV, đồng thời có một ban chuyên phục vụ hỗ trợ ALCO trong việc đánh giá và thực hiện các quyết định của ALCO.Thêm vào đó, BIDV vẫn đang phát triển cơ cấu quản lý rủi ro cũng như hệ thống và kỹ năng thông tin trước khi mở rộng phạm vi ra ngoài những khách hàng nền tảng hiện tại. Mục tiêu của BIDV là ngăn chặn nợ xấu phát sinh và mở rộng hệ thống quản lý rủi ro nhằm tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và quản lý rủi ro phù hợp với các nguyên tắc của Basel 2 vào năm 2010. Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát khả năng thanh khoản vì sự tồn vong của ngân hàng, quản lý thanh khoản cũng được ngân hàng chú trọng và ngày càng hoàn thiện với đơn vị chịu trách nhiệm chính về đảm bảo thanh khoản của cả hệ thống là hội đồng ALCO. ALCO chịu trách nhiệm thường xuyên giám sát tình
59
trạng thanh khoản của ngân hàng (kim soát các ch tiêu đo lường mức độ rủi ro
thanh khoản ca ngân hàng), quy định các hạn mức, giới hạn thanh khoản đồng thời
đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro thanh khoản.
Việc qun lý các nguồn lực tài chính hiệu qu còn ph thuộc vào việc ngân
hàng có đo lường, xác định được các ngun lực đó hay không, do vậy công tác kim
toán, kim tra nội b và minh bạch hoá là vô cùng quan trọng. Báo cáo tài chính của
BIDV hiện nay đã được chuẩn hóa theo cả hai chuẩn mực VAS IFRS được
kiểm toán quốc tế trong hơn 12 năm qua. Điều này đặc biệt có ý nghĩa do có sự khác
biệt giữa VAS và IFRS dẫn đến khác biệt đáng kể giữa tình hình tài chính và kết quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng báo cáo theo VAS và theo IFRS. Sự khác biệt
giữa VAS và IFRS làm tăng thời gian và chi phí cho các đối tác nước ngoài khi thực
hiện các giao dịch với các ngân hàng Việt Nam nói chung, BIDV nói riêng vì họ
xu hướng tìm hiểu phân tích các chênh lệch đó. Ngoài ra, sự khác biệt cũng
khiến lãnh đạo các ngân hàng lúng túng trong quá trình phân tích hiện trạng tài
chính, cũng như việc xây dựng định hướng, chiến lược kinh doanh, dự báo về kế
hoạch lãi lỗ, tăng trưởng tài sản các chỉ số tài chính khác của ngân hàng. Việc
thực hiện báo cáo tài chính theo cả hai chuẩn mực đã giúp BIDV có những đánh giá
toàn diện hơn về tình hình tài chính của ngân hàng, đồng thời việc báo cáo tài chính
theo IFRS cũng đòi hỏi BIDV phải xây dựng được hệ thống quản trị thông tin, các
quy trình quản lý rủi ro và thông tin tiên tiến.
Ngoài ra, BIDV cũng doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam thực hiện xếp
hạng tín nhiệm của tổ chức định hạng quốc tế Moody's từ năm 2006. Thông qua việc
mời tổ chức định hạng quốc tế Moody’s, BIDV đã xác định năng lực hiện tại của
ngân hàng, từ đó biết được những điểm mạnh, những điểm còn hạn chế còn tồn tại.
Đồng thời, bên cạnh những đánh giá chi tiết, tổ chức định hạng cũng đã đưa ra
những khuyến nghị BIDV cần làm để có thể nâng cao được năng lực của ngân hàng.
Đây chính là những thông tin quý báu giúp ngân hàng xác định được mục tiêu phấn
59 trạng thanh khoản của ngân hàng (kiểm soát các chỉ tiêu đo lường mức độ rủi ro thanh khoản của ngân hàng), quy định các hạn mức, giới hạn thanh khoản đồng thời đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro thanh khoản. Việc quản lý các nguồn lực tài chính hiệu quả còn phụ thuộc vào việc ngân hàng có đo lường, xác định được các nguồn lực đó hay không, do vậy công tác kiểm toán, kiểm tra nội bộ và minh bạch hoá là vô cùng quan trọng. Báo cáo tài chính của BIDV hiện nay đã được chuẩn hóa theo cả hai chuẩn mực VAS và IFRS và được kiểm toán quốc tế trong hơn 12 năm qua. Điều này đặc biệt có ý nghĩa do có sự khác biệt giữa VAS và IFRS dẫn đến khác biệt đáng kể giữa tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng báo cáo theo VAS và theo IFRS. Sự khác biệt giữa VAS và IFRS làm tăng thời gian và chi phí cho các đối tác nước ngoài khi thực hiện các giao dịch với các ngân hàng Việt Nam nói chung, BIDV nói riêng vì họ có xu hướng tìm hiểu và phân tích các chênh lệch đó. Ngoài ra, sự khác biệt cũng khiến lãnh đạo các ngân hàng lúng túng trong quá trình phân tích hiện trạng tài chính, cũng như việc xây dựng định hướng, chiến lược kinh doanh, dự báo về kế hoạch lãi lỗ, tăng trưởng tài sản và các chỉ số tài chính khác của ngân hàng. Việc thực hiện báo cáo tài chính theo cả hai chuẩn mực đã giúp BIDV có những đánh giá toàn diện hơn về tình hình tài chính của ngân hàng, đồng thời việc báo cáo tài chính theo IFRS cũng đòi hỏi BIDV phải xây dựng được hệ thống quản trị thông tin, các quy trình quản lý rủi ro và thông tin tiên tiến. Ngoài ra, BIDV cũng là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam thực hiện xếp hạng tín nhiệm của tổ chức định hạng quốc tế Moody's từ năm 2006. Thông qua việc mời tổ chức định hạng quốc tế Moody’s, BIDV đã xác định năng lực hiện tại của ngân hàng, từ đó biết được những điểm mạnh, những điểm còn hạn chế còn tồn tại. Đồng thời, bên cạnh những đánh giá chi tiết, tổ chức định hạng cũng đã đưa ra những khuyến nghị BIDV cần làm để có thể nâng cao được năng lực của ngân hàng. Đây chính là những thông tin quý báu giúp ngân hàng xác định được mục tiêu phấn
60
đấu. Hơn nữa, các báo cáo thường niên của Ngân hàng luôn cung cấp những thông
tin thiết yếu về giá trị tài sản, phân bổ các luồng vốn, thu nhập phân tích kinh
doanh của ngân hàng. Điều này cho thấy việc quản thông tin, đảm bảo sự minh
bạch hoá của BIDV là rất tốt. BIDV đã hoàn thành dự án hiện đại hoá, mọi thông tin
liên quan đến khách hàng được quản lý tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống góp
phần phục vụ có hiệu quả theo yêu cầu của các cấp điều hành.
Tuy nhiên, đã những nỗ lực rất lớn song công tác quản nguồn vốn
của ngân hàng còn nhiều hạn chế. Đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý mặc dù có tư
duy cởi mở, tương đối linh hoạt trong điều hành kinh doanh nhưng công tác quản lý
còn chưa thực sự mang tính chuyên nghiệp. Việc kiểm soát huy động khai thác
nguồn vốn vẫn chưa thực sự toàn diện hiệu quả. Ngoài ra, quan hệ sở hữu giữa
Nhà nước và công ty nhà nước còn quá phức tạp, nhiều đầu mối đại diện chủ sở hữu
và thẩm quyền thiếu sự tách bạch, nên nhiều quyết định kinh doanh b hành chính
hoá dẫn đến chậm tiến độ hoặc mất thời kinh doanh. Đó chính là những rào cản
cho việc nâng cao chất lượng quản lý không chỉ đối với BIDV mà còn với các ngân
hàng quốc doanh khác.
Xét về phương diện trong nước, tác giả đánh giá khả năng quảncủa ngân
hàng ở mức 3 mức chưa thỏa đáng, tuy chưa đến mức yếu kém do đánh giá cao
nhận thức các biện pháp thực hiện nhằm chuyển đổi ngân hàng thành một ngân
hàng hiện đại, có năng lực tài chính mạnh mẽ vươn tới hội nhập khu vực và trên thế
giới. Tuy nhiên, phía công ty định hạng vẫn xếp khả năng quản lý của BIDV ở mức
D (theo thang điểm giảm dần A, B, C, D, E) do quan ngại về sự can thiệp của nhà
nước trong công tác quản lý.
2.2.2.4. Khả năng sinh lời
Năm 2007 năm hoạt động kinh doanh của BIDV đã đạt kết quả khả
quan mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
60 đấu. Hơn nữa, các báo cáo thường niên của Ngân hàng luôn cung cấp những thông tin thiết yếu về giá trị tài sản, phân bổ các luồng vốn, thu nhập và phân tích kinh doanh của ngân hàng. Điều này cho thấy việc quản lý thông tin, đảm bảo sự minh bạch hoá của BIDV là rất tốt. BIDV đã hoàn thành dự án hiện đại hoá, mọi thông tin liên quan đến khách hàng được quản lý tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống góp phần phục vụ có hiệu quả theo yêu cầu của các cấp điều hành. Tuy nhiên, dù đã có những nỗ lực rất lớn song công tác quản lý nguồn vốn của ngân hàng còn nhiều hạn chế. Đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý mặc dù có tư duy cởi mở, tương đối linh hoạt trong điều hành kinh doanh nhưng công tác quản lý còn chưa thực sự mang tính chuyên nghiệp. Việc kiểm soát huy động và khai thác nguồn vốn vẫn chưa thực sự toàn diện và hiệu quả. Ngoài ra, quan hệ sở hữu giữa Nhà nước và công ty nhà nước còn quá phức tạp, nhiều đầu mối đại diện chủ sở hữu và thẩm quyền thiếu sự tách bạch, nên nhiều quyết định kinh doanh bị hành chính hoá dẫn đến chậm tiến độ hoặc mất thời cơ kinh doanh. Đó chính là những rào cản cho việc nâng cao chất lượng quản lý không chỉ đối với BIDV mà còn với các ngân hàng quốc doanh khác. Xét về phương diện trong nước, tác giả đánh giá khả năng quản lý của ngân hàng ở mức 3 là mức chưa thỏa đáng, tuy chưa đến mức yếu kém do đánh giá cao nhận thức và các biện pháp thực hiện nhằm chuyển đổi ngân hàng thành một ngân hàng hiện đại, có năng lực tài chính mạnh mẽ vươn tới hội nhập khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, phía công ty định hạng vẫn xếp khả năng quản lý của BIDV ở mức D (theo thang điểm giảm dần A, B, C, D, E) do quan ngại về sự can thiệp của nhà nước trong công tác quản lý. 2.2.2.4. Khả năng sinh lời Năm 2007 là năm mà hoạt động kinh doanh của BIDV đã đạt kết quả khả quan dù mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
61
Bảng 2.7 : Lợi nhuận qua các năm của BIDV
Đơn vị: triệu VND
Chỉ tiêu
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng thu nhập từ hoạt
động kinh doanh
1.856.219
2.784.009
4.098.343
4.862.422
7.794.275
Chênh lệch thu - chi trước
Dự phòng rủi ro
1.194.279
1.933.205
2.772.566
3.119.407
5.409.454
Lợi nhuận thuần trong
năm
361.079
610.173
559.993
1.075.878
1.529.509
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007
Bảng 2.7 cho thấy lợi nhuận cả trước sau khi trích dự phòng rủi ro của
BIDV đều tăng cao. Năm 2007, lợi nhuận thuần của ngân hàng đạt 1.539 tỷ VND,
tăng gần 1,5 lần so với năm 2006. Mặc phải tăng trích dự phòng theo yêu cầu
của NHNN tại Điều 9 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nhưng ngân hàng vẫn
duy trì được tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận mức cao. Điều này bước đầu cho
thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Các chỉ tiêu ROaA, ROaE phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng, cũng
có những biến động tích cực, thể hiện tại Hình 2.8 dưới đây.
Hình 2.8 : Diễn biến chỉ số ROaA và ROaE của BIDV giai đoạn 2003-2007
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007
61 Bảng 2.7 : Lợi nhuận qua các năm của BIDV Đơn vị: triệu VND Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh 1.856.219 2.784.009 4.098.343 4.862.422 7.794.275 Chênh lệch thu - chi trước Dự phòng rủi ro 1.194.279 1.933.205 2.772.566 3.119.407 5.409.454 Lợi nhuận thuần trong năm 361.079 610.173 559.993 1.075.878 1.529.509 Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007 Bảng 2.7 cho thấy lợi nhuận cả trước và sau khi trích dự phòng rủi ro của BIDV đều tăng cao. Năm 2007, lợi nhuận thuần của ngân hàng đạt 1.539 tỷ VND, tăng gần 1,5 lần so với năm 2006. Mặc dù phải tăng trích dự phòng theo yêu cầu của NHNN tại Điều 9 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nhưng ngân hàng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận ở mức cao. Điều này bước đầu cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các chỉ tiêu ROaA, ROaE – phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng, cũng có những biến động tích cực, thể hiện tại Hình 2.8 dưới đây. Hình 2.8 : Diễn biến chỉ số ROaA và ROaE của BIDV giai đoạn 2003-2007 Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007
62
Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROaE) có mức tăng
ấn tượng trong các m, đặc biệt trong hai năm 2006 và 2007 là hai năm ngân
hàng nỗ lực phát triển để hội nhập. Cụ thể, trước năm 2005, ROaE chỉ ở mức một
con số (2005 là 3,7%) thì năm 2006 là 14,23% và đặc biệt năm 2007 con số này lên
tới 25,01%, lần đầu tiên vượt mức yêu cầu của thông lệ quốc tế. So với các ngân
hàng quốc doanh khác, con số này cũng rất ấn tượng (Ngân hàng Ngoại Thương
Việt Nam là 19,35%; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn 12,9%), đồng
thời cũng cao hơn so với mức trung bình của các ngân hàng cổ phần (14,6%). [Phụ
lục bảng thống kê số liệu].
Tương tự như ROaE, tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản bình quân
(ROaA) cũng tăng đều qua các năm, đạt 0,89% năm 2007, mức tăng cao nhất trong
6 năm trở lại đây. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp hơn mức bình quân của các ngân
hàng cổ phần (2,4%) và thấp hơn mức thông lệ quốc tế.
Lãi cận biên ròng (NIM) của ngân hàng ng mức khá (năm 2007 đạt
3,07%). Tuy nhiên, thu nhập của BIDV chủ yếu bắt nguồn từ thu nhập lãi (chiếm
tới hơn 80% tổng thu nhập). Nguồn thu này tiềm ẩn yếu tổ rủi ro trong trường hợp
thị trường có nhiều yếu tố bất lợi, đơn cử như giai đoạn nửa đầu 2008 khi các
ngân hàng phải tăng mạnh lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong
khi lãi suất cho vay chịu trần quy định của NHNN. Do vậy, NIM cũng bị ảnh hưởng
đáng kể và theo đó thu nhập từ lãi cũng bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, khả năng sinh
lời của ngân hàng còn chịu ảnh hưởng do ngân hàng cho vay các dự án lớn, dài hạn,
trong đó nhiều dự án là không hiệu quả, lãi suất thấp. Ngoài ra, ngân hàng còn phải
tăng trích dự phòng cho các khoản thua lỗ. Tuy nhiên, trong một số năm trở lại đây,
đặc biệt trong năm 2007, BIDV đã đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ, đa
dạng hóa nguồn thu. Theo đó, năm 2007, thu nhập phi lãi tăng hơn 2 lần so với năm
2007 và cao hơn tốc độ tăng của thu nhập lãi.
62 Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROaE) có mức tăng ấn tượng trong các năm, đặc biệt là trong hai năm 2006 và 2007 là hai năm ngân hàng nỗ lực phát triển để hội nhập. Cụ thể, trước năm 2005, ROaE chỉ ở mức một con số (2005 là 3,7%) thì năm 2006 là 14,23% và đặc biệt năm 2007 con số này lên tới 25,01%, lần đầu tiên vượt mức yêu cầu của thông lệ quốc tế. So với các ngân hàng quốc doanh khác, con số này cũng rất ấn tượng (Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam là 19,35%; Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn 12,9%), đồng thời cũng cao hơn so với mức trung bình của các ngân hàng cổ phần (14,6%). [Phụ lục bảng thống kê số liệu]. Tương tự như ROaE, tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản bình quân (ROaA) cũng tăng đều qua các năm, đạt 0,89% năm 2007, mức tăng cao nhất trong 6 năm trở lại đây. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp hơn mức bình quân của các ngân hàng cổ phần (2,4%) và thấp hơn mức thông lệ quốc tế. Lãi cận biên ròng (NIM) của ngân hàng cũng ở mức khá (năm 2007 đạt 3,07%). Tuy nhiên, thu nhập của BIDV chủ yếu bắt nguồn từ thu nhập lãi (chiếm tới hơn 80% tổng thu nhập). Nguồn thu này tiềm ẩn yếu tổ rủi ro trong trường hợp thị trường có nhiều yếu tố bất lợi, đơn cử như giai đoạn nửa đầu 2008 khi mà các ngân hàng phải tăng mạnh lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong khi lãi suất cho vay chịu trần quy định của NHNN. Do vậy, NIM cũng bị ảnh hưởng đáng kể và theo đó thu nhập từ lãi cũng bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, khả năng sinh lời của ngân hàng còn chịu ảnh hưởng do ngân hàng cho vay các dự án lớn, dài hạn, trong đó nhiều dự án là không hiệu quả, lãi suất thấp. Ngoài ra, ngân hàng còn phải tăng trích dự phòng cho các khoản thua lỗ. Tuy nhiên, trong một số năm trở lại đây, đặc biệt là trong năm 2007, BIDV đã đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ, đa dạng hóa nguồn thu. Theo đó, năm 2007, thu nhập phi lãi tăng hơn 2 lần so với năm 2007 và cao hơn tốc độ tăng của thu nhập lãi.
63
Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu sinh lời và hiệu quả (theo IFRS) giai đoạn 2003 - 2007
Chỉ tiêu
2003
2004
2005
2006
2007
Thu nhập lãi ròng/Tổng
thu nhập hoạt động KD
70,18%
61,61%
91,05%
80,42%
81,23%
Lãi cận biên ròng (NIM)
2,19
2,77
3,38
2,73
3,07
Chi phí hoạt động/Tổng
thu nhập hoạt động KD
34,37%
31,21%
34,77%
36,59%
33,64%
Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007
Các chỉ số về hiệu quả hoạt động của BIDV là khá tốt. Qua 5 năm, chỉ số Chi
phí hoạt động/Tổng thu nhập hoạt động luôn mức dưới 35%. Nếu theo VAS thì
con số này năm 2007 còn xuống mức 30,59%, thấp hơn nhiều so với mức trung
bình của các NHTM quốc doanh (42,2%) [Phụ lục bảng thống kê số liệu]. Hiện nay,
với nhiều ngân hàng Việt Nam, chỉ tiêu này sẽ nguy tăng cao do các ngân
hàng đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ, mở rộng mạng lưới để nâng cao thị phần.
Việc BIDV vẫn giữ được việc tăng chi phí ở mức độ hợp lý là điểm mạnh của ngân
hàng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn
do hội nhập, BIDV sẽ phải tiếp tục đầu tư chi phí vào việc hiện đại hóa ngân hàng,
mở rộng mạng lưới và đầu tư vào nhân lực, thì việc quản lý chi phí sẽ là một áp lực
lớn đối với ngân hàng.
Khả năng sinh lời của ngân hàng đã được cải thiện và ở mức khá tốt, tác giả
xếp mức 2 mức thỏa đáng đủ hỗ trợ cho các hoạt động của ngân hàng.
Moody’s cũng đánh giá cao khả năng sinh lời của BIDV với điểm B cho khả năng
sinh lời và A cho hiệu quả hoạt động.
2.2.2.5. Khả năng thanh khoản
Về cơ cấu tài sản thanh khoản , BIDV có bảng cân đối kế toán có tính thanh
khoản tương đối tốt. cấu tài sản thanh khoản/Tổng tài sản (trong đó TS thanh
khoản được tính bằng Tiền mặt + Tiền gửi NHNN + Tiền gửi trên thị trường liên
ngân hàng + Chứng khoán Chính phủ) vào cuối năm 2007 chiếm 31% tổng tài sản
46% tiền gửi khách hàng. Tỷ lệ này k tốt và phản ánh cơ cấu tài sản của
ngân hàng khá “lỏng”. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2008 là thời điểm nền kinh
63 Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu sinh lời và hiệu quả (theo IFRS) giai đoạn 2003 - 2007 Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Thu nhập lãi ròng/Tổng thu nhập hoạt động KD 70,18% 61,61% 91,05% 80,42% 81,23% Lãi cận biên ròng (NIM) 2,19 2,77 3,38 2,73 3,07 Chi phí hoạt động/Tổng thu nhập hoạt động KD 34,37% 31,21% 34,77% 36,59% 33,64% Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2003-2007 Các chỉ số về hiệu quả hoạt động của BIDV là khá tốt. Qua 5 năm, chỉ số Chi phí hoạt động/Tổng thu nhập hoạt động luôn ở mức dưới 35%. Nếu theo VAS thì con số này năm 2007 còn xuống mức 30,59%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các NHTM quốc doanh (42,2%) [Phụ lục bảng thống kê số liệu]. Hiện nay, với nhiều ngân hàng Việt Nam, chỉ tiêu này sẽ có nguy cơ tăng cao do các ngân hàng đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ, mở rộng mạng lưới để nâng cao thị phần. Việc BIDV vẫn giữ được việc tăng chi phí ở mức độ hợp lý là điểm mạnh của ngân hàng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn do hội nhập, BIDV sẽ phải tiếp tục đầu tư chi phí vào việc hiện đại hóa ngân hàng, mở rộng mạng lưới và đầu tư vào nhân lực, thì việc quản lý chi phí sẽ là một áp lực lớn đối với ngân hàng. Khả năng sinh lời của ngân hàng đã được cải thiện và ở mức khá tốt, tác giả xếp ở mức 2 là mức thỏa đáng và đủ hỗ trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Moody’s cũng đánh giá cao khả năng sinh lời của BIDV với điểm B cho khả năng sinh lời và A cho hiệu quả hoạt động. 2.2.2.5. Khả năng thanh khoản Về cơ cấu tài sản thanh khoản , BIDV có bảng cân đối kế toán có tính thanh khoản tương đối tốt. Cơ cấu tài sản thanh khoản/Tổng tài sản (trong đó TS thanh khoản được tính bằng Tiền mặt + Tiền gửi NHNN + Tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng + Chứng khoán Chính phủ) vào cuối năm 2007 chiếm 31% tổng tài sản và 46% tiền gửi khách hàng. Tỷ lệ này là khá tốt và phản ánh cơ cấu tài sản của ngân hàng khá “lỏng”. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2008 là thời điểm nền kinh
64
tế vĩ mô có nhiều biến động, Chính phủ áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ, thì
các ngân hàng, đặc biệt các NHTM cổ phần đã bộc lộ những khó khăn về khả
năng thanh khoản, thể hiện qua việc tăng liên tục và tăng cao của lãi suất huy động
tiền gửi và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Cơ cấu tài sản thanh khoản/Tổng
tài sản của các ngân hàng đã giảm rõ rệt, trung bình giảm từ 33,2% cuối năm 2007
xuống còn 19,9% tháng 6/2008 [Phụ lục bảng thống kê số liệu], trong khi đó, BIDV
vẫn giữ được khả năng thanh khoản tương đối tốt với tỷ lệ 30%.
thể nói, được sự ổn định về thanh khoản trong bối cảnh nhiều ngân
hàng gặp khó khăn một phần nhờ vị thế của một ngân hàng lớn cùng với chính
sách quản lý thanh khoản hợp lý. Công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng ngày
càng được chú trọng hoàn thiện với hội đồng ALCO chịu trách nhiệm chính về
đảm bảo thanh khoản của cả hệ thống. Ngân hàng đã tuân thủ đúng quy định của
NHNN về dự trữ bắt buộc, tỷ lệ về khả năng chi trả, quản lý tốt dòng tiền ra, vào, của
hệ thống. Bên cạnh đó, cơ chế tập trung tại hội sở chính giúp ngân hàng quản lý được
tình trạng thanh khoản thặng dư hay thiếu hụt. Theo đó, tỷ lệ khe hở thanh khoản lũy
kế (tài sản có đến hạn – tài sản nợ đến hạn/tổng tài sản) luôn trong biên độ cho phép
+/- 3% theo quy định của ALCO.
Rủi ro thanh khoản của BIDV tuy có tăng so với năm 2006 nhưng vẫn ở mức
chấp nhận được. Tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi của BIDV luôn duy trì mức
dưới 100%, cụ thể:
Bảng 2.10: Tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi của một số NHTM 2006 - 2007
Ngân hàng
2006
2007
1. BIDV
92,6%
97,5%
2. Vietcombank
56,6%
66%
3. Công thương
80,4%
95,8%
4. Nông nghiệp
119,2%
109,4%
5. Nhà đồng bằng SCL
202%
140,1%
Trung bình NHTM quốc doanh
110,2%
101,8%
Trung bình NHTM cổ phần
132,56%
Nguồn: Phụ lục bảng thống kê số liệu, báo cáo phân tích ngành ngân hàng
của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt - 2008
64 tế vĩ mô có nhiều biến động, Chính phủ áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ, thì các ngân hàng, đặc biệt là các NHTM cổ phần đã bộc lộ những khó khăn về khả năng thanh khoản, thể hiện qua việc tăng liên tục và tăng cao của lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Cơ cấu tài sản thanh khoản/Tổng tài sản của các ngân hàng đã giảm rõ rệt, trung bình giảm từ 33,2% cuối năm 2007 xuống còn 19,9% tháng 6/2008 [Phụ lục bảng thống kê số liệu], trong khi đó, BIDV vẫn giữ được khả năng thanh khoản tương đối tốt với tỷ lệ 30%. Có thể nói, có được sự ổn định về thanh khoản trong bối cảnh nhiều ngân hàng gặp khó khăn một phần là nhờ vị thế của một ngân hàng lớn cùng với chính sách quản lý thanh khoản hợp lý. Công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng ngày càng được chú trọng và hoàn thiện với hội đồng ALCO chịu trách nhiệm chính về đảm bảo thanh khoản của cả hệ thống. Ngân hàng đã tuân thủ đúng quy định của NHNN về dự trữ bắt buộc, tỷ lệ về khả năng chi trả, quản lý tốt dòng tiền ra, vào, của hệ thống. Bên cạnh đó, cơ chế tập trung tại hội sở chính giúp ngân hàng quản lý được tình trạng thanh khoản thặng dư hay thiếu hụt. Theo đó, tỷ lệ khe hở thanh khoản lũy kế (tài sản có đến hạn – tài sản nợ đến hạn/tổng tài sản) luôn trong biên độ cho phép +/- 3% theo quy định của ALCO. Rủi ro thanh khoản của BIDV tuy có tăng so với năm 2006 nhưng vẫn ở mức chấp nhận được. Tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi của BIDV luôn duy trì ở mức dưới 100%, cụ thể: Bảng 2.10: Tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi của một số NHTM 2006 - 2007 Ngân hàng 2006 2007 1. BIDV 92,6% 97,5% 2. Vietcombank 56,6% 66% 3. Công thương 80,4% 95,8% 4. Nông nghiệp 119,2% 109,4% 5. Nhà đồng bằng SCL 202% 140,1% Trung bình NHTM quốc doanh 110,2% 101,8% Trung bình NHTM cổ phần 132,56% Nguồn: Phụ lục bảng thống kê số liệu, báo cáo phân tích ngành ngân hàng của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt - 2008