Luận văn thạc sỹ kinh tế: Năng lực tài chính của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam giai đoạn hội nhập WTO thực trạng và giải pháp

1,533
887
116
35
Thứ hai, hội nhập là động lực quan trọng giúp các ngân hàng thương mại Việt
Nam nâng cao năng lực. Các ngân hàng Việt Nam được tham gia vào một sân chơi
kinh doanh bình đẳng và mang tính chuyên nghiệp cao. Sự cạnh tranh giữa các ngân
hàng diễn ra ngày càng khốc liệt, đặc biệt sau năm 2010. Sự can thiệp của Nhà
nước vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng sẽ ngày càng giảm và sự bảo hộ sẽ
không còn nữa. Các ngân hàng tồn tại bằng chính "đôi chân khối óc" của mình.
Nhà nước chủ yếu chỉ quản lý ở tầm vĩ mô thông qua cơ chế chính sách. Chính bối
cảnh đó sẽ tạo ra cho các ngân hàng Việt Nam sự năng động trong hoạt động kinh
doanh hay có thể nói, là bắt buộc phải năng động để kinh doanh hiệu quả. Đồng thời
đây cũng là cơ hội để các ngân hàng thể hiện năng lực và trình độ của mình.
Bên cạnh đó, nhờ có tiến trình hội nhập mạnh mẽ, các ngân hàng Việt Nam sẽ
có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm, trình độ công nghệ, quản lý từ các ngân hàng nước
ngoài thường được đánh giá là mạnh về tài chính, công nghệ và quản trị điều hành.
Việc các ngân hàng nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam thông qua việc trở
thành cổ đông của các ngân hàng cổ phần trong nước (như ngân hàng HSBC mua cổ
phần của ngân hàng Kỹ Thương, hay ngân hàng Standard Chartered Bank góp vốn
vào ngân hàng Á Châu, v.v.) là cơ hội tuyệt vời cho các ngân hàng cổ phần khai thác
các hỗ trợ của các ngân hàng lớn này để nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là sự
hỗ trợ về mặt tài chính và công nghệ. Sự cọ xát trong hoạt động kinh doanh cũng là
cơ hội để các ngân hàng Việt Nam nâng mình lên một tầm cao mới.
Thứ ba, mở cửa thị trường sẽ giúp các ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống
ngân hàng Việt Nam nói chung tiệm cận dần với các thông lệ quốc tế. Việc tham gia
vào sân chơi toàn cầu buộc hệ thống ngân hàng Việt Nam phải có những cải cách về
thể chế, hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Việc áp
dụng các quy định, tiêu chuẩn quốc tế như các yêu cầu trong hiệp ước Basel về vốn,
các chuẩn mực kế toán quốc tế, … sẽ không chỉ giúp các ngân hàng Việt Nam nâng
cao uy tín trên thị trường toàn cầu mà còn mang lại sự phát triển an toàn, bền vững
cho các ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.
1.3.2.2. Thách thức
Tuy nhiên, cơ hội và thách thức luôn là hai yếu tố đi liền với nhau. Thách thức
đặt ra đối với ngành ngân hàng Việt Nam không hề nhỏ.
35 Thứ hai, hội nhập là động lực quan trọng giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực. Các ngân hàng Việt Nam được tham gia vào một sân chơi kinh doanh bình đẳng và mang tính chuyên nghiệp cao. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng khốc liệt, đặc biệt là sau năm 2010. Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng sẽ ngày càng giảm và sự bảo hộ sẽ không còn nữa. Các ngân hàng tồn tại bằng chính "đôi chân và khối óc" của mình. Nhà nước chủ yếu chỉ quản lý ở tầm vĩ mô thông qua cơ chế chính sách. Chính bối cảnh đó sẽ tạo ra cho các ngân hàng Việt Nam sự năng động trong hoạt động kinh doanh hay có thể nói, là bắt buộc phải năng động để kinh doanh hiệu quả. Đồng thời đây cũng là cơ hội để các ngân hàng thể hiện năng lực và trình độ của mình. Bên cạnh đó, nhờ có tiến trình hội nhập mạnh mẽ, các ngân hàng Việt Nam sẽ có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm, trình độ công nghệ, quản lý từ các ngân hàng nước ngoài thường được đánh giá là mạnh về tài chính, công nghệ và quản trị điều hành. Việc các ngân hàng nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam thông qua việc trở thành cổ đông của các ngân hàng cổ phần trong nước (như ngân hàng HSBC mua cổ phần của ngân hàng Kỹ Thương, hay ngân hàng Standard Chartered Bank góp vốn vào ngân hàng Á Châu, v.v.) là cơ hội tuyệt vời cho các ngân hàng cổ phần khai thác các hỗ trợ của các ngân hàng lớn này để nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là sự hỗ trợ về mặt tài chính và công nghệ. Sự cọ xát trong hoạt động kinh doanh cũng là cơ hội để các ngân hàng Việt Nam nâng mình lên một tầm cao mới. Thứ ba, mở cửa thị trường sẽ giúp các ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung tiệm cận dần với các thông lệ quốc tế. Việc tham gia vào sân chơi toàn cầu buộc hệ thống ngân hàng Việt Nam phải có những cải cách về thể chế, hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Việc áp dụng các quy định, tiêu chuẩn quốc tế như các yêu cầu trong hiệp ước Basel về vốn, các chuẩn mực kế toán quốc tế, … sẽ không chỉ giúp các ngân hàng Việt Nam nâng cao uy tín trên thị trường toàn cầu mà còn mang lại sự phát triển an toàn, bền vững cho các ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung. 1.3.2.2. Thách thức Tuy nhiên, cơ hội và thách thức luôn là hai yếu tố đi liền với nhau. Thách thức đặt ra đối với ngành ngân hàng Việt Nam là không hề nhỏ.
36
Một là, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam (vốn, nhân lực,
công nghệ, quản lý và điều hành, dịch vụ ngân hàng thị trường) còn mức hạn
chế. Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo cam kết song phương và đa phương
sẽ làm tăng số lượng các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ
trình độ quản lý; gia tăng áp lực cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa do nới
lỏng các hạn chế về mở chi nhánh, phạm vi hoạt động và huy động vốn (qui mô, đồng
tiền, khách hàng và sản phẩm) của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong khi
đó, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam còn thấp, những gì ngân hàng
Việt Nam thiếu và yếu thì các ngân hàng nước ngoài lại có và mạnh hơn:
- Năng lực tài chính yếu: Nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam (theo chuẩn
mực kế toán quốc tế) là khá cao. Các NHTM cổ phần hầu hết có quy mô tài chính và
hoạt động nhỏ, khả năng tăng vốn và xử lý nợ xấu của các NHTM nhà nước còn gặp
nhiều khó khăn. Vì vậy, khả năng chống đỡ rủi ro của các ngân hàng Việt Nam thấp,
trong khi đó trình độ quản trị ngân hàng còn yếu. So với yêu cầu bảo đảm an toàn
hoạt động và quy mô hoạt động, mức vốn tự có của các NHTM nhà nước còn rất nhỏ
bé và gặp nhiều khó khăn trong việc tăng vốn để đạt tỷ lệ an toàn vốn 8% trong khi
nợ xấu lớn, khả năng tích luỹ nội bộ nhỏ và khả năng bổ sung vốn từ ngân sách nhà
nước cũng rất khó khăn.
- Hiện nay, sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng trong nước còn đơn điệu,
nghèo nàn, tính tiện lợi chưa cao, chất lượng dịch vụ thấp, "độc canh" kinh doanh tín
dụng còn phổ biến nhiều ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng mới như ngân hàng
điện tử, môi giới kinh doanh, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, vấn chưa được phát
triển hoặc ở giai đoạn thí điểm, thử nghiệm. Hầu hết các ngân hàng thiếu chiến lược
kinh doanh bền vững, chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng bằng cách tăng tài sản có,
mở rộng tín dụng, không chú trọng nâng cao chất lượng tài sản và khả năng sinh lời.
Các ngân hàng gặp nhiều hạn chế trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.
- Công nghệ ngân hàng còn lạc hậu: Các ngân hàng Việt Nam chưa thiết lập
được hệ thống quản lý rủi ro hữu hiệu, hệ thống thanh toán nội bộ còn yếu, hệ thống
36 Một là, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam (vốn, nhân lực, công nghệ, quản lý và điều hành, dịch vụ ngân hàng và thị trường) còn ở mức hạn chế. Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo cam kết song phương và đa phương sẽ làm tăng số lượng các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý; gia tăng áp lực cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa do nới lỏng các hạn chế về mở chi nhánh, phạm vi hoạt động và huy động vốn (qui mô, đồng tiền, khách hàng và sản phẩm) của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam còn thấp, những gì ngân hàng Việt Nam thiếu và yếu thì các ngân hàng nước ngoài lại có và mạnh hơn: - Năng lực tài chính yếu: Nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam (theo chuẩn mực kế toán quốc tế) là khá cao. Các NHTM cổ phần hầu hết có quy mô tài chính và hoạt động nhỏ, khả năng tăng vốn và xử lý nợ xấu của các NHTM nhà nước còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khả năng chống đỡ rủi ro của các ngân hàng Việt Nam thấp, trong khi đó trình độ quản trị ngân hàng còn yếu. So với yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động và quy mô hoạt động, mức vốn tự có của các NHTM nhà nước còn rất nhỏ bé và gặp nhiều khó khăn trong việc tăng vốn để đạt tỷ lệ an toàn vốn 8% trong khi nợ xấu lớn, khả năng tích luỹ nội bộ nhỏ và khả năng bổ sung vốn từ ngân sách nhà nước cũng rất khó khăn. - Hiện nay, sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng trong nước còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện lợi chưa cao, chất lượng dịch vụ thấp, "độc canh" kinh doanh tín dụng còn phổ biến ở nhiều ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng mới như ngân hàng điện tử, môi giới kinh doanh, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, tư vấn chưa được phát triển hoặc ở giai đoạn thí điểm, thử nghiệm. Hầu hết các ngân hàng thiếu chiến lược kinh doanh bền vững, chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng bằng cách tăng tài sản có, mở rộng tín dụng, không chú trọng nâng cao chất lượng tài sản và khả năng sinh lời. Các ngân hàng gặp nhiều hạn chế trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. - Công nghệ ngân hàng còn lạc hậu: Các ngân hàng Việt Nam chưa thiết lập được hệ thống quản lý rủi ro hữu hiệu, hệ thống thanh toán nội bộ còn yếu, hệ thống
37
kiểm tra, kiểm toán chưa hiệu quả; hệ thống tin quản lý tập trung và hệ thống kế toán,
quản lý tài chính chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành
công của quá trình hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ của hệ thống ngân hàng khá
đông nhưng trình độ am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ, luật pháp trong nước và quốc
tế, các nguyên tắc của WTO,... cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hệ thống
ngân hàng hiện đại, yêu cầu của hội nhập quốc tế. Luật pháp chính sách quản
lao động hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu hệ thống khuyến khích hợp lý
để thu hút và phát triển đội ngũ cán bộ trình độ cao. Cơ cấu tổ chức bộ máy của
các ngân hàng Việt Nam còn cồng kềnh và chưa được phân bố hợp lý gây khó khăn
cho quá trình hiện đại hoá và áp dụng các thông lệ quản trị ngân hàng tốt nhất.
Hai là, rủi ro ngoại sinh từ thị trường tài chính khu vực và quốc tế
- Việc mở cửa thị trường tài chính nội địa sẽ làm tăng rủi ro thị trường (giá cả,
tỷ giá, lãi suất, chu chuyển vốn) do các tác động từ bên ngoài, xoá đi khả năng tận
dụng chênh lệch tỷ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và quốc tế. Hệ thống ngân
hàng trong nước cũng phải đối mặt lớn hơn với các rủi ro khủng hoảng và các cú sốc
kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới. Sự kém phát triển của thị trường vốn
có thể sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây
nên. Quy mô và tốc độ luân chuyển các luồng vốn quốc tế càng lớn, khủng hoảng tài
chính - tiền tệ trở thành nguy luôn thường trực đối với các nền kinh tế của các
nước đang phát triển, trong khi đó hệ thống giám sát tài chính toàn cầu chưa có hiệu
quả.
- Rủi ro gia tăng song năng lực điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước và
khả năng chống đỡ rủi ro của các NHTM ng thấp. Năng lực điều hành tiền tệ của
Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là kiểm soát tỷ giá và lãi suất trong điều kiện tự do hoá
còn nhiều hạn chế. Hội nhập tài chính quốc tế làm giảm tính độc lập của chính sách
tiền tệ nếu như tỷ giá không được tự do hoá trong điều kiện tài khoản vốn được nới
lỏng. Mặt khác, năng lực giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước
37 kiểm tra, kiểm toán chưa hiệu quả; hệ thống tin quản lý tập trung và hệ thống kế toán, quản lý tài chính chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. - Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của quá trình hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ của hệ thống ngân hàng khá đông nhưng trình độ am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ, luật pháp trong nước và quốc tế, các nguyên tắc của WTO,... cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hệ thống ngân hàng hiện đại, yêu cầu của hội nhập quốc tế. Luật pháp và chính sách quản lý lao động hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút và phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Cơ cấu tổ chức bộ máy của các ngân hàng Việt Nam còn cồng kềnh và chưa được phân bố hợp lý gây khó khăn cho quá trình hiện đại hoá và áp dụng các thông lệ quản trị ngân hàng tốt nhất. Hai là, rủi ro ngoại sinh từ thị trường tài chính khu vực và quốc tế - Việc mở cửa thị trường tài chính nội địa sẽ làm tăng rủi ro thị trường (giá cả, tỷ giá, lãi suất, chu chuyển vốn) do các tác động từ bên ngoài, xoá đi khả năng tận dụng chênh lệch tỷ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và quốc tế. Hệ thống ngân hàng trong nước cũng phải đối mặt lớn hơn với các rủi ro khủng hoảng và các cú sốc kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới. Sự kém phát triển của thị trường vốn có thể sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây nên. Quy mô và tốc độ luân chuyển các luồng vốn quốc tế càng lớn, khủng hoảng tài chính - tiền tệ trở thành nguy cơ luôn thường trực đối với các nền kinh tế của các nước đang phát triển, trong khi đó hệ thống giám sát tài chính toàn cầu chưa có hiệu quả. - Rủi ro gia tăng song năng lực điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước và khả năng chống đỡ rủi ro của các NHTM cũng thấp. Năng lực điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là kiểm soát tỷ giá và lãi suất trong điều kiện tự do hoá còn nhiều hạn chế. Hội nhập tài chính quốc tế làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ nếu như tỷ giá không được tự do hoá trong điều kiện tài khoản vốn được nới lỏng. Mặt khác, năng lực giám sát hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước
38
cũng yếu, đặc biệt khả năng giám sát rủi ro - phát hiện sớm và ngăn chặn rủi ro,
đối với một số nghiệp vụ và sản phẩm ngân hàng mới được tung vào thị trường
Ba là, mất dần lợi thế cạnh tranh về quy mô, khách hàng hệ thống kênh
phân phối
Hiện tại, ưu thế thị phần, khách hàng kênh phân phối thuộc về các ngân
hàng trong nước do các ngân hàng nước ngoài vẫn còn chịu sự hạn chế về phạm vi và
quy mô hoạt động. Tuy nhiên, những hạn chế này và sự phân biệt đối xử sẽ được loại
bỏ căn bản từ sau năm 2010, vì vậy qui mô hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường,
các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nước ngoài cung cấp tăng
lên. Khi nới lỏng các hạn chế về tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng
nước ngoài với công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng và có chất
lượng cao hơn có thể đáp ứng như cầu đa dạng của khách hàng từ bản địa sang làm
ăn ở Việt Nam và các cá nhân và tổ chức kinh tế Việt Nam. Điều này sẽ đe doạ thị
phần của các ngân hàng của Việt Nam.
Bốn là, gia tăng chi phí quá mức cho hiện đại hoá công nghệ ngân hàng so
với lợi nhuận đem lại trong điều kiện tốc độ phát triển công nghệ dịch vụ ngân
hàng diễn ra hết sức nhanh chóng
Trước áp lực cạnh tranh mạnh khi mở cửa thị trường tài chính, các ngân hàng
trong nước có thể hiện đại hoá công nghệ quá nhanh, vượt quá năng lực vận hành và
kiểm soát có hiệu quả của mình. Một số ngân hàng khác do nguồn lực tài chính hạn
chế đã hiện đại hoá công nghệ một cách thiếu đồng bộ và không có tính hệ thống mở.
vậy, công nghệ ngân hàng mới khi lại tạo ra những rủi ro, gây lãng phí tài
chính. Vấn đề này trở nên nghiêm trọng hơn khi các ngân hàng trong nước không có
khả năng quản lý và giám sát hiệu quả các rủi ro gắn liền với công nghệ và sản phẩm
ngân hàng mới do thiếu các công cụ và kỹ năng quản trị rủi ro. Mặt khác, tốc độ phát
triển của công nghệ và sản phẩm mới trong lĩnh vực tài chính làm rút ngắn vòng đời
của công nghệ và sản phẩm tài chính. Vì vậy, đây cũng là thách thức đối với các ngân
hàng trong nước trong điều kiện nhu cầu thị trường về các dịch vụ ngân hàng mới còn
hết sức hạn chế.
38 cũng yếu, đặc biệt khả năng giám sát rủi ro - phát hiện sớm và ngăn chặn rủi ro, và đối với một số nghiệp vụ và sản phẩm ngân hàng mới được tung vào thị trường Ba là, mất dần lợi thế cạnh tranh về quy mô, khách hàng và hệ thống kênh phân phối Hiện tại, ưu thế thị phần, khách hàng và kênh phân phối thuộc về các ngân hàng trong nước do các ngân hàng nước ngoài vẫn còn chịu sự hạn chế về phạm vi và quy mô hoạt động. Tuy nhiên, những hạn chế này và sự phân biệt đối xử sẽ được loại bỏ căn bản từ sau năm 2010, vì vậy qui mô hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường, các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nước ngoài cung cấp tăng lên. Khi nới lỏng các hạn chế về tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng nước ngoài với công nghệ, trình độ quản lý và hệ thống sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao hơn có thể đáp ứng như cầu đa dạng của khách hàng từ bản địa sang làm ăn ở Việt Nam và các cá nhân và tổ chức kinh tế Việt Nam. Điều này sẽ đe doạ thị phần của các ngân hàng của Việt Nam. Bốn là, gia tăng chi phí quá mức cho hiện đại hoá công nghệ ngân hàng so với lợi nhuận đem lại trong điều kiện tốc độ phát triển công nghệ và dịch vụ ngân hàng diễn ra hết sức nhanh chóng Trước áp lực cạnh tranh mạnh khi mở cửa thị trường tài chính, các ngân hàng trong nước có thể hiện đại hoá công nghệ quá nhanh, vượt quá năng lực vận hành và kiểm soát có hiệu quả của mình. Một số ngân hàng khác do nguồn lực tài chính hạn chế đã hiện đại hoá công nghệ một cách thiếu đồng bộ và không có tính hệ thống mở. Vì vậy, công nghệ ngân hàng mới có khi lại tạo ra những rủi ro, gây lãng phí tài chính. Vấn đề này trở nên nghiêm trọng hơn khi các ngân hàng trong nước không có khả năng quản lý và giám sát hiệu quả các rủi ro gắn liền với công nghệ và sản phẩm ngân hàng mới do thiếu các công cụ và kỹ năng quản trị rủi ro. Mặt khác, tốc độ phát triển của công nghệ và sản phẩm mới trong lĩnh vực tài chính làm rút ngắn vòng đời của công nghệ và sản phẩm tài chính. Vì vậy, đây cũng là thách thức đối với các ngân hàng trong nước trong điều kiện nhu cầu thị trường về các dịch vụ ngân hàng mới còn hết sức hạn chế.
39
Năm là, hệ thống pháp luật ngân hàng chưa đồng bộ và nhiều điểm chưa phù
hợp với thông lệ quốc tế.
Hệ thống chính sách, pháp luật ngân hàng hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn
chế tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhóm ngân hàng giữa ngân hàng trong
nước với ngân hàng nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh. Một số quy
định pháp luật thể hiện sự can thiệp hành chính quá sâu vào hoạt động của các ngân
hàng, hạn chế quyền tự chủ kinh doanh của các ngân hàng. Hiệu lực thực thi pháp
luật trong lĩnh vực ngân hàng chưa cao dẫn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của
các ngân hàng chưa được bảo vệ hợp lý.
1.3.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO
Có thể thấy việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng
không ít các thách thức, khó khăn buộc các ngân hàng phải nhìn lại mình, đánh giá
năng lực cũng như tình hình thị trường để thể khai thác triệt để những hội,
vượt qua những thách thức thì mới có thể tồn tại và phát triển bền vững.
Tính đến tháng 5/2008, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm 5
ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
(Vietcombank) vừa chính thức nhận giấy phép chuyển sang hình cổ phần, 2
ngân hàng chính sách, 6 ngân hàng liên doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần,
44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 10 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài
chính 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Thêm vào đó, từ năm 2006 đến nay,
Ngân hàng Nhà nước nhận được 25 hồ xin thành lập ngân hàng thương mại cổ
phần trong nước và 33 hồ sơ xin thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân
hàng 100% vốn nước ngoài theo cam kết gia nhập WTO [47]. Như vậy, có thể thấy
số lượng các tổ chức tín dụng ngày một tăng làm cho mức độ cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng sẽ ngày càng cao miếng bánh thị trường sẽ bị chia nhỏ đi rất
nhiều.
Trong khi đó, năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại trong nước
vẫn còn yếu so với các ngân hàng nước ngoài.
39 Năm là, hệ thống pháp luật ngân hàng chưa đồng bộ và nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Hệ thống chính sách, pháp luật ngân hàng hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhóm ngân hàng và giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh. Một số quy định pháp luật thể hiện sự can thiệp hành chính quá sâu vào hoạt động của các ngân hàng, hạn chế quyền tự chủ kinh doanh của các ngân hàng. Hiệu lực thực thi pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng chưa cao dẫn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các ngân hàng chưa được bảo vệ hợp lý. 1.3.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO Có thể thấy việc Việt Nam gia nhập WTO mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít các thách thức, khó khăn buộc các ngân hàng phải nhìn lại mình, đánh giá năng lực cũng như tình hình thị trường để có thể khai thác triệt để những cơ hội, vượt qua những thách thức thì mới có thể tồn tại và phát triển bền vững. Tính đến tháng 5/2008, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) vừa chính thức nhận giấy phép chuyển sang mô hình cổ phần, 2 ngân hàng chính sách, 6 ngân hàng liên doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 10 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính và 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Thêm vào đó, từ năm 2006 đến nay, Ngân hàng Nhà nước nhận được 25 hồ sơ xin thành lập ngân hàng thương mại cổ phần trong nước và 33 hồ sơ xin thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài theo cam kết gia nhập WTO [47]. Như vậy, có thể thấy số lượng các tổ chức tín dụng ngày một tăng làm cho mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng sẽ ngày càng cao và miếng bánh thị trường sẽ bị chia nhỏ đi rất nhiều. Trong khi đó, năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại trong nước vẫn còn yếu so với các ngân hàng nước ngoài.
40
Vốn tự có của các ngân hàng Việt Nam còn khá nhỏ bé, mặc dù tốc độ tăng
trưởng khá nhanh (năm 2006 vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng tăng 44% so với
năm 2005, thì năm 2007 tăng 54% so với 2006, nhất là khối NHTM nhà nước tăng
59%, vượt xa con số 2% của năm 2006 so với 2005). Tuy nhiên, tính đến
31/12/2007, Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn vốn điều lệ cao
nhất 10.451 tỉ đồng tương đương gần 650 triệu USD; BIDV là 7.699 tỉ đồng
480 triệu USD. Bình quân mức vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại nhà nước
khoảng từ 400 đến 500 triệu USD, bằng một ngân hàng cỡ trung bình của khu vực;
còn các ngân hàng cổ phần có mức vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng từ 70 đến 90
triệu USD. Trong khi Mỹ có khoảng 8.000 ngân hàng thương mại, trong đó khoảng
10 ngân hàng với số vốn tự có trên 10 tỉ USD, 62 ngân hàng trên 1 tỉ USD và 215
ngân hàng trên 150 triệu USD. Theo Hiệp ước Basel Việt Nam đã ký kết với IMF,
giai đoạn 2007-2008, các ngân hàng Việt Nam phải đạt yêu cầu an toàn vốn tối
thiểu (CAR) 8%. Phần lớn các ngân hàng cổ phần đã làm được, nhưng 5 ngân hàng
lớn nhất thì chặng đường phía trước rất gian nan. Nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam, chỉ
số CAR trung bình của các NHTM quốc doanh đã tăng từ 7% năm 2006 lên 9%
năm 2007, tuy nhiên nếu theo chuẩn quốc tế, con số mới đạt 7% trong khi các ngân
hàng khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Châu Âu đều đã có tỷ lệ này từ 10
đến 14%. [11], [21], [34], [39], [Phụ lục bảng thống kê số liệu].
Bên cạnh đó, chất lượng tài sản, đặc biệt là của các NHTM quốc doanh, còn
nhiều yếu kém. Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM quốc doanh còn mức cao do chưa
giải quyết được các khoản nợ chính sách còn tồn đọng tỷ trọng cho vay các
doanh nghiệp quốc doanh lớn đối tượng khách hàng có nguy cơ phát sinh nợ xấu
cao. Khả năng thanh khoản của các ngân hàng cũng chưa thực sự bền vững, dễ bị
ảnh hưởng bởi tác động của các yếu tố mô. Điều này thể thấy qua đợt
khủng hoảng thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm
2008 vừa qua, khi mà các ngân hàng đồng loạt rơi vào tình trạng khan hiếm đồng
VND do NHNN áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, dẫn đến
thị trường liên ngân hàng (nơi mà nhiều ngân hàng phụ thuộc trong việc huy động
40 Vốn tự có của các ngân hàng Việt Nam còn khá nhỏ bé, mặc dù tốc độ tăng trưởng khá nhanh (năm 2006 vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng tăng 44% so với năm 2005, thì năm 2007 tăng 54% so với 2006, nhất là khối NHTM nhà nước tăng 59%, vượt xa con số 2% của năm 2006 so với 2005). Tuy nhiên, tính đến 31/12/2007, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có vốn điều lệ cao nhất là 10.451 tỉ đồng – tương đương gần 650 triệu USD; BIDV là 7.699 tỉ đồng – 480 triệu USD. Bình quân mức vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại nhà nước khoảng từ 400 đến 500 triệu USD, bằng một ngân hàng cỡ trung bình của khu vực; còn các ngân hàng cổ phần có mức vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng từ 70 đến 90 triệu USD. Trong khi Mỹ có khoảng 8.000 ngân hàng thương mại, trong đó khoảng 10 ngân hàng với số vốn tự có trên 10 tỉ USD, 62 ngân hàng trên 1 tỉ USD và 215 ngân hàng trên 150 triệu USD. Theo Hiệp ước Basel Việt Nam đã ký kết với IMF, giai đoạn 2007-2008, các ngân hàng Việt Nam phải đạt yêu cầu an toàn vốn tối thiểu (CAR) 8%. Phần lớn các ngân hàng cổ phần đã làm được, nhưng 5 ngân hàng lớn nhất thì chặng đường phía trước rất gian nan. Nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam, chỉ số CAR trung bình của các NHTM quốc doanh đã tăng từ 7% năm 2006 lên 9% năm 2007, tuy nhiên nếu theo chuẩn quốc tế, con số mới đạt 7% trong khi các ngân hàng khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Châu Âu đều đã có tỷ lệ này từ 10 đến 14%. [11], [21], [34], [39], [Phụ lục bảng thống kê số liệu]. Bên cạnh đó, chất lượng tài sản, đặc biệt là của các NHTM quốc doanh, còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM quốc doanh còn ở mức cao do chưa giải quyết được các khoản nợ chính sách còn tồn đọng và tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp quốc doanh lớn – đối tượng khách hàng có nguy cơ phát sinh nợ xấu cao. Khả năng thanh khoản của các ngân hàng cũng chưa thực sự bền vững, dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của các yếu tố vĩ mô. Điều này có thể thấy rõ qua đợt khủng hoảng thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2008 vừa qua, khi mà các ngân hàng đồng loạt rơi vào tình trạng khan hiếm đồng VND do NHNN áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, dẫn đến thị trường liên ngân hàng (nơi mà nhiều ngân hàng phụ thuộc trong việc huy động
41
vốn) bị hạn chế, trong khi tốc độ tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng lại rơi
vào tình trạng quá nóng năm 2007. Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài hoạt
động tại Việt Nam lại không bị ảnh hưởng bởi những biến động đó.
Hơn nữa, mặc thị phần của các ngân hàng trong nước vẫn chiếm ở mức
cao (hơn 90%), song các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng sự tăng trưởng
nhanh về quy vốn, tài sản trong năm 2007. Mặt khác, thị phần tín dụng
huy động của khổi này ổn định do khối y còn chịu hạn chế về huy động vốn
bằng VND. Tuy nhiên, thị phần của các ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ tăng
khi các ngân hàng nước ngoài dần được nới lỏng giới hạn huy động huy động tiền
gửi VNĐ từ các thể nhân Việt Nam và cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng Việt
Nam từ 2011. Với năng lực tài chính mạnh, các ngân hàng nước ngoài sẽ sẵn sàng
cung cấp dịch vụ với mức giá thấp, đồng thời với các lợi thế về công nghệ, quản trị,
thương hiệu, các ngân hàng Việt Nam với ng lực nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn
trong việc cạnh tranh. Theo một điều tra khảo sát trước đây, có tới 45% khách hàng
sẽ chuyển sang vay vốn của các ngân hàng nước ngoài, 50% khách hàng chọn dịch
vụ của các ngân hàng nước ngoài 50% khách hàng chọn ngân hàng nước ngoài
để gửi tiền [34], [39].
Thực tế, trong năm 2008, các ngân hàng nước ngoài vẫn đang âm thầm triển
khai các kế hoạch “bành trướng” để giành thêm thị phần tại thị trường Việt Nam.
Giữa tháng 06/2008, Ngân hàng Hồng Kông-Thượng Hải (HSBC) khai trương chi
nhánh lớn nhất tại Hà Nội. Nối gót HSBC, đầu tháng 7/2008, Standard Chartered đã
chính thức khai trương ngân hàng bán lẻ tại Nội - chi nhánh thứ hai của
Standard Chartered tại Việt Nam, sau chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng
trong tháng 7 này, ngân hàng DBS của Singapore - một trong những tập đoàn dịch
vụ tài chính lớn nhất châu Á - đã nhanh chóng khai trương văn phòng đại diện tại
Hà Nội, còn Ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) của Nhật
Bản cũng thì hoàn tất việc mua 15% cổ phần của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt
Nam (Eximbank) và trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng này.
Trước thực trạng đó, việc nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng
thương mại Việt Nam đặc biệt cần thiết, quyết định sự tồn tại phát triển bền
vững của các ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay.
41 vốn) bị hạn chế, trong khi tốc độ tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng lại rơi vào tình trạng quá nóng năm 2007. Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam lại không bị ảnh hưởng bởi những biến động đó. Hơn nữa, mặc dù thị phần của các ngân hàng trong nước vẫn chiếm ở mức cao (hơn 90%), song các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng có sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn, tài sản có trong năm 2007. Mặt khác, thị phần tín dụng và huy động của khổi này ổn định là do khối này còn chịu hạn chế về huy động vốn bằng VND. Tuy nhiên, thị phần của các ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ tăng khi các ngân hàng nước ngoài dần được nới lỏng giới hạn huy động huy động tiền gửi VNĐ từ các thể nhân Việt Nam và cạnh tranh bình đẳng với các ngân hàng Việt Nam từ 2011. Với năng lực tài chính mạnh, các ngân hàng nước ngoài sẽ sẵn sàng cung cấp dịch vụ với mức giá thấp, đồng thời với các lợi thế về công nghệ, quản trị, thương hiệu, các ngân hàng Việt Nam với năng lực nhỏ bé sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh. Theo một điều tra khảo sát trước đây, có tới 45% khách hàng sẽ chuyển sang vay vốn của các ngân hàng nước ngoài, 50% khách hàng chọn dịch vụ của các ngân hàng nước ngoài và 50% khách hàng chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền [34], [39]. Thực tế, trong năm 2008, các ngân hàng nước ngoài vẫn đang âm thầm triển khai các kế hoạch “bành trướng” để giành thêm thị phần tại thị trường Việt Nam. Giữa tháng 06/2008, Ngân hàng Hồng Kông-Thượng Hải (HSBC) khai trương chi nhánh lớn nhất tại Hà Nội. Nối gót HSBC, đầu tháng 7/2008, Standard Chartered đã chính thức khai trương ngân hàng bán lẻ tại Hà Nội - chi nhánh thứ hai của Standard Chartered tại Việt Nam, sau chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng trong tháng 7 này, ngân hàng DBS của Singapore - một trong những tập đoàn dịch vụ tài chính lớn nhất châu Á - đã nhanh chóng khai trương văn phòng đại diện tại Hà Nội, còn Ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) của Nhật Bản cũng thì hoàn tất việc mua 15% cổ phần của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) và trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng này. Trước thực trạng đó, việc nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam là đặc biệt cần thiết, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của các ngân hàng trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay.
42
CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV)
2.1.1. Lịch sử hình thành
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập theo Nghị
định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi ban đầu
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, được thành lập lại theo mô hình Tổng công ty Nhà
nước, hạng đặc biệt theo Quyết định số 90/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng
Chính phủ. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh và 200 cán bộ. Trong hơn năm mươi
năm qua, BIDV đã trải qua các giai đoạn xây dựng và trưởng thành, từng bước trở
thành một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam, góp phần cùng toàn ngành
ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và phát triển kinh tế đất nước. Cụ
thể:
- Giai đoạn 1957 1980: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập trực
thuộc Bộ Tài Chính với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết
cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
- Giai đoạn 1981- 1989: Đổi tên thành Ngân hàng Đầu Xây dựng Việt
Nam trực thuộc NHNN Việt Nam với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay
và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế thuộc kế hoạch nhà nước.
- Giai đoạn 1990 1994: Đổi tên thành Ngân hàng Đầu Phát triển Việt
Nam với những thay đổi về chức năng nhiệm vụ theo đường lối đổi mới của
Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị
trường sự quản của Nhà nước. Cụ thể, ngoài việc tiếp tục nhận vốn
ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, BIDV đã
thực hiện huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển;
kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây
lắp phục vụ đầu tư phát triển.
42 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) 2.1.1. Lịch sử hình thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập theo Nghị định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, được thành lập lại theo mô hình Tổng công ty Nhà nước, hạng đặc biệt theo Quyết định số 90/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh và 200 cán bộ. Trong hơn năm mươi năm qua, BIDV đã trải qua các giai đoạn xây dựng và trưởng thành, từng bước trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam, góp phần cùng toàn ngành ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và phát triển kinh tế đất nước. Cụ thể: - Giai đoạn 1957 – 1980: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ Tài Chính với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội. - Giai đoạn 1981- 1989: Đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc NHNN Việt Nam với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước. - Giai đoạn 1990 – 1994: Đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam với những thay đổi về chức năng nhiệm vụ theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cụ thể, ngoài việc tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, BIDV đã thực hiện huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.
43
- Giai đoạn 1995 - 2000: BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như
một NHTM, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước. Đây là thời
kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là NHTM hàng đầu tại Việt Nam
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với danh hiệu “Đơn
vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”.
- Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cấu
lại được Chính phủ phê duyệt và Dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống
thanh toán do Ngân hàng Thế giới tài trợ, tiến tới phát triển thành một Ngân
hàng đa năng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động ngang tầm với các ngân
hàng khu vực vào năm 2010.
2.1.2. Vài nét sơ lược về BIDV
BIDV được biết đến ngân hàng thương mại lâu đời nhất Việt Nam (chỉ
thành lập sau Ngân hàng nhà nước). Trong suốt hơn 50 năm xây dựng và phát triển,
BIDV luôn giữ gìn phát huy được vai trò và vị thế một trong bốn ngân hàng
thương mại nhà nước hàng đầu, đứng thứ hai về tổng tài sản mạng lưới tại Việt
Nam. Tổng tài sản tính đến 30/06/2008 đạt khoảng 225 nghìn tỷ VNĐ (tương
đương 14 tỷ USD), với tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001-2007 rất ấn
tượng 21-22%/năm. Mạng lưới với 103 chi nhánh sở giao dịch, 228 phòng
giao dịch, 162 điểm giao dịch/quỹ tiết kiệm đã góp phần tạo nên vị thế, hình ảnh,
thương hiệu của BIDV rộng khắp 64 tỉnh thành. Cả hệ thống có khoảng 1000 máy
ATM, 5000 máy POS, với tổng số cán bộ BIDV lên tới trên 11.000 người. Mục tiêu
của BIDV hoàn thiện mạng lưới hoạt động năng động, phù hợp với hình tập
đoàn tài chính ngân hàng Việt Nam cùng với tiến trình cổ phần hoá BIDV.
Về cấu tổ chức, tính đến thời điểm 31/12/2007, hình tổ chức của hệ
thống BIDV bao gồm Hội sở chính và các khối Công ty, khối Ngân hàng, khối Đơn
vị sự nghiệp và khối Liên doanh, cụ thể như sau.
- Khối Công ty gồm 05 Công ty trực thuộc Công ty Cho thuê tài chính,
Công ty Cho thuê tài chính 2, Công ty chứng khoán, Công ty Quản lý nợ
khai thác tài sản và Công ty bảo hiểm.
43 - Giai đoạn 1995 - 2000: BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một NHTM, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước. Đây là thời kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là NHTM hàng đầu tại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với danh hiệu “Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”. - Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cơ cấu lại được Chính phủ phê duyệt và Dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do Ngân hàng Thế giới tài trợ, tiến tới phát triển thành một Ngân hàng đa năng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động ngang tầm với các ngân hàng khu vực vào năm 2010. 2.1.2. Vài nét sơ lược về BIDV BIDV được biết đến là ngân hàng thương mại lâu đời nhất Việt Nam (chỉ thành lập sau Ngân hàng nhà nước). Trong suốt hơn 50 năm xây dựng và phát triển, BIDV luôn giữ gìn và phát huy được vai trò và vị thế là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu, đứng thứ hai về tổng tài sản và mạng lưới tại Việt Nam. Tổng tài sản tính đến 30/06/2008 đạt khoảng 225 nghìn tỷ VNĐ (tương đương 14 tỷ USD), với tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001-2007 rất ấn tượng là 21-22%/năm. Mạng lưới với 103 chi nhánh và sở giao dịch, 228 phòng giao dịch, 162 điểm giao dịch/quỹ tiết kiệm đã góp phần tạo nên vị thế, hình ảnh, thương hiệu của BIDV rộng khắp 64 tỉnh thành. Cả hệ thống có khoảng 1000 máy ATM, 5000 máy POS, với tổng số cán bộ BIDV lên tới trên 11.000 người. Mục tiêu của BIDV là hoàn thiện mạng lưới hoạt động năng động, phù hợp với mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng Việt Nam cùng với tiến trình cổ phần hoá BIDV. Về cơ cấu tổ chức, tính đến thời điểm 31/12/2007, mô hình tổ chức của hệ thống BIDV bao gồm Hội sở chính và các khối Công ty, khối Ngân hàng, khối Đơn vị sự nghiệp và khối Liên doanh, cụ thể như sau. - Khối Công ty gồm 05 Công ty trực thuộc là Công ty Cho thuê tài chính, Công ty Cho thuê tài chính 2, Công ty chứng khoán, Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản và Công ty bảo hiểm.
44
- Khối Ngân hàng gồm 03 Sở giao dịch và 100 Chi nhánh.
- Khối Đơn vị sự nghiệp gồm Trung tâm đào tạo Trung tâm Công nghệ
thông tin.
- Khối Liên doanh gồm 05 liên doanh VID - Public Bank, Ngân hàng liên
doanh Lào Việt, Công ty liên doanh tháp BIDV, Công ty liên doanh Quản
lý quỹ đầu tư, và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga.
Bên cạnh đó, vào tháng 8/2008, BIDV đã hoàn thành Đề án chuyển đổi
hình tổ chức theo khuyến nghị của dự án Hỗ trợ kỹ thuật 2 (TA2) do Ngân hàng thế
giới (WB) tài trợ. Trọng tâm của đề án là chuyển mô hình tổ chức của BIDV từ
hình phân tán theo chiều ngang sang tập trung theo chiều dọc, phù hợp của
cấu tổ chức của một định chế tài chính hiện đại, hướng vào khách hàng hướng
vào sản phẩm.
Trong công tác quản trị điều hành, BIDV luôn nỗ lực áp dụng những thông lệ
quốc tế tốt nhất như việc thực hiện kiểm toán quốc tế 12 năm liền với đồng thời hai
tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting Standard VAS) quốc tế
(International Financial Reporting Standard IFRS). BIDV cũng doanh nghiệp
đầu tiên tại Việt Nam áp dụng xếp hạng tín nhiệm do tổ chức định hạng quốc tế
Moody’s Services Limited thực hiện trong ba năm liên tiếp 2006, 2007 và 2008.
Ngoài ra, BIDV được WB chọn m ngân hàng bán buôn duy nhất cho các
dự án Tài chính nông thôn tại Việt Nam, ngân hàng mũi nhọn duy nhất được
Chính phủ lựa chọn làm ngân hàng bán buôn tín dụng nguồn vốn Viện trợ phát triển
chính thức (Official Development Assistance ODA). Mục tiêu tổng thể của các dự
án Tài chính nông thôn là hỗ trợ Việt Nam trong các nỗ lực phát triển kinh tế nông
thôn và cải thiện điều kiện sống của người dân khu vực nông thôn, thông qua: (i)
Khuyến khích đầu tư cho khu vực nông thôn, đặc biệt là các hộ gia đình nông thôn
và các doanh nghiệp hoạt động ở các vùng nông thôn với việc tăng cường các khoản
vay trung và dài hạn; (ii) Tăng cường năng lực của Hệ thống Ngân hàng để phục vụ
tốt hơn cho nền kinh tế nông thôn; và (iii) Tăng cường khả năng tiếp cận của người
nghèo nông thôn đến các dịch vụ tài chính chính thức. Thực hiện tốt vai trò ngân
44 - Khối Ngân hàng gồm 03 Sở giao dịch và 100 Chi nhánh. - Khối Đơn vị sự nghiệp gồm Trung tâm đào tạo và Trung tâm Công nghệ thông tin. - Khối Liên doanh gồm 05 liên doanh là VID - Public Bank, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt, Công ty liên doanh tháp BIDV, Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư, và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga. Bên cạnh đó, vào tháng 8/2008, BIDV đã hoàn thành Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức theo khuyến nghị của dự án Hỗ trợ kỹ thuật 2 (TA2) do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ. Trọng tâm của đề án là chuyển mô hình tổ chức của BIDV từ mô hình phân tán theo chiều ngang sang tập trung và theo chiều dọc, phù hợp của cơ cấu tổ chức của một định chế tài chính hiện đại, hướng vào khách hàng và hướng vào sản phẩm. Trong công tác quản trị điều hành, BIDV luôn nỗ lực áp dụng những thông lệ quốc tế tốt nhất như việc thực hiện kiểm toán quốc tế 12 năm liền với đồng thời hai tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting Standard – VAS) và quốc tế (International Financial Reporting Standard – IFRS). BIDV cũng là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam áp dụng xếp hạng tín nhiệm do tổ chức định hạng quốc tế Moody’s Services Limited thực hiện trong ba năm liên tiếp 2006, 2007 và 2008. Ngoài ra, BIDV được WB chọn làm ngân hàng bán buôn duy nhất cho các dự án Tài chính nông thôn tại Việt Nam, là ngân hàng mũi nhọn duy nhất được Chính phủ lựa chọn làm ngân hàng bán buôn tín dụng nguồn vốn Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance – ODA). Mục tiêu tổng thể của các dự án Tài chính nông thôn là hỗ trợ Việt Nam trong các nỗ lực phát triển kinh tế nông thôn và cải thiện điều kiện sống của người dân ở khu vực nông thôn, thông qua: (i) Khuyến khích đầu tư cho khu vực nông thôn, đặc biệt là các hộ gia đình nông thôn và các doanh nghiệp hoạt động ở các vùng nông thôn với việc tăng cường các khoản vay trung và dài hạn; (ii) Tăng cường năng lực của Hệ thống Ngân hàng để phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế nông thôn; và (iii) Tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo nông thôn đến các dịch vụ tài chính chính thức. Thực hiện tốt vai trò ngân