Luận văn Thạc sĩ Văn học: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê

3,836
283
122
58
Nhân vật trong truyện ngắn của Đoàn Lê dù có cảnh đời, có số phận khác
nhau nhưng họ giống nhau ở chỗ đều mang trong mình những bi kịch: bi kịch về
sự đổ vỡ gia đình (Giường đôi xóm Chùa, Ngôi nhà gỗ, Trái táo nham nhở, Viên
sỏi…), bi kịch vì tình yêu không thành ( Đêm ngâu vào, Tình Guột, Dấu hỏi gửi
Thượng đế, Na ơi…), bi kịch vì cuộc sống mưu sinh ( Đất xóm Chùa, Xóm Chùa
Ông, Trinh tiết xóm Chùa, Hạt Vừng…), bi kịch vì sự mất mát của những người
thân yêu (Hai bà mẹ tôi, Viên sỏi). Mỗi tác phẩm của nhà văn là một thông
điệp quý về tình yêu giữa người với người: có tình yêu đôi lứa, có tình nghĩa vợ
chồng, tình cảm ruột thịt thiêng liêng, có tình làng nghĩa xóm… tất cả đều là
những huyền thoại về tình yêu. Dù được thiên biến vạn hóa nhiều sắc thái
khác nhau nhưng những thông điệp tình yêu của nhà văn sự trân trọng, yêu
mến, vị tha giữa người với người, giữa đồng loại với nhau. Những tình cảm
thiêng liêng ấy đều được nhà văn giữ gìn, nâng niu, ca ngợi còn sự dối trá, bội
bạc, phi thiện mỹ đều bị lên án quyết liệt. Thành công của nhà văn sau mỗi tác
phẩm là sự thanh lọc tâm hồn mà người đọc hiện đại hôm nay luôn tìm kiếm.
Một đặc điểm chung cho các tác phẩm của các cây bút nữ thời kỳ đổi mới
là thiên hướng nữ. Thiên hướng này tác động mạnh mẽ đến cảm hứng sáng tác
của các nhà văn bởi một lý do rất đơn giản họ là những người phụ nữ viết văn.
Cho nên phần lớn các nhân vật trong sáng tác của họ nhân vật nữ, đồng thời
cũng là nhân vật chính trong các tác phẩm. Đặc điểm này tạo nên sự khác biệt rõ
nét nhất giữa văn học trước và sau thời kỳ đổi mới. Trong văn học trung đại, Hồ
Xuân Hương nhà thơ duy nhất dám mạnh dạn lên tiếng bảo vệ quyền lợi
hạnh phúc của người phụ nữ. “Hồ Xuân Hương đã làm được cái điều mà tưởng
như không thể làm được, cái không thể trở thành i có thể, trước không ai đã
đành, sau bà cũng không có ai”. Đến thời kỳ văn học hiện đại, nhân vật nữ được
khai thác nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt thế giới nội tâm. Dưới ngòi bút
của các nhà văn nữ, thế giới tinh thần của các nhân vật nữ lại càng được thể hiện
sinh động, sâu sắc và chân thực nhất. Bởi lẽ, khi đặt ngòi bút dường như các tác
giả nữ đang viết về chính con người thực của mình. Đó chính là cảm hứng tự
nghiệm”. Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất ở ngôi của người kể chuyện- ngôi
thứ nhất, các tác giả đã có ý thức để lại trong tác phẩm dấu ấn cá nhân riêng biệt
của mình. Dấu ấn cá nhân của nhân vật “tôi” đã thể hiện đầy đủ cảm nhận, suy
nghĩ riêng của mỗi nhà văn, bất chấp mọi sự khen chê. Giọng điệu của người kể
58 Nhân vật trong truyện ngắn của Đoàn Lê dù có cảnh đời, có số phận khác nhau nhưng họ giống nhau ở chỗ đều mang trong mình những bi kịch: bi kịch về sự đổ vỡ gia đình (Giường đôi xóm Chùa, Ngôi nhà gỗ, Trái táo nham nhở, Viên sỏi…), bi kịch vì tình yêu không thành ( Đêm ngâu vào, Tình Guột, Dấu hỏi gửi Thượng đế, Na ơi…), bi kịch vì cuộc sống mưu sinh ( Đất xóm Chùa, Xóm Chùa Ông, Trinh tiết xóm Chùa, Hạt Vừng…), bi kịch vì sự mất mát của những người thân yêu (Hai bà mẹ và tôi, Viên sỏi). Mỗi tác phẩm của nhà văn là một thông điệp quý về tình yêu giữa người với người: có tình yêu đôi lứa, có tình nghĩa vợ chồng, có tình cảm ruột thịt thiêng liêng, có tình làng nghĩa xóm… tất cả đều là những huyền thoại về tình yêu. Dù được thiên biến vạn hóa ở nhiều sắc thái khác nhau nhưng những thông điệp tình yêu của nhà văn là sự trân trọng, yêu mến, vị tha giữa người với người, giữa đồng loại với nhau. Những tình cảm thiêng liêng ấy đều được nhà văn giữ gìn, nâng niu, ca ngợi còn sự dối trá, bội bạc, phi thiện mỹ đều bị lên án quyết liệt. Thành công của nhà văn sau mỗi tác phẩm là sự thanh lọc tâm hồn mà người đọc hiện đại hôm nay luôn tìm kiếm. Một đặc điểm chung cho các tác phẩm của các cây bút nữ thời kỳ đổi mới là thiên hướng nữ. Thiên hướng này tác động mạnh mẽ đến cảm hứng sáng tác của các nhà văn bởi một lý do rất đơn giản họ là những người phụ nữ viết văn. Cho nên phần lớn các nhân vật trong sáng tác của họ là nhân vật nữ, đồng thời cũng là nhân vật chính trong các tác phẩm. Đặc điểm này tạo nên sự khác biệt rõ nét nhất giữa văn học trước và sau thời kỳ đổi mới. Trong văn học trung đại, Hồ Xuân Hương là nhà thơ duy nhất dám mạnh dạn lên tiếng bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của người phụ nữ. “Hồ Xuân Hương đã làm được cái điều mà tưởng như không thể làm được, cái không thể trở thành cái có thể, trước không ai đã đành, sau bà cũng không có ai”. Đến thời kỳ văn học hiện đại, nhân vật nữ được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là thế giới nội tâm. Dưới ngòi bút của các nhà văn nữ, thế giới tinh thần của các nhân vật nữ lại càng được thể hiện sinh động, sâu sắc và chân thực nhất. Bởi lẽ, khi đặt ngòi bút dường như các tác giả nữ đang viết về chính con người thực của mình. Đó chính là cảm hứng tự nghiệm”. Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất ở ngôi của người kể chuyện- ngôi thứ nhất, các tác giả đã có ý thức để lại trong tác phẩm dấu ấn cá nhân riêng biệt của mình. Dấu ấn cá nhân của nhân vật “tôi” đã thể hiện đầy đủ cảm nhận, suy nghĩ riêng của mỗi nhà văn, bất chấp mọi sự khen chê. Giọng điệu của người kể
59
chuyện hay “lạc đề”, chuyện nọ xọ chuyện kia. “Dường như trong văn chương
của họ có một người đàn bà mê mải nói, mê mải kể, chê bai, khen ngợi, bất cần,
khinh bạc… Điều đó khiến độc giả nhận ra họ trước tiên: chất lý sự đàn bà, cái
ồn ào rất đời trong những giọng nói không cần n mình do ng, dung,
ngôn, hạnh truyền thống, đồng thời lại rất sách vở và tự chủ theo cách riêng của
mình” [22]. Nhân vật nữ trong truyện ngắn Đoàn là những con người như
vậy. Dấu ấn nhân trở thành một đặc điểm nổi bật khi xây dựng nhân vật của
cây bút này. c nhân vật của thường được đặt trong trạng thái “động”. Khi
đọc toàn bộ sáng tác của nhà văn, một hình ảnh nổi bật người đọc dễ dàng
bắt gặp nhất đó là hình ảnh một người đàn luôn trăn trở, day dứt, bất định
trong suy nghĩ. Họ thường có những bi kịch gần giống nhau- bi kịch tình yêu. Bi
kịch đó bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa Niềm Tin Bản chất Nhẹ dạ của người
phụ nữ, hay giữa hạnh phúc và khổ đau, hoặc từ những hoàn cảnh sống tối tăm,
bần cùng. Những đặc điểm trên trở thành nguyên tắc xây dựng nhân vật của
Đoàn Lê.
2. Các kiểu nhân vật và phƣơng thức biểu hiện trong truyện ngắn Đoàn Lê.
2.1 Nhân vật cô đơn
Đây là kiểu nhân vật xuất hiện nhiều trong văn học thời kỳ đổi mới.
do khiến các nhà văn tập trung vào việc xây dựng, khai thác kiểu nhân vật này
cũng rất dễ hiểu. Trong xã hội hiện đại vấn đề tồn tại và mưu sinh không còn
vấn đề cơ bản, con người bắt đầu hướng về bản thân mình nhiều hơn. Họ có nhu
cầu khám phá,cắt nghĩa lý giải những trạng thái tâm hồn mình để giảm đi những
lo toan căng thẳng trong cuộc sống, để cân bằng lại đời sống tâm hồn. Nhu cầu
đó trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà văn. Đời sống tinh thần của
con người trở thành đối tượng quan trọng của văn học. Vì thế trong văn học xuất
hiện kiểu nhân vật cô đơn. Cô đơn là khát khao cái đẹp, cái thiên lương của con
người. Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, mỗi cá nhân nhưng cũng có ảnh hưởng
đến cộng đồng xã hội. Thế giới nội tâm của mỗi cá nhân chứa đầy những yếu tố
bất ngờ ẩn. Không phải chỉ khi tồn tại đơn thân một mình một bóng con
người mới cảm thấy đơn con người mang tâm trạng đơn ngay chính
trong ngôi nhà, trong gia đình của mình khi không tìm thấy sự đồng cảm, không
tìm thấy tiếng nói chung.
59 chuyện hay “lạc đề”, chuyện nọ xọ chuyện kia. “Dường như trong văn chương của họ có một người đàn bà mê mải nói, mê mải kể, chê bai, khen ngợi, bất cần, khinh bạc… Điều đó khiến độc giả nhận ra họ trước tiên: chất lý sự đàn bà, cái ồn ào rất đời trong những giọng nói không cần ẩn mình vì lý do công, dung, ngôn, hạnh truyền thống, đồng thời lại rất sách vở và tự chủ theo cách riêng của mình” [22]. Nhân vật nữ trong truyện ngắn Đoàn Lê là những con người như vậy. Dấu ấn cá nhân trở thành một đặc điểm nổi bật khi xây dựng nhân vật của cây bút này. Các nhân vật của bà thường được đặt trong trạng thái “động”. Khi đọc toàn bộ sáng tác của nhà văn, một hình ảnh nổi bật mà người đọc dễ dàng bắt gặp nhất đó là hình ảnh một người đàn bà luôn trăn trở, day dứt, bất định trong suy nghĩ. Họ thường có những bi kịch gần giống nhau- bi kịch tình yêu. Bi kịch đó bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa Niềm Tin và Bản chất Nhẹ dạ của người phụ nữ, hay giữa hạnh phúc và khổ đau, hoặc từ những hoàn cảnh sống tối tăm, bần cùng. Những đặc điểm trên trở thành nguyên tắc xây dựng nhân vật của Đoàn Lê. 2. Các kiểu nhân vật và phƣơng thức biểu hiện trong truyện ngắn Đoàn Lê. 2.1 Nhân vật cô đơn Đây là kiểu nhân vật xuất hiện nhiều trong văn học thời kỳ đổi mới. Lý do khiến các nhà văn tập trung vào việc xây dựng, khai thác kiểu nhân vật này cũng rất dễ hiểu. Trong xã hội hiện đại vấn đề tồn tại và mưu sinh không còn là vấn đề cơ bản, con người bắt đầu hướng về bản thân mình nhiều hơn. Họ có nhu cầu khám phá,cắt nghĩa lý giải những trạng thái tâm hồn mình để giảm đi những lo toan căng thẳng trong cuộc sống, để cân bằng lại đời sống tâm hồn. Nhu cầu đó trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà văn. Đời sống tinh thần của con người trở thành đối tượng quan trọng của văn học. Vì thế trong văn học xuất hiện kiểu nhân vật cô đơn. Cô đơn là khát khao cái đẹp, cái thiên lương của con người. Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, mỗi cá nhân nhưng cũng có ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội. Thế giới nội tâm của mỗi cá nhân chứa đầy những yếu tố bất ngờ và bí ẩn. Không phải chỉ khi tồn tại đơn thân một mình một bóng con người mới cảm thấy cô đơn mà con người mang tâm trạng cô đơn ngay chính trong ngôi nhà, trong gia đình của mình khi không tìm thấy sự đồng cảm, không tìm thấy tiếng nói chung.
60
Con người đơn đã từng được nói đến trong văn học trung đại nhưng
chưa thật nét. Đến văn học 1930-1945, con người cô đơn (cái tôi cô đơn) trở
thành tâm trạng chung của các nhà Tmới. Thậm chí con người đơn được
đẩy đến mức cực đoan, đến tận cùng. Họ tìm nhiều cách khác nhau để thoát khỏi
trạng thái cô đơn: Thế Lữ thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư phiêu diêu trong trường
tình, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên điên cuồng trong hồn máu tháp Chàm đổ
nát, Xuân Diệu đắm say…Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên
cuồng rồi lại tỉnh, say đắm vẫn vơ, Huy Cận mang mối sầu vạn kỷ, sầu tới
đáy hồn nhân thế, Chế Lan Viên muốn trốn mình tận phía cuối trời xa, rốt cục
vẫn bế tắc tuyệt vọng không có lối thoát.
Trong văn học hiện đại giai đoạn 1945-1975, cô đơn vẫn bị xem là chủ đề
kiêng kỵ. Con người trong văn chương chủ yếu con người tập thể. Chung
quanh họ là bạn bè, đồng chí, dân tộc, cộng đồng, nhân loại. Cá nhân con người
là nhỏ bé, không đáng kể. Con người không có điều kiện để nhìn ngắm tâm hồn
mình. Sau 1975 với quan niệm con người thể, cùng với sự thức tỉnh của
nhân với nhu cầu tự ý thức, con người nhiều lúc cảm thấy cô đơn và có nhu cầu
nói to lên trạng thái tâm lý này. Hơn nữa, trong xã hội bộn bề đen trắng, tốt xấu
lẫn lộn hôm nay, đâu người tri âm tri kỷ, đâu là tình người, đâu là sự đồng cảm,
đâu là niềm tin? đơn vì thế trở thành điểm xoáy thu hút sự chú ý của nhiều
cây bút truyện ngắn. Nguyễn Huy Thiệp thường xây dựng những nhân vật
đơn: nỗi cô đơn khủng khiếp rằng xé tim chàng” (Sạ), nỗi cô đơn mênh mang
của cõi đời (Chút thoáng Xuân Hương), nhân vật trong Con gái thủy thần”,
“Chảy đi sông ơi”, “Tâm hồn mẹ” đều những nhân đơn đi tìm kiếm
niềm tin. Nguyễn Minh Châu lại day dứt với con người đơn bất hạnh sau
chiến tranh còn lại một khoảng trống vắng tâm hồn không gì bù lấp nổi (Cỏ lau).
Dương Thu Hương vật vã với kiểu con người đơn đi tìm tưởng, cứ phải
suốt đời loay hoay đi tìm kiếm những gì không thể với được trong tầm tay. Một
số cây bút nữ đã hướng ngòi bút vào số phận của những người đàn đi suốt
cuộc đời vẫn không tìm thấy một tổ ấm, một nơi trú ngụ tinh thần bởi sự thất
vọng về tình yêu , về người bạn đời, vì vậy họ luôn phải đối diện với sự trống
vắng của tâm hồn bởi sự hụt hẫng vô cớ thất thường của trạng thái cô đơn (Giai
nhân- Nguyễn Thị Thu Huệ, Người đàn bà có ma lực- Y Ban). Đặc biệt ở Phạm
Thị Hoài, cô đơn đã trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên của nhân vật. Nhân vật
60 Con người cô đơn đã từng được nói đến trong văn học trung đại nhưng chưa thật rõ nét. Đến văn học 1930-1945, con người cô đơn (cái tôi cô đơn) trở thành tâm trạng chung của các nhà Thơ mới. Thậm chí con người cô đơn được đẩy đến mức cực đoan, đến tận cùng. Họ tìm nhiều cách khác nhau để thoát khỏi trạng thái cô đơn: Thế Lữ thoát lên tiên, Lưu Trọng Lư phiêu diêu trong trường tình, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên điên cuồng trong hồn máu và tháp Chàm đổ nát, Xuân Diệu đắm say…Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, Huy Cận mang mối sầu vạn kỷ, sầu tới đáy hồn nhân thế, Chế Lan Viên muốn trốn mình tận phía cuối trời xa, rốt cục vẫn bế tắc tuyệt vọng không có lối thoát. Trong văn học hiện đại giai đoạn 1945-1975, cô đơn vẫn bị xem là chủ đề kiêng kỵ. Con người trong văn chương chủ yếu là con người tập thể. Chung quanh họ là bạn bè, đồng chí, dân tộc, cộng đồng, nhân loại. Cá nhân con người là nhỏ bé, không đáng kể. Con người không có điều kiện để nhìn ngắm tâm hồn mình. Sau 1975 với quan niệm con người cá thể, cùng với sự thức tỉnh của cá nhân với nhu cầu tự ý thức, con người nhiều lúc cảm thấy cô đơn và có nhu cầu nói to lên trạng thái tâm lý này. Hơn nữa, trong xã hội bộn bề đen trắng, tốt xấu lẫn lộn hôm nay, đâu người tri âm tri kỷ, đâu là tình người, đâu là sự đồng cảm, đâu là niềm tin? Cô đơn vì thế trở thành điểm xoáy thu hút sự chú ý của nhiều cây bút truyện ngắn. Nguyễn Huy Thiệp thường xây dựng những nhân vật cô đơn: “nỗi cô đơn khủng khiếp rằng xé tim chàng” (Sạ), nỗi cô đơn mênh mang của cõi đời (Chút thoáng Xuân Hương), nhân vật trong “ Con gái thủy thần”, “Chảy đi sông ơi”, “Tâm hồn mẹ” đều là những cá nhân cô đơn đi tìm kiếm niềm tin. Nguyễn Minh Châu lại day dứt với con người cô đơn bất hạnh sau chiến tranh còn lại một khoảng trống vắng tâm hồn không gì bù lấp nổi (Cỏ lau). Dương Thu Hương vật vã với kiểu con người cô đơn đi tìm lý tưởng, cứ phải suốt đời loay hoay đi tìm kiếm những gì không thể với được trong tầm tay. Một số cây bút nữ đã hướng ngòi bút vào số phận của những người đàn bà đi suốt cuộc đời vẫn không tìm thấy một tổ ấm, một nơi trú ngụ tinh thần bởi sự thất vọng về tình yêu , về người bạn đời, vì vậy họ luôn phải đối diện với sự trống vắng của tâm hồn bởi sự hụt hẫng vô cớ thất thường của trạng thái cô đơn (Giai nhân- Nguyễn Thị Thu Huệ, Người đàn bà có ma lực- Y Ban). Đặc biệt ở Phạm Thị Hoài, cô đơn đã trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên của nhân vật. Nhân vật
61
cô đơn do không có sự đồng cảm, mỗi nhân vật là một thế giới riêng, họ cô đơn
ngay giữa đám đông. Nhân vật cô đơn của Phạm Thị Hoài thường đối thoại với
nhau một cách rời rạc, không lô gích nghĩa. Chị thường sử dụng týp im
lặng, ngôn ngữ bất đồng. Nhân vật của chị thường đắm chìm trong những suy
nghĩ riêng tư, còn lời nói chỉ là chiếc vtrứng của sự im lặng”, khi hai
người ngồi bên nhau nhưng ngôn ngữ bất lực, mỗi người là một thế giới cô đơn,
không thể đồng cảm… Như vậy nỗi đơn trở thành một đề tài hấp dẫn
nhiều cây bút nữ lựa chọn khai thác. Có lẽ vì họ vừa là nhà văn vừa là người phụ
nữ bước ra từ cuộc sống đời nhất và thực nhất.
Đoàn cũng vậy, các nhân vật trong truyện ngắn của được khai
thác ở nhiều tình huống, cốt truyện khác nhau nhưng đều phảng phất nỗi cô đơn.
Khi xây dựng tác phẩm, nhà văn thường đứng ở góc độ người kể chuyện hoặc v
trí các nhân vật nữ. Vì thế nỗi cô đơn trong những sáng tác của bà nỗi cô đơn
tự nghiệm. Đó nỗi cô đơn, trống trải cùng niềm khát khao tình yêu, hạnh
phúc đến cháy lòng của một người con gái luôn bị những mặc cảm về sự thiếu
hụt của hình hài dày vò. Đêm đêm nàng vẫn sống vẫn dạo chơi với những người
tình trong mộng để xoa dịu sự khô cháy của những năm tháng cô độc (Dấu hỏi
gửi thượng đế). Đó cũng là nỗi cô đơn, niềm mong mỏi thầm lặng được che chở,
bảo vệ cho người mình yêu đến trọn đời, trọn kiếp của lão Guột trong (Tình
Guột), đó là nỗi cô đơn đau khổ ngấm ngầm của người phụ nữ có chồng phụ bạc
(Giường đôi xóm Chùa). Trong sáng tác của mình đôi khi Đoàn đề cập
đến nỗi cô đơn, độc của những người đàn ông chung tình như nỗi trống trải
của nhân vật “tôi” (Một ngày xứ em, Đêm ngâu vào). Họ đều tha thiết yêu một
người phụ nữ, nhưng hoàn cảnh chớ trêu đã khiến họ không đến được với người
phụ nữ mà họ yêu thương, tôn thờ. Nhân vật “tôi” (Một ngày xứ em) rơi vào nỗi
đơn trống trải do chiến tranh cướp mất người con gái anh yêu thương hứa
hẹn. Còn “tôi(Đêm ngâu vào) do một phút do dự thiếu quyết đoán, anh đã để
kẻ khác cướp mất người con gái anh yêu…Mỗi người một hoàn cảnh khác
nhau nhưng họ đều có chung nỗi cô đơn khắc khoải và cả niềm luyến tiếc xót xa
vì không đến được với người mình yêu. Song nổi bật trong những truyện ngắn
của Đoàn Lê là nỗi cô đơn của những người phụ nữ trong gia đình mà hôn nhân
không được toại nguyện. Họ cũng đã từng tình yêu hoặc lầm tưởng là được
yêu, sau một thời gian chung sống, họ nhận ra rất nhiều khiếm khuyết, rất nhiều
61 cô đơn do không có sự đồng cảm, mỗi nhân vật là một thế giới riêng, họ cô đơn ngay giữa đám đông. Nhân vật cô đơn của Phạm Thị Hoài thường đối thoại với nhau một cách rời rạc, không lô gích vô nghĩa. Chị thường sử dụng mô týp im lặng, ngôn ngữ bất đồng. Nhân vật của chị thường đắm chìm trong những suy nghĩ riêng tư, còn lời nói chỉ là “chiếc vỏ trứng của sự im lặng”, có khi hai người ngồi bên nhau nhưng ngôn ngữ bất lực, mỗi người là một thế giới cô đơn, không thể đồng cảm… Như vậy nỗi cô đơn trở thành một đề tài hấp dẫn mà nhiều cây bút nữ lựa chọn khai thác. Có lẽ vì họ vừa là nhà văn vừa là người phụ nữ bước ra từ cuộc sống đời nhất và thực nhất. Đoàn Lê cũng vậy, các nhân vật trong truyện ngắn của bà dù được khai thác ở nhiều tình huống, cốt truyện khác nhau nhưng đều phảng phất nỗi cô đơn. Khi xây dựng tác phẩm, nhà văn thường đứng ở góc độ người kể chuyện hoặc vị trí các nhân vật nữ. Vì thế nỗi cô đơn trong những sáng tác của bà là nỗi cô đơn tự nghiệm. Đó là nỗi cô đơn, trống trải cùng niềm khát khao tình yêu, hạnh phúc đến cháy lòng của một người con gái luôn bị những mặc cảm về sự thiếu hụt của hình hài dày vò. Đêm đêm nàng vẫn sống vẫn dạo chơi với những người tình trong mộng để xoa dịu sự khô cháy của những năm tháng cô độc (Dấu hỏi gửi thượng đế). Đó cũng là nỗi cô đơn, niềm mong mỏi thầm lặng được che chở, bảo vệ cho người mình yêu đến trọn đời, trọn kiếp của lão Guột trong (Tình Guột), đó là nỗi cô đơn đau khổ ngấm ngầm của người phụ nữ có chồng phụ bạc (Giường đôi xóm Chùa). Trong sáng tác của mình có đôi khi Đoàn Lê đề cập đến nỗi cô đơn, cô độc của những người đàn ông chung tình như nỗi trống trải của nhân vật “tôi” (Một ngày xứ em, Đêm ngâu vào). Họ đều tha thiết yêu một người phụ nữ, nhưng hoàn cảnh chớ trêu đã khiến họ không đến được với người phụ nữ mà họ yêu thương, tôn thờ. Nhân vật “tôi” (Một ngày xứ em) rơi vào nỗi cô đơn trống trải do chiến tranh cướp mất người con gái anh yêu thương hứa hẹn. Còn “tôi” (Đêm ngâu vào) do một phút do dự thiếu quyết đoán, anh đã để kẻ khác cướp mất người con gái anh yêu…Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng họ đều có chung nỗi cô đơn khắc khoải và cả niềm luyến tiếc xót xa vì không đến được với người mình yêu. Song nổi bật trong những truyện ngắn của Đoàn Lê là nỗi cô đơn của những người phụ nữ trong gia đình mà hôn nhân không được toại nguyện. Họ cũng đã từng có tình yêu hoặc lầm tưởng là được yêu, sau một thời gian chung sống, họ nhận ra rất nhiều khiếm khuyết, rất nhiều
62
điểm yếu nửa kia của mình. Thế họ rơi vào trạng thái hụt hẫng, chống
chếnh, nhất khi không tìm được sự hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung
họ rơi vào trạng thái cô đơn. Dẫu vậy họ vẫn cố chịu đựng để duy trì tổ ấm vốn
đã nguội lạnh tlâu của mình. Đó chính nét nhân văn đáng quý trong phẩm
chất của người phụ nữ: nhân vật Lê (Na ơi), nhân vật nữ ở (Đêm ngâu vào). Chỉ
đến khi nửa kia của mình phản bội khi dấu họ đi tìm niềm vui những người
phụ nữ khác ngoài gia đình thì họ lại độ lượng tha thứ rồi giải phóng cho người
chồng bội bạc để nhận lấy những thiệt thòi về mình. Có những người phụ nữ đi
hết cuộc đời vẫn chưa bao giờ hạnh phúc được làm vợ làm mẹ (Trái táo
nham nhở). Người phụ nữ ấy đã phải sống bên cạnh người đàn ông không yêu
mình đến hai ơi năm. Hai mươi m ấy chị không khỏi những lúc thấy
lòng trống trải, hụt hẫng, đơn không nắm được anh y, không biết anh
đang nghĩ gì. Đến khi chị nhận ra được con người thật của anh thì tất cả quá
muộn. Qua những nỗi đơn âm thầm của người phụ nữ, Đoàn không chỉ
gửi gắm sự đồng cảm sẻ chia như chính nỗi cô đơn của bản thân mà như muốn
gửi đến chúng ta những lời nhắn nhủ về tình yêu hôn nhân. Hãy biết sống
người khác và yêu thương thành thực. Hãy nắm lấy cơ hội tình yêu - hạnh phúc
khi nó đến để không phải sống trong trạng thái cô đơn đến hết cuộc đời.
Thể hiện trạng thái cô đơn của các nhân vật, Đoàn Lê đã sử dụng thủ phâp
độc thoại nội m với nhiều dạng thể hiện độc đáo như tự bạch, độc thoại với
người vắng mặt (Giường đôi xóm Chùa, Ngôi nhà gỗ, Trái táo nham nhở), dạng
viết nhật (Dấu hỏi gửi thượng đế), dạng đan xen giữa ý thức tiềm thức
khơi sâu vào nỗi đau có tính dồn nén (Một ngày xứ em). Đôi khi bằng sự đối lập
giữa hai mảng quá khứ và hiện tại, hồi ức và tưởng tượng, có khi được thể hiện
bằng thời gian đồng hiện, bằng các mạch phát triển của thời gian tâm trạng
(Đêm ngâu vào, Tình Guột, Trái táo nham nhở). Bằng những thủ pháp này Đoàn
Lê có điều kiện đi sâu khai thác và khám phá đến cùng cõi cô đơn của con người
cũng như số phận tinh thần của con người trong những cảnh huống cụ thể. Mỗi
mảnh đời một tâm trạng, hoài vọng, hạnh phúc, khổ đau, ước vỡ
mộng, khắc khoải lo âu…tức những mảnh ghép của sphận con người.
Ngoài những cách thể hiện trên, Đoàn Lê còn sử dụng nhiều khoảng không gian
đậm nhạt dồn nén, mở rộng khác nhau để đậm trạng thái đơn. Nhân vật
“tôi(Trái táo nham nhở) đã tự mình đối diện với nh trong không gian
62 điểm yếu ở nửa kia của mình. Thế là họ rơi vào trạng thái hụt hẫng, chống chếnh, nhất là khi không tìm được sự hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung họ rơi vào trạng thái cô đơn. Dẫu vậy họ vẫn cố chịu đựng để duy trì tổ ấm vốn đã nguội lạnh từ lâu của mình. Đó chính là nét nhân văn đáng quý trong phẩm chất của người phụ nữ: nhân vật Lê (Na ơi), nhân vật nữ ở (Đêm ngâu vào). Chỉ đến khi nửa kia của mình phản bội khi dấu họ đi tìm niềm vui ở những người phụ nữ khác ngoài gia đình thì họ lại độ lượng tha thứ rồi giải phóng cho người chồng bội bạc để nhận lấy những thiệt thòi về mình. Có những người phụ nữ đi hết cuộc đời mà vẫn chưa bao giờ có hạnh phúc được làm vợ làm mẹ (Trái táo nham nhở). Người phụ nữ ấy đã phải sống bên cạnh người đàn ông không yêu mình đến hai mươi năm. Hai mươi năm ấy chị không khỏi có những lúc thấy lòng trống trải, hụt hẫng, cô đơn vì không nắm được anh ấy, không biết anh đang nghĩ gì. Đến khi chị nhận ra được con người thật của anh thì tất cả quá muộn. Qua những nỗi cô đơn âm thầm của người phụ nữ, Đoàn Lê không chỉ gửi gắm sự đồng cảm sẻ chia như chính nỗi cô đơn của bản thân mà như muốn gửi đến chúng ta những lời nhắn nhủ về tình yêu hôn nhân. Hãy biết sống vì người khác và yêu thương thành thực. Hãy nắm lấy cơ hội tình yêu - hạnh phúc khi nó đến để không phải sống trong trạng thái cô đơn đến hết cuộc đời. Thể hiện trạng thái cô đơn của các nhân vật, Đoàn Lê đã sử dụng thủ phâp độc thoại nội tâm với nhiều dạng thể hiện độc đáo như tự bạch, độc thoại với người vắng mặt (Giường đôi xóm Chùa, Ngôi nhà gỗ, Trái táo nham nhở), dạng viết nhật ký (Dấu hỏi gửi thượng đế), dạng đan xen giữa ý thức và tiềm thức khơi sâu vào nỗi đau có tính dồn nén (Một ngày xứ em). Đôi khi bằng sự đối lập giữa hai mảng quá khứ và hiện tại, hồi ức và tưởng tượng, có khi được thể hiện bằng thời gian đồng hiện, bằng các mạch phát triển của thời gian tâm trạng (Đêm ngâu vào, Tình Guột, Trái táo nham nhở). Bằng những thủ pháp này Đoàn Lê có điều kiện đi sâu khai thác và khám phá đến cùng cõi cô đơn của con người cũng như số phận tinh thần của con người trong những cảnh huống cụ thể. Mỗi mảnh đời là một tâm trạng, là hoài vọng, là hạnh phúc, khổ đau, là ước mơ vỡ mộng, là khắc khoải lo âu…tức là những mảnh ghép của số phận con người. Ngoài những cách thể hiện trên, Đoàn Lê còn sử dụng nhiều khoảng không gian đậm nhạt dồn nén, mở rộng khác nhau để tô đậm trạng thái cô đơn. Nhân vật “tôi” (Trái táo nham nhở) đã tự mình đối diện với mình trong không gian cá
63
nhân với những dằn vặt cào xé để nhận ra tất cả tình trạng bi kịch của mình cũng
như con người thật của kẻ mà chị hết lòng yêu thương. Nhân vật “tôi” (Giường
đôi xóm Chùa) lại sử dụng không gian chiếc giường để độc thoại nội tâm trong
nỗi cô đơn vô tận.
Tóm lại bằng những thủ pháp riêng, Đoàn Lê đã thể hiện con người
đơn với những tâm trạng khác nhau, những bi kịch ngầm diễn ra trong tâm
hồn vốn muôn màu đa dạng của con người. Đi vào thể hiện nhân vật đơn,
Đoàn Lê giúp người đọc hiện đại hiểu mình hơn, hiểu rõ những tình cảm sâu kín
thuộc về con người, hiểu cả những ẩn ức kìm nén trong nội tâm con người, phần
mà trước nay con người vẫn dấu kín.
2.2. Nhân vật thức tỉnh, tự ý thức.
Đây kiểu nhân vật điển hình của văn học hiện thực. Nhân vật “thức
tỉnh” hay “tự ý thức” kiểu nhân vật tự nhận thấy bản thân mình cần hướng tới
sự hoàn thiện về nhân cách, hướng tới cái thiện, i đẹp để chế ngự cái ác, cái
xấu. Kiểu nhân vật này còn được gọi nhân vật tư tưởng, bộc lộ sự quan m
của nhà văn về lối sống đạo đức của con người. Chỉ có tự nhận thức con người
mới phát hiện ra chính mình. Con người thức tỉnh, tự ý thức con người được
nhìn từ bên trong, là con người trầm nghiền ngẫm, tự nhận diện chính mình.
Đây là kiểu nhân vật năng lực phản tỉnh, tự ý thức về mình. Con người thức
tỉnh tự ý thức bộc lộ chiều sâu mới trong quan niệm nghệ thuật về con người. Nó
gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao của nhà văn về giá trị nhân. Trong
văn học con người tự nhận thức chỉ xuất hiện một khi cái tôi thể được quan
tâm đúng mức. Sự vận động phát triển của văn học từ chỗ miêu tả quá trình
nhận thức của nhân vật đến chỗ miêu tả q trình tự nhận thức. Nhân vật từ chỗ
nhận thức thế giới xung quanh, đánh giá phán xét người khác đến chỗ tự khám
phá phân tích, tự quan sát nội tâm mình.
Nhân vật thức tỉnh, tự ý thức mỗi giai đoạn văn học được hiểu theo
những cách khác nhau. Giai đoạn văn học trước 1975 do chịu nhiều chi phối của
văn học kháng chiến, thường hướng tới cái Ta cộng đồng cho nên kiểu nhân vật
này mặc thể hiện được những tính cách điển hình nhưng vẫn tiêu biểu cho
một lớp người trong xã hội. Sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo (trong Chí Phèo
của Nam Cao) là nhờ tình thương và bằng tình thương. Đó là sự trở về của tính
người sau bao năm làm quỷ dữ. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm điên say, Chí lại
63 nhân với những dằn vặt cào xé để nhận ra tất cả tình trạng bi kịch của mình cũng như con người thật của kẻ mà chị hết lòng yêu thương. Nhân vật “tôi” (Giường đôi xóm Chùa) lại sử dụng không gian chiếc giường để độc thoại nội tâm trong nỗi cô đơn vô tận. Tóm lại bằng những thủ pháp riêng, Đoàn Lê đã thể hiện con người cô đơn với những tâm trạng khác nhau, những bi kịch ngầm diễn ra trong tâm hồn vốn muôn màu đa dạng của con người. Đi vào thể hiện nhân vật cô đơn, Đoàn Lê giúp người đọc hiện đại hiểu mình hơn, hiểu rõ những tình cảm sâu kín thuộc về con người, hiểu cả những ẩn ức kìm nén trong nội tâm con người, phần mà trước nay con người vẫn dấu kín. 2.2. Nhân vật thức tỉnh, tự ý thức. Đây là kiểu nhân vật điển hình của văn học hiện thực. Nhân vật “thức tỉnh” hay “tự ý thức” là kiểu nhân vật tự nhận thấy bản thân mình cần hướng tới sự hoàn thiện về nhân cách, hướng tới cái thiện, cái đẹp để chế ngự cái ác, cái xấu. Kiểu nhân vật này còn được gọi là nhân vật tư tưởng, bộc lộ sự quan tâm của nhà văn về lối sống đạo đức của con người. Chỉ có tự nhận thức con người mới phát hiện ra chính mình. Con người thức tỉnh, tự ý thức là con người được nhìn từ bên trong, là con người trầm tư nghiền ngẫm, tự nhận diện chính mình. Đây là kiểu nhân vật có năng lực phản tỉnh, tự ý thức về mình. Con người thức tỉnh tự ý thức bộc lộ chiều sâu mới trong quan niệm nghệ thuật về con người. Nó gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao của nhà văn về giá trị cá nhân. Trong văn học con người tự nhận thức chỉ xuất hiện một khi cái tôi cá thể được quan tâm đúng mức. Sự vận động phát triển của văn học là từ chỗ miêu tả quá trình nhận thức của nhân vật đến chỗ miêu tả quá trình tự nhận thức. Nhân vật từ chỗ nhận thức thế giới xung quanh, đánh giá phán xét người khác đến chỗ tự khám phá phân tích, tự quan sát nội tâm mình. Nhân vật thức tỉnh, tự ý thức ở mỗi giai đoạn văn học được hiểu theo những cách khác nhau. Giai đoạn văn học trước 1975 do chịu nhiều chi phối của văn học kháng chiến, thường hướng tới cái Ta cộng đồng cho nên kiểu nhân vật này mặc dù thể hiện được những tính cách điển hình nhưng vẫn tiêu biểu cho một lớp người trong xã hội. Sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo (trong Chí Phèo của Nam Cao) là nhờ tình thương và bằng tình thương. Đó là sự trở về của tính người sau bao năm làm quỷ dữ. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm điên say, Chí lại
64
được sống cảm giác con người, nghe được những âm thanh quen thuộc của cuộc
sống, nhớ lại ước mơ của một thời lương thiện. Cũng trong giây phút thức tỉnh,
tự ý thức, hắn nhận ra tất cả hoàn cảnh bi kịch của mình: hắn già rồi mà vẫn còn
cô độc, rồi hắn ước được làm hòa với mọi người, được mọi người nhận lại vào
hội bằng phẳng của những người lương thiện. Như vậy quá trình thức tỉnh
của Chí gắn với khát khao hướng thiện, gắn với khát vọng được làm người
lương thiện như bao người bình thường khác. Quá trình thức tỉnh đó chẳng đáng
trân trọng lắm sao? Cùng với Chí Phèo, Nam Cao xây dựng hàng loạt truyện
(Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn…) chủ đề thức tỉnh, tự ý thức. Nhân vật
của Nam cao là con người luôn dằn vặt với chính mình về sự hèn hạ của nhân
cách, về phần “con” trong con người. Nhiều truyện của Nam Cao cho thấy ranh
giới giữa thiện và ác, giữa con và người chỉ là “Sợi tóc” mong manh.
Văn học hiện đại sau 1975, vấn đề thức tỉnh tự ý thức trở thành một cảm
hứng mới và vô cùng hấp dẫn với các nhà văn. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
hầu hết những bi kịch tự ý thức với những con người luôn luôn tlàm khổ
chính mình. Người họa sỹ trong truyện ngắn “Bức tranh” luôn đeo đẳng sự ăn
năn , sám hối về lỗi lầm của mình với người lính ngày trước. Suốt cả câu chuyện
là tâm trạng day dứt, dằn vặt của nhân vật họa sỹ bất chợt nhận ra bộ mặt thật
của mình và tự phán xét mình. Quá trình đó diễn ra phức tạp, nhân vật cùng một
lúc được đặt vào nhiều vị trí: vừa là phạm nhân vừa là nhân chứng, quan tòa lẫn
luật sư, vừa kết tội lại có lúc lẩn trốn, tự bào chữa. Người họa sỹ luôn mang hai
bộ mặt: một bộ mặt hàng ngày của một họa sỹ nổi danh tài hoa, khuôn mặt được
người họa sỹ quen biết “nâng niu như sờ đụng một vật quý”. Ẩn kín n trong
bộ mặt thường ngày đó một bộ mặt khác, lồ lộ hiện ra khi anh họa sỹ ngồi
trước gương nhìn ngắm mình, một bộ mặt “vừa được lộ ra khỏi cái mặt nạ hàng
ngày đang phản chiếu trong tấm gương”. Cuối cùng anh họa sỹ tự nhận ra chính
mình “trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt- kẻ xấu, rồng phượng lẫn
rắn rết, thiên thần ác quỷ”. Quá trình thức tỉnh tự ý thức đó khiến nhân vật
sống Thiện hơn. Con người thức tỉnh tự ý thức cũng được thể hiện sâu sắc trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là những vòng
quay cuộc đời tình yêu, hạnh phúc, đau khổ, tội lỗi, có bi kịch của dục vọng
thấp hèn, phẩm giá lương m. Với tất cả sự khách quan giá lạnh, Nguyễn
Huy Thiệp đẩy nhân vật xuống đáy sâu vực thẳm, dồn ép con người vào ranh
64 được sống cảm giác con người, nghe được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống, nhớ lại ước mơ của một thời lương thiện. Cũng trong giây phút thức tỉnh, tự ý thức, hắn nhận ra tất cả hoàn cảnh bi kịch của mình: hắn già rồi mà vẫn còn cô độc, rồi hắn ước được làm hòa với mọi người, được mọi người nhận lại vào xã hội bằng phẳng của những người lương thiện. Như vậy quá trình thức tỉnh của Chí gắn với khát khao hướng thiện, gắn với khát vọng được làm người lương thiện như bao người bình thường khác. Quá trình thức tỉnh đó chẳng đáng trân trọng lắm sao? Cùng với Chí Phèo, Nam Cao xây dựng hàng loạt truyện (Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn…) có chủ đề thức tỉnh, tự ý thức. Nhân vật của Nam cao là con người luôn dằn vặt với chính mình về sự hèn hạ của nhân cách, về phần “con” trong con người. Nhiều truyện của Nam Cao cho thấy ranh giới giữa thiện và ác, giữa con và người chỉ là “Sợi tóc” mong manh. Văn học hiện đại sau 1975, vấn đề thức tỉnh tự ý thức trở thành một cảm hứng mới và vô cùng hấp dẫn với các nhà văn. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu hầu hết là những bi kịch tự ý thức với những con người luôn luôn tự làm khổ chính mình. Người họa sỹ trong truyện ngắn “Bức tranh” luôn đeo đẳng sự ăn năn , sám hối về lỗi lầm của mình với người lính ngày trước. Suốt cả câu chuyện là tâm trạng day dứt, dằn vặt của nhân vật họa sỹ bất chợt nhận ra bộ mặt thật của mình và tự phán xét mình. Quá trình đó diễn ra phức tạp, nhân vật cùng một lúc được đặt vào nhiều vị trí: vừa là phạm nhân vừa là nhân chứng, quan tòa lẫn luật sư, vừa kết tội lại có lúc lẩn trốn, tự bào chữa. Người họa sỹ luôn mang hai bộ mặt: một bộ mặt hàng ngày của một họa sỹ nổi danh tài hoa, khuôn mặt được người họa sỹ quen biết “nâng niu như sờ đụng một vật quý”. Ẩn kín bên trong bộ mặt thường ngày đó là một bộ mặt khác, lồ lộ hiện ra khi anh họa sỹ ngồi trước gương nhìn ngắm mình, một bộ mặt “vừa được lộ ra khỏi cái mặt nạ hàng ngày đang phản chiếu trong tấm gương”. Cuối cùng anh họa sỹ tự nhận ra chính mình “trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt- kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”. Quá trình thức tỉnh tự ý thức đó khiến nhân vật sống Thiện hơn. Con người thức tỉnh tự ý thức cũng được thể hiện sâu sắc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là những vòng quay cuộc đời có tình yêu, hạnh phúc, đau khổ, tội lỗi, có bi kịch của dục vọng thấp hèn, có phẩm giá lương tâm. Với tất cả sự khách quan giá lạnh, Nguyễn Huy Thiệp đẩy nhân vật xuống đáy sâu vực thẳm, dồn ép con người vào ranh
65
giới mong manh giữa thiện-ác, vươn trượt rồi lại vực con người dậy, trả lại cho
họ chất người vừa đẹp đẽ vừa phàm tục (Muối của rừng, Giọt máu)
Ngoài những đặc điểm trên, nhân vật thức tỉnh tự ý thức trong sáng tác
của Đoàn Lê còn có một đặc điểm nổi bật khác là quá trình thức tỉnh tâm hồn ý
thức của nhân vật thường gắn với cuộc truy vấn lương tâm của nhân vật. Trong
tác phẩm Lão già tâm thần, nhà văn đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của lão
Khảm - Tổng công trình sư cầu Bội. Đó là quá trình tự vấn lương tâm, quá trình
thức tỉnh lươnng tri của lão trước những sai lầm mà lão đã mắc phải. Chỉ lời
hứa hẹn được cất nhắc thăng tiến của ngài Bí thư Tỉnh ủy lão nỡ nhắm mắt
bỏ qua tuổi thọ của cây cầu cùng biết bao sinh mạng của những con người ngày
đêm qua lại cây cầu ấy, lão còn bỏ lỡ cả tình yêu hạnh phúc riêng, phụ bạc một
người con gái suốt đời yêu lão để theo đuổi chút công danh phù phiếm đó.
khi cây cầu hoàn thiện cũng là lúc lương tâm lão lên tiếng mắng nhiếc, chửi rủa
thúc giục lão ra đầu thú. Lão đã phải sống dật dờ như một cái bóng suốt 10 năm.
Mười năm tự vấn lương tâm, mười năm ám ảnh để đi đến một quyết định khó
khăn - quyết định đầu thú. Quyết định này cũng có nghĩa là lão chấm dứt cuộc
sống tự do về thân thể nhưng một cuộc giải tỏa về tinh thần, trút bỏ "khối u
nhọt" đè nặng lên tâm hồn lão suốt bao năm qua. Nhưng thật là đau đớn, xót xa,
ngay cả quyết định muốn được làm người lương thiện, muốn được sng là mình
của lão cũng bị người ta tước đoạt nốt. Bởi thế đúng lúc cần phải hùng hồn nói
lên tất cả những điều đeo đẳng, bám diết lão về cây cầu, nói về những nung nấu
khổ sở của mình khi bị người ta sai khiến trong quá trình xây dựng cây cầu thì
lão lại yếu ớt run rẩy đến thảm hại rồi lão đổ vật trước sự hào nhoáng uy
quyền của đám người đó. Vừa tỉnh lại lão lại nhận thêm một cú sốc còn choáng
váng hơn. Chính con người dùng quyền lực mua chuộc lương tâm của lão, sai
khiến lão làm bậy giờ lại dùng chính căn bệnh tâm thần vốn không thuộc về lão
để phản bác lại bản tường trình, tự thú mà lão đã nung nấu suốt hơn mười năm
qua. Rốt cục lão Khảm lại trở thành kẻ tâm thần, một người mắc bệnh hoang
tưởng để nhận sự cảm thông thương hại từ phía đoàn thanh tra. Một lần nữa lão
lại bị đánh gục, lão trở nên nhỏ nhoi vô nghĩa trước sức mạnh của uy quyền. Lão
đã bỏ cuộc đúng lúc cần phải kiên định. Lão đã xây một cây cầu trong tội lỗi, lão
đã sám hối rồi phản bội sự thật ngay trong sự sám hối đó. Chỉ đến khi cây cầu
65 giới mong manh giữa thiện-ác, vươn trượt rồi lại vực con người dậy, trả lại cho họ chất người vừa đẹp đẽ vừa phàm tục (Muối của rừng, Giọt máu) Ngoài những đặc điểm trên, nhân vật thức tỉnh tự ý thức trong sáng tác của Đoàn Lê còn có một đặc điểm nổi bật khác là quá trình thức tỉnh tâm hồn ý thức của nhân vật thường gắn với cuộc truy vấn lương tâm của nhân vật. Trong tác phẩm Lão già tâm thần, nhà văn đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của lão Khảm - Tổng công trình sư cầu Bội. Đó là quá trình tự vấn lương tâm, quá trình thức tỉnh lươnng tri của lão trước những sai lầm mà lão đã mắc phải. Chỉ vì lời hứa hẹn được cất nhắc thăng tiến của ngài Bí thư Tỉnh ủy mà lão nỡ nhắm mắt bỏ qua tuổi thọ của cây cầu cùng biết bao sinh mạng của những con người ngày đêm qua lại cây cầu ấy, lão còn bỏ lỡ cả tình yêu hạnh phúc riêng, phụ bạc một người con gái suốt đời yêu lão để theo đuổi chút công danh phù phiếm đó. Và khi cây cầu hoàn thiện cũng là lúc lương tâm lão lên tiếng mắng nhiếc, chửi rủa thúc giục lão ra đầu thú. Lão đã phải sống dật dờ như một cái bóng suốt 10 năm. Mười năm tự vấn lương tâm, mười năm ám ảnh để đi đến một quyết định khó khăn - quyết định đầu thú. Quyết định này cũng có nghĩa là lão chấm dứt cuộc sống tự do về thân thể nhưng là một cuộc giải tỏa về tinh thần, trút bỏ "khối u nhọt" đè nặng lên tâm hồn lão suốt bao năm qua. Nhưng thật là đau đớn, xót xa, ngay cả quyết định muốn được làm người lương thiện, muốn được sống là mình của lão cũng bị người ta tước đoạt nốt. Bởi thế đúng lúc cần phải hùng hồn nói lên tất cả những điều đeo đẳng, bám diết lão về cây cầu, nói về những nung nấu khổ sở của mình khi bị người ta sai khiến trong quá trình xây dựng cây cầu thì lão lại yếu ớt run rẩy đến thảm hại rồi lão đổ vật trước sự hào nhoáng và uy quyền của đám người đó. Vừa tỉnh lại lão lại nhận thêm một cú sốc còn choáng váng hơn. Chính con người dùng quyền lực mua chuộc lương tâm của lão, sai khiến lão làm bậy giờ lại dùng chính căn bệnh tâm thần vốn không thuộc về lão để phản bác lại bản tường trình, tự thú mà lão đã nung nấu suốt hơn mười năm qua. Rốt cục lão Khảm lại trở thành kẻ tâm thần, một người mắc bệnh hoang tưởng để nhận sự cảm thông thương hại từ phía đoàn thanh tra. Một lần nữa lão lại bị đánh gục, lão trở nên nhỏ nhoi vô nghĩa trước sức mạnh của uy quyền. Lão đã bỏ cuộc đúng lúc cần phải kiên định. Lão đã xây một cây cầu trong tội lỗi, lão đã sám hối rồi phản bội sự thật ngay trong sự sám hối đó. Chỉ đến khi cây cầu
66
thực sự sụp đổ, lão mới được minh oan. Quá trình thức tỉnh tự ý thức này khiến
tâm hồn lão trở lên thanh sạch, xứng đáng là CON NGƯỜI.
Cũng viết về kiểu nhân vật thức tỉnh, tự ý thức, Đoàn Lê còn đề cập trong
một truyện ngắn đầy ám ảnh khác- truyện Trái táo nham nhở. Cốt truyện Trái
táo nham nhở là quá trình nhân vật tôi tự vấn lương tâm trước những câu hỏi
về tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc bản thân phải đánh đổi bằng cả cuộc đời.
Sai lầm lớn nhất cuộc đời chị là đã yêu bằng tất cả tấm lòng chân thành cùng sự
hy sinh âm thầm tận tụy một người đàn ông không nh cho chị. Cũng u
mù quáng nên chị không hề nhận ra con người thực của anh, và cũng không hề
nhận ra mình chưa bao giờ được yêu theo đúng nghĩa của nó. Bởi thế chị đã điên
cuồng hy sinh cho anh ta, chị sẵn sàng đánh đổi cả tháng trời không ngủ để kiếm
tiền cho anh đi thực tế mong khuây khỏa những bức bối trong nghề nghiệp của
anh ta không hề biết bản chất của những chuyến đi ấy. Chị đâu biết đó
những lần anh ta phản bội chị đi tìm kiếm bất cứ người đàn “dịu hiền” nào.
rồi việc phải đến đã đến như một quy luật tất yếu, chị đã phải nhận một
thực tế phũ phàng - một cuộc chia tay vĩnh viễn sau hơn hai mươi năm tận tụy
phụng sự yêu thương, chăm sóc một người đàn ông không dành cho chị. Lúc ấy
chị mới tỉnh ngộ để bình tĩnh xét đoán mọi chuyện. Chị đã bao lần tự vấn lương
tâm để bào chữa cho những sai lầm của mình, chị đã đặt ra hàng loạt câu hỏi, rồi
lại tự tìm cách trả lời: “hay anh ta bị khủng hoảng tinh thần? bị hoang tưởng? bị
tâm thần? Lá thư kia chẳng qua anh ta tự bày đặt, hoang tưởng, nhưng nếu anh
ta không tâm thần, nếu đó là sự thật tàn nhẫn?Hàng loạt câu hỏi khiến đầu
chị như muốn nổ tung. Chị chán trách hận rồi lại quay sang bào chữa cho anh ta
và chấp nhận một sự thật rằng sẽ chẳng bao giờ anh ta và chị còn sum họp nữa.
Đó cũng lần đầu tiên chị nghiêm khắc xét lại anh từ chân kẽ tóc Anh
tưởng mình ghê gớm lắm sao? Thiên tài ư? Cao quý ư? Không tôi đã trả giá quá
đắt bằng cả cuộc đời mình cho một kẻ tầm thường nhất trong n những kẻ
tầm thường, một thứ giẻ rách!”. Vậy chị đã yêu anh bằng tất cả những năm
tháng tuổi xuân, đã hy sinh cho anh bằng tất cả sự tận tụy của mình. Sau khi
trách anh chị lại quay lại tự trách mình không biết anh đánh cắp cuộc đời tôi
hay tôi đánh cắp cuộc đời anh? Nhân danh tình yêu, tôi đã giam chặt anh chiếm
hữu anh thành tài sản riêng, tước đoạt của anh tất cả niềm vui sống hồn nhiên
nhất”. Q trình tự vấn này khiến nhân vật của Đoàn thật nhân ái thánh
66 thực sự sụp đổ, lão mới được minh oan. Quá trình thức tỉnh tự ý thức này khiến tâm hồn lão trở lên thanh sạch, xứng đáng là CON NGƯỜI. Cũng viết về kiểu nhân vật thức tỉnh, tự ý thức, Đoàn Lê còn đề cập trong một truyện ngắn đầy ám ảnh khác- truyện Trái táo nham nhở. Cốt truyện Trái táo nham nhở là quá trình nhân vật “tôi” tự vấn lương tâm trước những câu hỏi về tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc mà bản thân phải đánh đổi bằng cả cuộc đời. Sai lầm lớn nhất cuộc đời chị là đã yêu bằng tất cả tấm lòng chân thành cùng sự hy sinh âm thầm tận tụy một người đàn ông không dành cho chị. Cũng vì yêu mù quáng nên chị không hề nhận ra con người thực của anh, và cũng không hề nhận ra mình chưa bao giờ được yêu theo đúng nghĩa của nó. Bởi thế chị đã điên cuồng hy sinh cho anh ta, chị sẵn sàng đánh đổi cả tháng trời không ngủ để kiếm tiền cho anh đi thực tế mong khuây khỏa những bức bối trong nghề nghiệp của anh ta mà không hề biết bản chất của những chuyến đi ấy. Chị đâu biết đó là những lần anh ta phản bội chị đi tìm kiếm bất cứ người đàn bà “dịu hiền” nào. Và rồi việc gì phải đến đã đến như một quy luật tất yếu, chị đã phải nhận một thực tế phũ phàng - một cuộc chia tay vĩnh viễn sau hơn hai mươi năm tận tụy phụng sự yêu thương, chăm sóc một người đàn ông không dành cho chị. Lúc ấy chị mới tỉnh ngộ để bình tĩnh xét đoán mọi chuyện. Chị đã bao lần tự vấn lương tâm để bào chữa cho những sai lầm của mình, chị đã đặt ra hàng loạt câu hỏi, rồi lại tự tìm cách trả lời: “hay anh ta bị khủng hoảng tinh thần? bị hoang tưởng? bị tâm thần? Lá thư kia chẳng qua anh ta tự bày đặt, hoang tưởng, nhưng nếu anh ta không tâm thần, nếu đó là sự thật tàn nhẫn?…” Hàng loạt câu hỏi khiến đầu chị như muốn nổ tung. Chị chán trách hận rồi lại quay sang bào chữa cho anh ta và chấp nhận một sự thật rằng sẽ chẳng bao giờ anh ta và chị còn sum họp nữa. Đó cũng là lần đầu tiên chị nghiêm khắc xét lại anh từ chân tơ kẽ tóc “Anh tưởng mình ghê gớm lắm sao? Thiên tài ư? Cao quý ư? Không tôi đã trả giá quá đắt bằng cả cuộc đời mình cho một kẻ tầm thường nhất trong vô vàn những kẻ tầm thường, một thứ giẻ rách!”. Vậy mà chị đã yêu anh bằng tất cả những năm tháng tuổi xuân, đã hy sinh cho anh bằng tất cả sự tận tụy của mình. Sau khi trách anh chị lại quay lại tự trách mình “không biết anh đánh cắp cuộc đời tôi hay tôi đánh cắp cuộc đời anh? Nhân danh tình yêu, tôi đã giam chặt anh chiếm hữu anh thành tài sản riêng, tước đoạt của anh tất cả niềm vui sống hồn nhiên nhất”. Quá trình tự vấn này khiến nhân vật của Đoàn Lê thật nhân ái thánh
67
thiện. Ngay cả khi bị phản bội tàn nhẫn đau đớn, chị vẫn đứng về phía anh để
bào chữa cho anh, truy vấn lương tâm mình, nhận lấy những mất mát thiệt thòi
về mình. Sau những cuộc truy vấn lương m, nhân vật của Đoàn luôn đạt
đến sự thánh thiện trong tâm hồn, hoàn thiện về nhân cách tức đạt đến chân
giá trị của cái ĐẸP và cái THIỆN.
2.3 Nhân vật ảo.
Văn học Việt Nam hiện đại từ sau đổi mới 1986 xuất hiện một xu hướng
mới- xu hướng “hiện thực huyền ảo. đó yếu tố kỳ ảo được đưa vào văn học
khá dày đặc trở thành một dòng riêng với những tên tuổi như: Nguyễn Huy
Thiệp, Lưu Minh Sơn, Phạm Hải Vân, Hòa Vang, Võ Thị Hảo…Trong đó Đoàn
Lê cũng được biết đến như một hiện tượng.
Triết gia Ấn Độ hiện đại Vivekanađa từng nói: “Thế giới này nhỏ bé lắm,
cho nên người ta phải thêm vào đó một chút tưởng tượng”. Quả thật phải thêm
vào đó một chút tưởng tượng bay bổng thì cái thế giới chật hẹp ấy mới mở rộng
ra đến khôn cùng, nếu không thì cứ mãi còn chật hẹp, thô sơ như một quan
niệm cũng rất chật hẹp thô sơ về chủ nghĩa hiện thực. Thủ pháp huyền ảo đã mở
ra khả năng mới mẻ trong việc khám phá và thể hiện con người. Hệ thống nhân
vật ảo có vẻ không thật, hoang đường nhưng không đối lập với hiện thực mà bổ
sung cho thế giới nhân vật trong cuộc đời thực, khắc họa đậm nét hơn cho con
người thời đại. Bởi thế trong những truyện ngắn có yếu tố kỳ ảo của Đoàn Lê,
cái thực vẫn là trụ cột, vẫn là điểm tựa cho cái ảo. Hiện thực đôi lúc chỉ bị xóa
mờ chứ không bị chối bỏ. Yếu tố kỳ ảo trong những trường hợp ấy chỉ tác
dụng làm lạ hóa hiện thực, thay đổi một góc nhìn hiện thực, chưa phải là yếu tố
làm xoay chuyển và quyết định hiện thực nghệ thuật (Nhân Bản, Chờ nhật thực,
Lên Ruồi, Nghĩa địa xóm Chùa). Trong những truyện ngắn này, Đoàn xây
dựng nhiều kiểu nhân vật: nhân vật tưởng tượng, nhân vật dị hình, nhân vật hóa
thân…Dù được sáng tạo ở chất liệu nào thì kiểu nhân vật ảo cũng góp phần giúp
nhà văn mở rộng khả năng phản ánh cuộc sống, giúp bạn đọc chiếm lĩnh ý nghĩa
tác phẩm một cách trọn vẹn nhất.
Thông qua kiểu nhân vật này, nhà văn muốn mở rộng diện khám phá cả
trên bề mặt lẫn tầng chìm của cuộc sống hiện đại. Nhân vật ảo có lúc là cả một
thế giới hồn ma của cõi âm “Nghĩa địa xóm Chùa”. Câu chuyện được bắt nguồn
từ việc nhầm lẫn xác một vị tướng với một ông thợ điện bậc ba đã về hưu. Từ sự
67 thiện. Ngay cả khi bị phản bội tàn nhẫn đau đớn, chị vẫn đứng về phía anh để bào chữa cho anh, truy vấn lương tâm mình, nhận lấy những mất mát thiệt thòi về mình. Sau những cuộc truy vấn lương tâm, nhân vật của Đoàn Lê luôn đạt đến sự thánh thiện trong tâm hồn, hoàn thiện về nhân cách tức là đạt đến chân giá trị của cái ĐẸP và cái THIỆN. 2.3 Nhân vật ảo. Văn học Việt Nam hiện đại từ sau đổi mới 1986 xuất hiện một xu hướng mới- xu hướng “hiện thực huyền ảo”. Ở đó yếu tố kỳ ảo được đưa vào văn học khá dày đặc trở thành một dòng riêng với những tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Minh Sơn, Phạm Hải Vân, Hòa Vang, Võ Thị Hảo…Trong đó Đoàn Lê cũng được biết đến như một hiện tượng. Triết gia Ấn Độ hiện đại Vivekanađa từng nói: “Thế giới này nhỏ bé lắm, cho nên người ta phải thêm vào đó một chút tưởng tượng”. Quả thật phải thêm vào đó một chút tưởng tượng bay bổng thì cái thế giới chật hẹp ấy mới mở rộng ra đến khôn cùng, nếu không thì nó cứ mãi còn chật hẹp, thô sơ như một quan niệm cũng rất chật hẹp thô sơ về chủ nghĩa hiện thực. Thủ pháp huyền ảo đã mở ra khả năng mới mẻ trong việc khám phá và thể hiện con người. Hệ thống nhân vật ảo có vẻ không thật, hoang đường nhưng không đối lập với hiện thực mà bổ sung cho thế giới nhân vật trong cuộc đời thực, khắc họa đậm nét hơn cho con người thời đại. Bởi thế trong những truyện ngắn có yếu tố kỳ ảo của Đoàn Lê, cái thực vẫn là trụ cột, vẫn là điểm tựa cho cái ảo. Hiện thực đôi lúc chỉ bị xóa mờ chứ không bị chối bỏ. Yếu tố kỳ ảo trong những trường hợp ấy chỉ có tác dụng làm lạ hóa hiện thực, thay đổi một góc nhìn hiện thực, chưa phải là yếu tố làm xoay chuyển và quyết định hiện thực nghệ thuật (Nhân Bản, Chờ nhật thực, Lên Ruồi, Nghĩa địa xóm Chùa). Trong những truyện ngắn này, Đoàn Lê xây dựng nhiều kiểu nhân vật: nhân vật tưởng tượng, nhân vật dị hình, nhân vật hóa thân…Dù được sáng tạo ở chất liệu nào thì kiểu nhân vật ảo cũng góp phần giúp nhà văn mở rộng khả năng phản ánh cuộc sống, giúp bạn đọc chiếm lĩnh ý nghĩa tác phẩm một cách trọn vẹn nhất. Thông qua kiểu nhân vật này, nhà văn muốn mở rộng diện khám phá cả trên bề mặt lẫn tầng chìm của cuộc sống hiện đại. Nhân vật ảo có lúc là cả một thế giới hồn ma của cõi âm “Nghĩa địa xóm Chùa”. Câu chuyện được bắt nguồn từ việc nhầm lẫn xác một vị tướng với một ông thợ điện bậc ba đã về hưu. Từ sự