Luận văn Thạc sĩ Văn học: Đặc điểm của tùy bút trong Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

88
942
102
tuởng của tác giả, làm hiện lên một nhân cách, một chủ thể giàu có về tâm tình, sắc sảo về trí
tuệ”[38/362]. Nhưng đặc biệt hơn người đọc thấy được tình cảm nhân văn cao cả họ
dành cho đất nước. Toàn bài tuỳ bút Dòng kinh quê huơng của Nguyễn Thi là “Những suy tư
bão hoà cảm xúc về quê huơng khi trở về dòng kinh quen thuộc nay đã bị bom na-pan
chất độc hoá học Mĩ tàn phá. Nhiệt tình tố cáo quyện chặt với tình yêu quê huơng và ý c
quyết tâm chiến đấu bảo vệ tổ quốc.”[38/362]. Vì thế chúng ta nhận thấy trong giọng điệu ấy
vừa có cái tha thiết khi gặp lại dòng kinh, “Tôi lại đuợc bơi trên dòng kinh quê huơng, nhìn
hoa súng chao mình theo dòng nước. Giọng đưa em tình nghĩa vẫn vang lên… nào có ai đếm
được đình bao nhiêu ngói để biết được lòng ta thương mình…”[78/50]. Vừa có cái đau đớn,
day dứt uất nghẹn khi thấy quê huơng bị tàn phá, “Thuốc độc cùng với hơi độc chiến
tranh và bom đạn của giặc Mĩ vẫn tiếp tục hủy diệt những gì còn lại ở nơi đây, một gốc cây,
một con chim nhỏ đang nép mình dưới đó tình còn lại”[78/48]. Lại vừa mạnh mẽ khi
cất bước ra đi “Chúng ta quật lại chúng bằng tất csức mạnh của chúng ta. Sức mạnh đó
mang tiếng nói vững vàng của mẹ ta lúc cho ta ra đi cầm súng mang lẽ sống và cuộc đời của
ta, của tất cả mọi nguời”[78/51]. Tiếng nói trữ tình ấy tiếng nói của một “cái i”, đồng
thời cũng là tiếng nói của cái ta, đại diện cho nhân dân, cho dân tộc.
Đấy cũng là giọng chủ đạo của Đuờng chúng ta đi Trận đánh bắt đầu từ hôm nay
của Nguyễn Trung Thành, cũng cái tha thiết thấm đẫm chân tình ấy, chúng ta còn nhận thấy
đó là giọng hào sảng, hùng hồn của quyết tâm của ý chí mà những người con của mảnh đất
Việt Nam nhỏ chuẩn bcho ngày mai ra trận. “Chúng ta quyết dành lấy đạo đức, hạnh
phúc sự làm nguời của chúng ta trong cuộc đổ u này […]. Hãy lao lên đi, đồng chí
trinh sát dũng cảm của tôi. Cách mạng đã gọi.” [73/147].
Giọng trữ tình công dân còn được thể hiện ở giọng reo vui, hồ hởi khi nói về niềm vui,
sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai của đất nước. Điều này khởi nguồn từ cái nhìn lãng mạn
cách mạng – được xem như là một đặc trưng về mặt bút pháp của văn học 1954 – 1975 nói
chung và tùy bút, bút kí nói riêng. Trong tùy bút, bút kí 1954 – 1975 các nhà văn đã nhìn về
tương lai với một niềm tin mãnh liệt rằng, ngày mai sẽ tất thắng, ngày mai bọn Mĩ xâm lược
sẽ cút khỏi nơi đây đất nước sẽ rộn ràng, nhộn nhịp trong cuộc sống mới, cuộc sống
chính những con người Việt Nam làm chủ, sẽ sống một cách đường hoàng, bản lĩnh và hội
nhập. Đó chất lãng mạn cách mạng chỉ được khi con người thật sự tin tưởng vào
cuộc sống vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh và xây dựng đất nước. “Tính chất lãng
mạn chân chính không vẽ thực tế mà phải gắn liền với việc nhận thức bản chất anh hùng
tuởng của tác giả, làm hiện lên một nhân cách, một chủ thể giàu có về tâm tình, sắc sảo về trí tuệ”[38/362]. Nhưng đặc biệt hơn là người đọc thấy được tình cảm nhân văn cao cả mà họ dành cho đất nước. Toàn bài tuỳ bút Dòng kinh quê huơng của Nguyễn Thi là “Những suy tư bão hoà cảm xúc về quê huơng khi trở về dòng kinh quen thuộc nay đã bị bom na-pan và chất độc hoá học Mĩ tàn phá. Nhiệt tình tố cáo quyện chặt với tình yêu quê huơng và ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ tổ quốc.”[38/362]. Vì thế chúng ta nhận thấy trong giọng điệu ấy vừa có cái tha thiết khi gặp lại dòng kinh, “Tôi lại đuợc bơi trên dòng kinh quê huơng, nhìn hoa súng chao mình theo dòng nước. Giọng đưa em tình nghĩa vẫn vang lên… nào có ai đếm được đình bao nhiêu ngói để biết được lòng ta thương mình…”[78/50]. Vừa có cái đau đớn, day dứt và uất nghẹn khi thấy quê huơng bị tàn phá, “Thuốc độc cùng với hơi độc chiến tranh và bom đạn của giặc Mĩ vẫn tiếp tục hủy diệt những gì còn lại ở nơi đây, một gốc cây, một con chim nhỏ đang nép mình dưới đó vô tình còn lại”[78/48]. Lại vừa có mạnh mẽ khi cất bước ra đi “Chúng ta quật lại chúng bằng tất cả sức mạnh của chúng ta. Sức mạnh đó mang tiếng nói vững vàng của mẹ ta lúc cho ta ra đi cầm súng mang lẽ sống và cuộc đời của ta, của tất cả mọi nguời”[78/51]. Tiếng nói trữ tình ấy là tiếng nói của một “cái tôi”, đồng thời cũng là tiếng nói của cái ta, đại diện cho nhân dân, cho dân tộc. Đấy cũng là giọng chủ đạo của Đuờng chúng ta đi và Trận đánh bắt đầu từ hôm nay của Nguyễn Trung Thành, cũng cái tha thiết thấm đẫm chân tình ấy, chúng ta còn nhận thấy đó là giọng hào sảng, hùng hồn của quyết tâm của ý chí mà những người con của mảnh đất Việt Nam bé nhỏ chuẩn bị cho ngày mai ra trận. “Chúng ta quyết dành lấy đạo đức, hạnh phúc và sự làm nguời của chúng ta trong cuộc đổ máu này […]. Hãy lao lên đi, đồng chí trinh sát dũng cảm của tôi. Cách mạng đã gọi.” [73/147]. Giọng trữ tình công dân còn được thể hiện ở giọng reo vui, hồ hởi khi nói về niềm vui, sự lạc quan, tin tưởng vào tương lai của đất nước. Điều này khởi nguồn từ cái nhìn lãng mạn cách mạng – được xem như là một đặc trưng về mặt bút pháp của văn học 1954 – 1975 nói chung và tùy bút, bút kí nói riêng. Trong tùy bút, bút kí 1954 – 1975 các nhà văn đã nhìn về tương lai với một niềm tin mãnh liệt rằng, ngày mai sẽ tất thắng, ngày mai bọn Mĩ xâm lược sẽ cút khỏi nơi đây và đất nước sẽ rộn ràng, nhộn nhịp trong cuộc sống mới, cuộc sống mà chính những con người Việt Nam làm chủ, sẽ sống một cách đường hoàng, bản lĩnh và hội nhập. Đó là chất lãng mạn cách mạng mà chỉ có được khi con người thật sự tin tưởng vào cuộc sống vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh và xây dựng đất nước. “Tính chất lãng mạn chân chính không tô vẽ thực tế mà phải gắn liền với việc nhận thức bản chất anh hùng
trong cuộc sống, mô tả cuộc sống trong sự vận động phát triển về tương lai. Bản thân cuộc
sống đặt cơ sở cho tính hiện thực của lí tưởng và lí tưởng soi sáng cho ý nghĩa của cuộc đấu
tranh ngày hôm nay.”[11]. Đứng giữa thực tại đầy gian khổ - mất mát, đau thuơng nhưng
tâm hồn luôn hướng về tưởng, về tương lai. Đó nguồn gốc của mọi sức mạnh để chiến
thắng, nên chúng ta gặp giữa a bom, bão đạn vẫn những hình ảnh đầy sức sống, đầy
chất thơ. Giữa bộn bề chết chóc, đất nước vẫn nhìn thấy niềm tin vào tương lai tuơi sáng. Sự
vận động của cảm xúc vì thế “hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm
vui, từ hiện tại đến tuơng lai đầy hứa hẹn.”[72/7]. Đó là lãng mạn cách mạng tích cực rất cần
được phát huy. Bởi “hình thức lãng mạn cách mạng của chúng ta không phải một
phương pháp, chỉ những đặc điểm trong bút pháp và phong cách của nhà văn.”[11]. Điều
này sẽ “không làm mờ đi những nguyên tắc chủ yếu của hiện thực xã hội chủ nghĩa”[11], trái
lại càng tô đậm thêm hiện thực và chúng ta càng thấy đuợc cảm quan cách mạng của các nhà
văn một trong những nguyên tắc mà tính Đảng u cầu đối với người nghệ chiến
trên mặt trận văn hoá, văn học.
Đối với Nguyễn Tuân, đó khúc hát hăm hở, phơi phới đầy lạc quan, tin tuởng vào
sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội khi viết về con người, cảnh vật Tây
Bắc:
“Rủ nhau ta đi mở đường.
Mở đường xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta với con đường là một…” [86/261].
Cái giọng điệu hối hả, nhộn nhịp ấy cũng là cái hối hả, nhộn nhịp của những con người đang
ngày đêm miệt mài lao động để dựng xây đất nước.
Còn Chế Lan Viên ca lên rằng: “Hỡi những bạn chiến đấu các phương trời! Cuối
cùng rồi chúng ta chỉ còn “kiến thiết, vui sống và đấu tranh”. Thắng lợi thấy rồi! Hãy cất
tiếng hát bài ca tin tưởng!”[92/30].
Giọng điệu trữ tình còn được thể hiện cách miêu tả thiên nhiên đầy chất t
trong luận văn học về thơ trữ tình tác giả gọi trữ tình phong cảnh”. Những trang
viết về thiên nhiên lung linh đầy màu sắc, dát đầy ngọc và vang vọng mãi âm thanh chính là
biểu hiện cho giọng điệu mượt mà, mềm mại của những trang tuỳ bút, bút kí giai đoạn này.
Trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước, con người luôn tràn ngập một niềm tin vào ngày
mai tất thắng, quan niệm thẩm trong xây dựng hình tượng thiên nhiên cũng đã sự
chuyển biến rất . Trong tùy t, bút kí thiên nhiên còn được nhìn bằng đôi mắt tươi mới,
trong cuộc sống, mô tả cuộc sống trong sự vận động phát triển về tương lai. Bản thân cuộc sống đặt cơ sở cho tính hiện thực của lí tưởng và lí tưởng soi sáng cho ý nghĩa của cuộc đấu tranh ngày hôm nay.”[11]. Đứng giữa thực tại đầy gian khổ - mất mát, đau thuơng nhưng tâm hồn luôn hướng về lí tưởng, về tương lai. Đó là nguồn gốc của mọi sức mạnh để chiến thắng, nên chúng ta gặp giữa mưa bom, bão đạn vẫn có những hình ảnh đầy sức sống, đầy chất thơ. Giữa bộn bề chết chóc, đất nước vẫn nhìn thấy niềm tin vào tương lai tuơi sáng. Sự vận động của cảm xúc vì thế “hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tuơng lai đầy hứa hẹn.”[72/7]. Đó là lãng mạn cách mạng tích cực rất cần được phát huy. Bởi vì “hình thức lãng mạn cách mạng của chúng ta không phải là một phương pháp, chỉ là những đặc điểm trong bút pháp và phong cách của nhà văn.”[11]. Điều này sẽ “không làm mờ đi những nguyên tắc chủ yếu của hiện thực xã hội chủ nghĩa”[11], trái lại càng tô đậm thêm hiện thực và chúng ta càng thấy đuợc cảm quan cách mạng của các nhà văn – một trong những nguyên tắc mà tính Đảng yêu cầu đối với người nghệ sĩ – chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, văn học. Đối với Nguyễn Tuân, đó là khúc hát hăm hở, phơi phới đầy lạc quan, tin tuởng vào sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội khi viết về con người, cảnh vật Tây Bắc: “Rủ nhau ta đi mở đường. Mở đường xã hội chủ nghĩa. Chúng ta với con đường là một…” [86/261]. Cái giọng điệu hối hả, nhộn nhịp ấy cũng là cái hối hả, nhộn nhịp của những con người đang ngày đêm miệt mài lao động để dựng xây đất nước. Còn Chế Lan Viên ca lên rằng: “Hỡi những bạn chiến đấu ở các phương trời! Cuối cùng rồi chúng ta chỉ còn “kiến thiết, vui sống và đấu tranh”. Thắng lợi thấy rõ rồi! Hãy cất tiếng hát bài ca tin tưởng!”[92/30]. Giọng điệu trữ tình còn được thể hiện ở cách miêu tả thiên nhiên đầy chất thơ mà trong lí luận văn học về thơ trữ tình có tác giả gọi là “trữ tình phong cảnh”. Những trang viết về thiên nhiên lung linh đầy màu sắc, dát đầy ngọc và vang vọng mãi âm thanh chính là biểu hiện cho giọng điệu mượt mà, mềm mại của những trang tuỳ bút, bút kí giai đoạn này. Trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước, con người luôn tràn ngập một niềm tin vào ngày mai tất thắng, quan niệm thẩm mĩ trong xây dựng hình tượng thiên nhiên cũng đã có sự chuyển biến rất rõ. Trong tùy bút, bút kí thiên nhiên còn được nhìn bằng đôi mắt tươi mới,
đôi mắt của sự lạc quan, đôi mắt của niềm hi vọng. Thiên nhiên không chỉ khắc nghiệt
thiên nhiên còn rất đẹp, thiên nhiên mang hơi thở, âm thanh của cuộc sống, mang cả tâm
trạng của con người. Thiên nhiên không n nhợt nhạt, thiếu sinh khí mà khỏe khoắn, đẹp
tươi hùng vĩ. Thiên nhiên ấy trải dài mọi không gian, suốt chiều dài thời gian của đất
nước. Anh Đức, Nguyễn Thi, Trần Hiếu Minh đến với thiên nhiên của vùng sông nước miền
Nam với những mùa trái cây trĩu quả, chằng chịt những sông ngòi, nh rạch… Nguyễn
Tuân về với thiên nhiên của vùng núi Tây Bắc với hoa ban, hoa mận trắng xóa, với những
đèo cao và đồi chè, nương ngô xanh mướt. Chế Lan Viên, i Hiển thăm biển miền Trung
đầy sóng ánh bình minh…. Tuy mỗi vùng, mỗi miền với những cảnh sắc khác nhau
nhưng điểm chung nhất là thiên nhiên tràn đầy sinh khí, tràn đầy sức sống. Chính con người
đã thổi hơi ấm vào cho thiên nhiên, hay thiên nhiên đã tạo cảm hứng mới, sức mạnh mới cho
con người. Chai đã yêu thương nhau, vvề nhau để tạo nên cuộc sống tươi đẹp. Nguồn
cảm hứng đó đọng lại những trang văn hay, câu văn đẹp trong. Vì thế giọng điệu của
những trang viết này từ đó mà trữ tình hơn bao giờ hết.
Một buổi bình minh hiện lên rất đẹp trên mặt biển như kêu gọi, như mời mọc những
đoàn thuyền ra khơi. Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng cũng là vẻ đẹp cuộc sống mới đang
đón chào những người lao động mới. “Cảnh hừng đông mặt biển nguy nga, rực rỡ. Phía hai
bên những đám mây trắng hồng hầu như dựng đứng, hơi ngả về phía trước. Tất cả đều
mời mọc lên đường.”[28/123].
Niềm vui của những chiến thắng dường như lan tỏa khắp cả đất trời, Trần Hiếu Minh
nhìn đâu cũng thấy “nắng mai ấm áp vàng tươi” và mai, đào đua nhau khoe sắc dù trong
ngày Tết chiến tranh. Thiên nhiên luôn đem đến những xúc cảm trong trẻo, những cảm hứng
dạt dào “Tôi đang ngồi kể với các bạn chuyện này cũng dưới bóng xanh một vườn dừa, giữa
những cánh đồng mía. Gchướng lồng lộng, mía, lá dừa xạc xào, nắng cuối năm xao
xuyến; nắng ánh lên màu mật vàng tươi, và gió ngọt ngào i nước đường chín
tới…”[46/180]. Thiên nhiên đã được trả lại sự bình yên vốn của nó, dù chiến tranh chưa
dứt, nhưng lòng người luôn sảng khoái, thiên nhiên thế cũng đẹp hơn. Giọng văn trở
nên đằm thắm, bay bổng như những câu thơ tràn đầy cảm xúc, làm cho người đọc có được sự
thả hồn sau một chuỗi dài theo đuổi các sự kiện hiện lên trùng điệp trong tác phẩm.
Trong bút Anh Đức, rất nhiều những nh ảnh của miền Nam hiện lên với đầy đủ
đặc trưng của miệt vườn, sông nước. Ông viết cho Nguyễn Tuân rằng bầu trời Mau
“chẳng phải lúc nào cũng ong ong tái tái đâu” mà bầu trời ấy lúc cũng trong trẻo, xanh
đôi mắt của sự lạc quan, đôi mắt của niềm hi vọng. Thiên nhiên không chỉ khắc nghiệt mà thiên nhiên còn rất đẹp, thiên nhiên mang hơi thở, âm thanh của cuộc sống, mang cả tâm trạng của con người. Thiên nhiên không còn nhợt nhạt, thiếu sinh khí mà khỏe khoắn, đẹp tươi và hùng vĩ. Thiên nhiên ấy trải dài mọi không gian, suốt chiều dài thời gian của đất nước. Anh Đức, Nguyễn Thi, Trần Hiếu Minh đến với thiên nhiên của vùng sông nước miền Nam với những mùa trái cây trĩu quả, là chằng chịt những sông ngòi, kênh rạch… Nguyễn Tuân về với thiên nhiên của vùng núi Tây Bắc với hoa ban, hoa mận trắng xóa, với những đèo cao và đồi chè, nương ngô xanh mướt. Chế Lan Viên, Bùi Hiển thăm biển miền Trung đầy sóng và ánh bình minh…. Tuy mỗi vùng, mỗi miền với những cảnh sắc khác nhau nhưng điểm chung nhất là thiên nhiên tràn đầy sinh khí, tràn đầy sức sống. Chính con người đã thổi hơi ấm vào cho thiên nhiên, hay thiên nhiên đã tạo cảm hứng mới, sức mạnh mới cho con người. Cả hai đã yêu thương nhau, vỗ về nhau để tạo nên cuộc sống tươi đẹp. Nguồn cảm hứng đó đọng lại ở những trang văn hay, câu văn đẹp trong. Vì thế giọng điệu của những trang viết này từ đó mà trữ tình hơn bao giờ hết. Một buổi bình minh hiện lên rất đẹp trên mặt biển như kêu gọi, như mời mọc những đoàn thuyền ra khơi. Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng cũng là vẻ đẹp cuộc sống mới đang đón chào những người lao động mới. “Cảnh hừng đông mặt biển nguy nga, rực rỡ. Phía hai bên những đám mây trắng hồng hầu như dựng đứng, hơi ngả xô về phía trước. Tất cả đều mời mọc lên đường.”[28/123]. Niềm vui của những chiến thắng dường như lan tỏa khắp cả đất trời, Trần Hiếu Minh nhìn đâu cũng thấy “nắng mai ấm áp vàng tươi” và mai, đào đua nhau khoe sắc dù là trong ngày Tết chiến tranh. Thiên nhiên luôn đem đến những xúc cảm trong trẻo, những cảm hứng dạt dào “Tôi đang ngồi kể với các bạn chuyện này cũng dưới bóng xanh một vườn dừa, giữa những cánh đồng mía. Gió chướng lồng lộng, lá mía, lá dừa xạc xào, nắng cuối năm xao xuyến; nắng ánh lên màu mật vàng tươi, và gió ngọt ngào mùi nước đường chín tới…”[46/180]. Thiên nhiên đã được trả lại sự bình yên vốn có của nó, dù chiến tranh chưa dứt, nhưng lòng người luôn sảng khoái, thiên nhiên vì thế mà cũng đẹp hơn. Giọng văn trở nên đằm thắm, bay bổng như những câu thơ tràn đầy cảm xúc, làm cho người đọc có được sự thả hồn sau một chuỗi dài theo đuổi các sự kiện hiện lên trùng điệp trong tác phẩm. Trong bút kí Anh Đức, rất nhiều những hình ảnh của miền Nam hiện lên với đầy đủ đặc trưng của miệt vườn, sông nước. Ông viết cho Nguyễn Tuân rằng bầu trời Cà Mau “chẳng phải lúc nào cũng ong ong tái tái đâu” mà bầu trời ấy có lúc cũng trong trẻo, xanh
tươi và dưới cánh đồng kia “Cà Mau vẫn xanh rờn màu mạ cấy, vẫn sáng loáng những đồng
lúa vun cao, vẫn đầy khẳm xuồng tôm, xuồng cá”[13]. Những rừng đước mênh mông, những
tiếng chim cu tìm bạn, đặc biệt, vạn vật như bừng lên sức sống, vẫy gọi, mời chào khi bước
vào mùa nắng “Mùa nắng miền Nam là một mùa rất đẹp. Mới vào mùa cảnh vật đã bừng
bừng sức sống, sông Cửu Long và mọi kênh rạch phụ lưu lấp lánh ánh mặt trời suốt cả ngày.
Chim cu bắt đầu gù gáy không ngừng nghỉ trên ruộng rạ. Các vườn cây thì đẫm nắng từ bình
minh cho đến tận chiều m” khi thiên nhiên mùa nắng còn ban tặng cho con người
những thức ngon “Cá lóc lớn nướng trui bằng lửa rơm lúa mới, cốm dẹp trộn dừa, trái xoài
thanh ca đầu mùa thơm ngọt.”[12/54]. với Anh Đức, “Thiên nhiên đến với ông với những
hình thức cụ thể nhất, những biểu thị đơn sơ nhất ghi vào tâm trí ông những nét thật sâu
sắc, độc đáo thấm vào tâm khảm ông để đượm một thi vị, i thi vị của cuộc sống.”[2].
Giọng văn của Anh Đức ở những trang viết này là sự kết hợp những thanh âm trong trẻo của
thế giới muôn loài đang hiện hữu. Điều này làm cho người đọc cảm nhận được dường như
đang có nhiều khúc nhạc reo vui đang cất lên đâu đó, bản hoà tấu ấy càng trở nên rộn rã hơn.
Ở tùy bút Nguyễn Tuân, cảm xúc thẩm mĩ về thiên nhiên đã thay đổi rất nhiều so với
thời trước cách mạng. Sự thay đổi đó cũng chính là sự thay đổi cái nhìn về cuộc đời, về con
người. Trong Tùy bút 1, 2, thiên nhiên là những mảng màu tối, những cơn gió có lúc trở nên
ma quái, thiếu sinh kgợi nên sự chết chóc, túng. Giọng văn thế buồn tẻ, chán
chường, Đó tâm trạng của một chàng Nguyễn đang bất lực trong một cái ao đời bằng
phẳng, một nỗi buồn chán cô đơn không ai chia sẻ được. Sau cách mạng, thiên nhiên trong
tùy bút của ông trở nên lồng lộng, tươi vui, đầy màu sắc rực rỡ. “Nắng tắm mãi lên rừng thu
biên giới. Núi xa núi gần liên miên như trùng dương thạch trận. Sơn hệ nối vây nhau như đá
khối đang gò đống kéo lên.”[86/106], bầu trời Tây Bắc về đêm cũng đẹp rực rỡ như bất cứ
một thành phố nào vì ở đó những chùm sao như những “vòm pha lê lóe điểm sao chùm đang
ngân trả lại mặt đất cái ì ầm của gió núi.”[86/111]. Chúng ta cũng không quên được những
câu văn miêu tả con sông Đà thơ mộng, hung dữ đấy nhưng cũng đẹp vô cùng “Con sông Đà
tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở
hoa ban, hoa gạo tháng hai cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.”[86/74]. Sự
vươn dậy của cây cối, trăm hoa biểu hiện cho sự vươn dậy của đất nước. Bức tranh đầy ánh
sáng và màu sắc đó chính là bức tranh đã được khúc xạ qua cảm quan của đôi mắt nhà văn
cách mạng. Giọng văn của Nguyễn Tuân đầy tươi vui, sảng khoái như chính cảm xúc của
ông vậy.
tươi và dưới cánh đồng kia “Cà Mau vẫn xanh rờn màu mạ cấy, vẫn sáng loáng những đồng lúa vun cao, vẫn đầy khẳm xuồng tôm, xuồng cá”[13]. Những rừng đước mênh mông, những tiếng chim cu tìm bạn, đặc biệt, vạn vật như bừng lên sức sống, vẫy gọi, mời chào khi bước vào mùa nắng “Mùa nắng ở miền Nam là một mùa rất đẹp. Mới vào mùa cảnh vật đã bừng bừng sức sống, sông Cửu Long và mọi kênh rạch phụ lưu lấp lánh ánh mặt trời suốt cả ngày. Chim cu bắt đầu gù gáy không ngừng nghỉ trên ruộng rạ. Các vườn cây thì đẫm nắng từ bình minh cho đến tận chiều hôm” và có khi thiên nhiên mùa nắng còn ban tặng cho con người những thức ngon “Cá lóc lớn nướng trui bằng lửa rơm lúa mới, cốm dẹp trộn dừa, trái xoài thanh ca đầu mùa thơm ngọt.”[12/54]. với Anh Đức, “Thiên nhiên đến với ông với những hình thức cụ thể nhất, những biểu thị đơn sơ nhất và ghi vào tâm trí ông những nét thật sâu sắc, độc đáo thấm vào tâm khảm ông để đượm một thi vị, cái thi vị của cuộc sống.”[2]. Giọng văn của Anh Đức ở những trang viết này là sự kết hợp những thanh âm trong trẻo của thế giới muôn loài đang hiện hữu. Điều này làm cho người đọc cảm nhận được dường như đang có nhiều khúc nhạc reo vui đang cất lên đâu đó, bản hoà tấu ấy càng trở nên rộn rã hơn. Ở tùy bút Nguyễn Tuân, cảm xúc thẩm mĩ về thiên nhiên đã thay đổi rất nhiều so với thời trước cách mạng. Sự thay đổi đó cũng chính là sự thay đổi cái nhìn về cuộc đời, về con người. Trong Tùy bút 1, 2, thiên nhiên là những mảng màu tối, những cơn gió có lúc trở nên ma quái, thiếu sinh khí gợi nên sự chết chóc, tù túng. Giọng văn vì thế mà buồn tẻ, chán chường, Đó là tâm trạng của một chàng Nguyễn đang bất lực trong một cái ao đời bằng phẳng, một nỗi buồn chán cô đơn không ai chia sẻ được. Sau cách mạng, thiên nhiên trong tùy bút của ông trở nên lồng lộng, tươi vui, đầy màu sắc rực rỡ. “Nắng tắm mãi lên rừng thu biên giới. Núi xa núi gần liên miên như trùng dương thạch trận. Sơn hệ nối vây nhau như đá khối đang gò đống kéo lên.”[86/106], bầu trời Tây Bắc về đêm cũng đẹp rực rỡ như bất cứ một thành phố nào vì ở đó những chùm sao như những “vòm pha lê lóe điểm sao chùm đang ngân trả lại mặt đất cái ì ầm của gió núi.”[86/111]. Chúng ta cũng không quên được những câu văn miêu tả con sông Đà thơ mộng, hung dữ đấy nhưng cũng đẹp vô cùng “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.”[86/74]. Sự vươn dậy của cây cối, trăm hoa biểu hiện cho sự vươn dậy của đất nước. Bức tranh đầy ánh sáng và màu sắc đó chính là bức tranh đã được khúc xạ qua cảm quan của đôi mắt nhà văn cách mạng. Giọng văn của Nguyễn Tuân đầy tươi vui, sảng khoái – như chính cảm xúc của ông vậy.
Chúng ta còn bắt gặp những hình ảnh thiên nhiên tươi mát của đất nước bạn như Cu-
ba hay Trung Quốc. Ở Cu-ba, thiên nhiên trù phú dâng đầy mật ngọt cho con người. Cái đẹp
của những cánh đồng mía bạt ngàn trong đêm trăng, “Trăng tải lên đồng mía mênh mông.
Lớp lớp sóng mía nhau, mía ánh bạc. Trăng Cu-ba thơm gió mía. Đêm trăng mía thở
nồng nàn, bốc lên hương ngọt sắc.”[51/139]. Đó cái đẹp của sự sinh sôi, nảy nở, cái đẹp
của một đất nước đang trên đà xây dựng đất nước sau chiến tranh. Những câu văn này đã làm
cho những bài t chính luận của Thép Mới bớt khô khan hơn, người đọc có được cảm
giác nhẹ nhàng hơn.
Thiên nhiên của Trung Quốc cũng đẹp cùng, đó là “những dặm liễu dài, ngủ bên
cạnh những rừng mai bát ngát”[91/14] hay ở thành phố Hàng Châu, những “con đường liễu
dài bất tận, xe đi như rẽ một bức rèm. Những con đường khác ngát mùi hương, xe trong
một bầu hương mà lướt tới. Hai bên đường trên những cây số dài trồng toàn hoa hồng và hoa
lục nguyệt tuyết,hoa hồng đỏ ở dưới thấp, hoa lục nguyệt tuyết thành từng chum tuyết trắng
đứng đằng sau.”[91/15]. Trong bút Thăm Trung Quốc của Chế Lan Viên, chúng ta đã
gặp “những hình ảnh sinh động, có khối, có hình màu sắc.”[53] không những thế “Chất
thơ còn ở chất suy nghĩ, chất tư tuởng, gợi cho chúng ta những suy nghĩ vương vấn lan xa,
như một bài thơ hàm súc thường đẩy nguời đọc vào những suy nghĩ triền miên, để lại “dư vị”
ngọt ngào”[53]. “Rồi sông Tương, sông Tương nữa! Sông Tương “Chàng ở đầu mà em
cuối”. Sông Tuơng “Quân hướng tiêu Tương ngã hướng Tần”. Ngày xưa kia tôi ngỡ rất
bé – bé như một dòng nước mắt của chúng ta thì ngờ đâu đôi bờ nó bát ngát thế kia.”[91/9].
Với nhịp điệu chậm, dàn trải, những câu văn tưởng chừng như là những câu thơ ngọt ngào ấy
càng làm cho giọng điệu trở nên tha thiết, thảnh thơi hơn bao giờ hết.
Những liên tuởng trữ tình – đặc biệt là liên tưởng trữ tình về thiên nhiên luôn làm cho
giọng điệu nhẹ nhàng, mượt mà, đằm thắm, giảm đi cái khô khan của bộn bề sự kiện và con
số, đầy ắp tính thời sự, không khí của sự kiện cũng vì thế mà tươi mát hơn. Như vậy chúng ta
thấy, giọng điệu trữ tình đuợc thể hiện ở nhiều sắc thái khác nhau, khi thì bộc lộ cảm xúc trữ
tình của nhà văn trước hiện thực của đất nước, khi lại những liên tuởng thú vị về thiên
nhiên…. Tất cả đó đều chi phối đến ngôn ngữ cũng như bút pháp nghệ thuật trong tác phẩm
và cũng từ đó làm nên dấu ấn riêng biệt cho phong cách của từng nhà văn.
Sự kết hợp giữa giọng bình luận chính luận và giọng trữ tình là sự kết hợp đặc sắc làm
nổi bật đặc trưng riêng biệt cho tuỳ bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975, điều này cũng phù hợp
với những nội dung mà nó thể hiện, qua đó chúng ta có thể sử dụng yếu tố giọng điệu để khu
Chúng ta còn bắt gặp những hình ảnh thiên nhiên tươi mát của đất nước bạn như Cu- ba hay Trung Quốc. Ở Cu-ba, thiên nhiên trù phú dâng đầy mật ngọt cho con người. Cái đẹp của những cánh đồng mía bạt ngàn trong đêm trăng, “Trăng tải lên đồng mía mênh mông. Lớp lớp sóng mía xô nhau, lá mía ánh bạc. Trăng Cu-ba thơm gió mía. Đêm trăng mía thở nồng nàn, bốc lên hương ngọt sắc.”[51/139]. Đó là cái đẹp của sự sinh sôi, nảy nở, cái đẹp của một đất nước đang trên đà xây dựng đất nước sau chiến tranh. Những câu văn này đã làm cho những bài bút kí chính luận của Thép Mới bớt khô khan hơn, người đọc có được cảm giác nhẹ nhàng hơn. Thiên nhiên của Trung Quốc cũng đẹp vô cùng, đó là “những dặm liễu dài, ngủ bên cạnh những rừng mai bát ngát”[91/14] hay ở thành phố Hàng Châu, những “con đường liễu dài bất tận, xe đi như rẽ một bức rèm. Những con đường khác ngát mùi hương, xe ở trong một bầu hương mà lướt tới. Hai bên đường trên những cây số dài trồng toàn hoa hồng và hoa lục nguyệt tuyết,hoa hồng đỏ ở dưới thấp, hoa lục nguyệt tuyết thành từng chum tuyết trắng đứng ở đằng sau.”[91/15]. Trong bút kí Thăm Trung Quốc của Chế Lan Viên, chúng ta đã gặp “những hình ảnh sinh động, có khối, có hình có màu sắc.”[53] không những thế “Chất thơ còn ở chất suy nghĩ, chất tư tuởng, gợi cho chúng ta những suy nghĩ vương vấn lan xa, như một bài thơ hàm súc thường đẩy nguời đọc vào những suy nghĩ triền miên, để lại “dư vị” ngọt ngào”[53]. “Rồi sông Tương, sông Tương nữa! Sông Tương “Chàng ở đầu mà em ở cuối”. Sông Tuơng “Quân hướng tiêu Tương ngã hướng Tần”. Ngày xưa kia tôi ngỡ nó rất bé – bé như một dòng nước mắt của chúng ta thì ngờ đâu đôi bờ nó bát ngát thế kia.”[91/9]. Với nhịp điệu chậm, dàn trải, những câu văn tưởng chừng như là những câu thơ ngọt ngào ấy càng làm cho giọng điệu trở nên tha thiết, thảnh thơi hơn bao giờ hết. Những liên tuởng trữ tình – đặc biệt là liên tưởng trữ tình về thiên nhiên luôn làm cho giọng điệu nhẹ nhàng, mượt mà, đằm thắm, giảm đi cái khô khan của bộn bề sự kiện và con số, đầy ắp tính thời sự, không khí của sự kiện cũng vì thế mà tươi mát hơn. Như vậy chúng ta thấy, giọng điệu trữ tình đuợc thể hiện ở nhiều sắc thái khác nhau, khi thì bộc lộ cảm xúc trữ tình của nhà văn trước hiện thực của đất nước, khi lại có những liên tuởng thú vị về thiên nhiên…. Tất cả đó đều chi phối đến ngôn ngữ cũng như bút pháp nghệ thuật trong tác phẩm và cũng từ đó làm nên dấu ấn riêng biệt cho phong cách của từng nhà văn. Sự kết hợp giữa giọng bình luận chính luận và giọng trữ tình là sự kết hợp đặc sắc làm nổi bật đặc trưng riêng biệt cho tuỳ bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975, điều này cũng phù hợp với những nội dung mà nó thể hiện, qua đó chúng ta có thể sử dụng yếu tố giọng điệu để khu
biệt giữa tuỳ bút giai đoạn này và tuỳ bút giai đoạn trước sau nó. Nếu như tuỳ bút giai
đoạn 1930 – 1945 thể hiện ở giọng nổi trội là trữ tình với những bộc lộ nội tâm cá nhân sâu
sắc, trong tuỳ bút sau 1975 (1975 2000) giọng trữ tình có kết hợp bình luận nhưng
không gay gắt mà là “giọng bình luận ôn hoà hơn”[27/116], thì giọng điệu của tuỳ bút, bút kí
1954 – 1975 là sự kết hợp của hai giọng điệu bình luận chính luận và trữ tình, đó không phải
là sự cộng gộp số học mà là sự pha trộn một cách nhuần nhuyễn để chúng ta có thể gọi chung
cho giọng điệu này là trữ tình chính luận.
3.4. Kết cấu linh hoạt
Theo Lại Nguyên Ân, kết cấu là “sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ
thuật, tức sự cấu tạo tác phẩm, tuỳ theo nội dung thể tài.”[6/167]. Theo đó chúng ta
thấy kết cấu thuộc mặt hình thức của tác phẩm, gắn kết các yếu tố nhỏ còn lại của hình
thức và phối thuộc chúng với tư tưởng, làm cho hình thức với nội dung tác phẩm thống nhất
với nhau. Có nhiều kiểu kết cấu khác nhau, tuỳ theo từng thể loại mà tác giả lựa chọn cho tác
phẩm của mình một kết cấu phù hợp. Sự đa dạng của kết cấu sẽ tạo cho tác phẩm văn
phong đa dạng, phong phú, không nhàm chán.
Kết cấu luôn làm cho tác phẩm trở nên mạch lạc, người đọc vì thế cũng rất dễ theo dõi
mạch đi của tác giả. Đặc biệt đối với những tác phẩm dài hơi có sức chứa nội dung, tư tưởng
lớn thì kết cấu trở thành yếu tố cùng quan trọng trên con đường chinh phục người đọc.
Kết cấu cũng là yếu tố tạo thành và liên kết các bộ phận khác trong bố cục tác phẩm, thế
qua kết cấu, chúng ta sẽ thấy được các yếu tố nghệ thuật khác như nhân vật, chi tiết, tình tiết
nghệ thuật được làm nổi bật hay không. Nhưng để hấp dẫn người đọc, mặt khác không
muốn đi vào sự nhàm chán hay lặp lại thì đòi hỏi các nhà văn phải một “tay nghề” vững
chắc để tạo ra được một kết cấu lạ, phù hợp, đặc biệt kết cấu đó phải chuyển tải được ý đ
của nhà văn. Vì thế vai trò của kết cấu không nhỏ, nó thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố
nội dung như tư tuởng, chủ đề, cảm hứng… và lựa chọn kết cấu nàophụ thuộc rất nhiều
vào đối tượng phản ánh, tài năng của tác giả để làm sao cuối cùng khẳng định tư tưởng,
chủ đề của tác phẩm, góp phần bộc lộ những thông điệp mà các tác giả muốn gửi gắm.
Tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 có kết cấu khá đa dạng, thành công ở đây chính
là qua các kiểu kết cấu này, c yếu tố nghệ thuật khác tuởng, tình cảm của nvăn
hiện lên rõ nét.
Kiểu kết cấu dễ gặp nhất là kết cấu tuyến tínhđây là kiểu kết cấu quen thuộc và phù
hợp với nhiều thể loại. Chính quen thuộc và dễ cấu tạo nên khó hay, khó tạo được ấn
biệt giữa tuỳ bút giai đoạn này và tuỳ bút ở giai đoạn trước và sau nó. Nếu như tuỳ bút giai đoạn 1930 – 1945 thể hiện ở giọng nổi trội là trữ tình với những bộc lộ nội tâm cá nhân sâu sắc, trong tuỳ bút sau 1975 (1975 – 2000) là giọng trữ tình có kết hợp bình luận nhưng không gay gắt mà là “giọng bình luận ôn hoà hơn”[27/116], thì giọng điệu của tuỳ bút, bút kí 1954 – 1975 là sự kết hợp của hai giọng điệu bình luận chính luận và trữ tình, đó không phải là sự cộng gộp số học mà là sự pha trộn một cách nhuần nhuyễn để chúng ta có thể gọi chung cho giọng điệu này là trữ tình chính luận. 3.4. Kết cấu linh hoạt Theo Lại Nguyên Ân, kết cấu là “sự sắp xếp, phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật, tức là sự cấu tạo tác phẩm, tuỳ theo nội dung và thể tài.”[6/167]. Theo đó chúng ta thấy kết cấu thuộc mặt hình thức của tác phẩm, nó gắn kết các yếu tố nhỏ còn lại của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng, làm cho hình thức với nội dung tác phẩm thống nhất với nhau. Có nhiều kiểu kết cấu khác nhau, tuỳ theo từng thể loại mà tác giả lựa chọn cho tác phẩm của mình một kết cấu phù hợp. Sự đa dạng của kết cấu sẽ tạo cho tác phẩm có văn phong đa dạng, phong phú, không nhàm chán. Kết cấu luôn làm cho tác phẩm trở nên mạch lạc, người đọc vì thế cũng rất dễ theo dõi mạch đi của tác giả. Đặc biệt đối với những tác phẩm dài hơi có sức chứa nội dung, tư tưởng lớn thì kết cấu trở thành yếu tố vô cùng quan trọng trên con đường chinh phục người đọc. Kết cấu cũng là yếu tố tạo thành và liên kết các bộ phận khác trong bố cục tác phẩm, vì thế qua kết cấu, chúng ta sẽ thấy được các yếu tố nghệ thuật khác như nhân vật, chi tiết, tình tiết nghệ thuật có được làm nổi bật hay không. Nhưng để hấp dẫn người đọc, mặt khác không muốn đi vào sự nhàm chán hay lặp lại thì đòi hỏi các nhà văn phải có một “tay nghề” vững chắc để tạo ra được một kết cấu lạ, phù hợp, đặc biệt kết cấu đó phải chuyển tải được ý đồ của nhà văn. Vì thế vai trò của kết cấu không nhỏ, nó thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố nội dung như tư tuởng, chủ đề, cảm hứng… và lựa chọn kết cấu nào là phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng phản ánh, tài năng của tác giả để làm sao cuối cùng nó khẳng định tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, góp phần bộc lộ những thông điệp mà các tác giả muốn gửi gắm. Tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 có kết cấu khá đa dạng, thành công ở đây chính là qua các kiểu kết cấu này, các yếu tố nghệ thuật khác và tư tuởng, tình cảm của nhà văn hiện lên rõ nét. Kiểu kết cấu dễ gặp nhất là kết cấu tuyến tính – đây là kiểu kết cấu quen thuộc và phù hợp với nhiều thể loại. Chính vì quen thuộc và dễ cấu tạo nên nó khó hay, khó tạo được ấn
tượng với nguời đọc. Nhưng các nhà viết tuỳ bút, bút kí giai đoạn này đã vượt qua được cái
khó ấy đtạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm. Đặc trưng của kiểu kết cấu này là các sự kiện
được miêu tả một cách trật tự theo trình tự thời gian. Sự kiện nào diễn ra truớc, miêu tả
trước, sự kiện nào diễn ra sau miêu tả sau. Tổ chức sắp xếp tác phẩm theo trình tự, diễn biến
của thời gian như vậy phù hợp với những bút chi chép sự kiện. Vì thế tôn trọng thời gian
dường như quy định bắt buộc khi sử dụng kết cấu tuyến tính. Chủ yếu sử dụng phương
thức trần thuật, kết cấu này hầu như dựa theo hoàn cảnh khách quan với trình tự không
gian, thời gian, giữa các sự kiện có đan xen cảm xúc nhưng cảm xúc này cũng theo ng
chảy của sự kiện mà bộc lộ. Trong hai thể loại tùy bút và bút kí giai đoạn 1954 – 1975, kiểu
kết cấu này không nhiều nhưng cũng đã tạo ra được sự lôi cuốn riêng nhờ vào dòng sự kiện
được miêu tả k hấp dẫn, cảm xúc các tác giả bộc lộ sức truyền cảm mãnh liệt.
Chúng ta có thể thấy qua các bút kí như: Bám biển của Bùi Hiển, Mùa xuân trên nền cũ một
khu trù mật Trần Hiếu Minh, hay Ước của đất Nguyễn Thi…. Sự kiện gắn với các
nhân vật được miêu tả theo chiều thẳng tiến với thời gian, cả hai tỉ lệ thuận với nhau, do đó
người đọc dễ nắm bắt được chặng đường của nhân vật cũng như cảm xúc của tác giả. Trong
Bám biển, Bùi Hiển đã miêu tả công việc của đồng chí Lễ qua một hành trình ra khơi mà tác
giả có dịp đi cùng. Cuộc hành trình ấy bắt đầu từ lúc “trưa hè trên biển, ai ngờ có lúc lại oi
bức được đến thế”[28/114] của ngày đầu tiên cho đến “giữa khuya” và “cảnh hừng đông của
mặt biển nguy nga, rực rỡ”[28/123] của ngày hôm sau, hôm sau nữa cho đến ngày kết thúc
của cuộc hành trình.
Kết cấu tuyến tính này không đơn thuần việc miêu tả sự kiện theo chiều thẳng tiến
của thời gian quan trọng hơn cái nhịp điệu đều đặn của thời gian, của công việc giúp
người đọc hình dung được sự khó khăn vất vả và cả niềm vui của người lao động diễn ra từ
ngày này qua ngày khác, cũng từ đó ý chí, sự cần cù, nhẫn nại của con người được làm nổi
bật.
Một dạng kết cấu khác được sử dụng gần như phổ biến nhất trong tùy bút, bút giai
đoạn 19541975 kết cấu đồng hiệnđặc trưng của kiểu kết cấu này là các sự xuất hiện
cùng lúc các sự kiện không gian cách xa nhau. Điều này đòi hỏi các nhà văn sự hiểu
biết rộng về các sự kiện khác nhau ở những nơi khác nhau. Kết cấu đồng hiện phù hợp với
nội dung mà các tùy bút, bút kí phản ánh đó là cuộc chiến đấu anh dũng chống Mĩ cứu nước
và xây dựng chủ nghĩa hội của nhân dân ta. Khí thế đó diễn ra khắp nơi trên các vùng
miền, trên khắp đất nước nên nhà văn có điều kiện miêu tả, thể hiện…. Nổi bật cho kiểu kết
tượng với nguời đọc. Nhưng các nhà viết tuỳ bút, bút kí giai đoạn này đã vượt qua được cái khó ấy để tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm. Đặc trưng của kiểu kết cấu này là các sự kiện được miêu tả một cách có trật tự theo trình tự thời gian. Sự kiện nào diễn ra truớc, miêu tả trước, sự kiện nào diễn ra sau miêu tả sau. Tổ chức sắp xếp tác phẩm theo trình tự, diễn biến của thời gian như vậy phù hợp với những bút kí chi chép sự kiện. Vì thế tôn trọng thời gian dường như là quy định bắt buộc khi sử dụng kết cấu tuyến tính. Chủ yếu sử dụng phương thức trần thuật, kết cấu này hầu như dựa theo hoàn cảnh khách quan – với trình tự không gian, thời gian, giữa các sự kiện có đan xen cảm xúc nhưng cảm xúc này cũng theo dòng chảy của sự kiện mà bộc lộ. Trong hai thể loại tùy bút và bút kí giai đoạn 1954 – 1975, kiểu kết cấu này không nhiều nhưng cũng đã tạo ra được sự lôi cuốn riêng nhờ vào dòng sự kiện được miêu tả khá hấp dẫn, cảm xúc mà các tác giả bộc lộ có sức truyền cảm mãnh liệt. Chúng ta có thể thấy qua các bút kí như: Bám biển của Bùi Hiển, Mùa xuân trên nền cũ một khu trù mật – Trần Hiếu Minh, hay Ước mơ của đất – Nguyễn Thi…. Sự kiện gắn với các nhân vật được miêu tả theo chiều thẳng tiến với thời gian, cả hai tỉ lệ thuận với nhau, do đó người đọc dễ nắm bắt được chặng đường của nhân vật cũng như cảm xúc của tác giả. Trong Bám biển, Bùi Hiển đã miêu tả công việc của đồng chí Lễ qua một hành trình ra khơi mà tác giả có dịp đi cùng. Cuộc hành trình ấy bắt đầu từ lúc “trưa hè trên biển, ai ngờ có lúc lại oi bức được đến thế”[28/114] của ngày đầu tiên cho đến “giữa khuya” và “cảnh hừng đông của mặt biển nguy nga, rực rỡ”[28/123] của ngày hôm sau, hôm sau nữa cho đến ngày kết thúc của cuộc hành trình. Kết cấu tuyến tính này không đơn thuần là việc miêu tả sự kiện theo chiều thẳng tiến của thời gian mà quan trọng hơn cái nhịp điệu đều đặn của thời gian, của công việc giúp người đọc hình dung được sự khó khăn vất vả và cả niềm vui của người lao động diễn ra từ ngày này qua ngày khác, cũng từ đó ý chí, sự cần cù, nhẫn nại của con người được làm nổi bật. Một dạng kết cấu khác được sử dụng gần như phổ biến nhất trong tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 là kết cấu đồng hiện – đặc trưng của kiểu kết cấu này là các sự xuất hiện cùng lúc các sự kiện dù không gian cách xa nhau. Điều này đòi hỏi các nhà văn có sự hiểu biết rộng về các sự kiện khác nhau ở những nơi khác nhau. Kết cấu đồng hiện phù hợp với nội dung mà các tùy bút, bút kí phản ánh đó là cuộc chiến đấu anh dũng chống Mĩ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Khí thế đó diễn ra ở khắp nơi trên các vùng miền, trên khắp đất nước nên nhà văn có điều kiện miêu tả, thể hiện…. Nổi bật cho kiểu kết
cấu này phải kể đến Măng tầm vông, Khi giặc đến nhà, Sóng Cửu Long, Chuyện Thạnh
Phú… của Trần Hiếu Minh hay bút kí Chuyện Quảng Bình, Tội ác im lìm, tội ác sắc trắng
của Chế Lan Viên. Kiểu kết cấu này giúp người đọc hình dung ra sự kiện diễn ra trên quy
rộng lớn và có sự ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Trong Măng tầm vông của Trần Hiếu
Minh, không chỉ nói về hành động yêu nước cũng như cái ngộ nghĩnh, hồn nhiên của bé Một
còn i về lòng yêu nước, cái tư trẻ con của rất nhiều bé Một nữa, đó thể
Hùng, bé Bình, bé An, bé Xoài và rất nhiều những em bé chăn trâu khác, đang cùng độ tuổi
đánh khăng đánh đáo nhưng đã sớm có ý thức đánh giặc trả thù cho người thân cho đất nước
Trần Hiếu Minh đã dịp gặp. Không chỉ những em bé, những người phụ nữ tưởng
chừng như chỉ có cuộc sống quanh bếp núc nhưng “khi giặc đến nhà” họ cũng hăng hái đánh
giặc như bất người đàn ông nào, nơi này Út Tiết, nơi khác gặp Mười Lí, nơi
khác nữa là cô Hoa, cô Xuân, cô Tươi, cô Thắm… đều yêu nước, anh hùng như nhau. Những
mẩu chuyện về họ thể giới thiệu riêng từng bài một nhưng dụng ý của Trần Hiếu Minh
khá rõ, đó Anh muốn ghi lại giới thiệu với chúng ta một số nét lớn của cuộc kháng
chiến lần thứ hai Nam Bộ thông qua câu chuyện những cuộc đấu tranh một i địa
phương tiêu biểu nhất […]. Anh muốn kể thật nhiều các biến cố tính chất là sự kiện lịch
sử quan trọng bậc nhất”[62].
Tuơng đồng với kết cấu đồng hiện là kết cấu xâu chuỗi, trong những thủ pháp kết cấu
của thi pháp văn xuôi, kết cấu xâu chuỗi được hiểu là dạng kết cấu mà nhà văn móc xích các
sự kiện, các yếu tố kế tiếp nhau, theo một đường thẳng không chồng chéo lên nhau
thường gặp trong truyện cổ tích hoặc trong tiểu thuyết chương hồi. Trong tùy bút, bút với
đặc trưng thể hiện cảm xúc của nhà văn trước các sự kiện vốn không phù hợp với dạng kết
cấu này nhưng không phải thế mà không có, với số lượng ít ỏi nhưng các nhà văn đã tạo
nên một hiệu quả nghệ thuật không nhỏ từ các tác phẩm ấy. Cũng vẫn các mẩu chuyện,
các sự kiện được phản ánh nhưng không phải xuất hiện cùng lúc mà sự liên hệ móc
xích với nhau. Chính vì thế nên nảy sinh ra việc các nhà văn sử dụng luận đề, luận điểm, đ
mục cho từng mẩu chuyện, từng sự kiện để người đọc dễ theo dõi. Tên đề mục đó có thể xuất
phát từ bản chất của của sự kiện cũng thể xuất phát từ cảm xúc của nhà văn. Điện Biên
Phủ, một danh từ Việt Nam của Thép Mới tiêu biểu cho việc sử dụng kết cấu này. Toàn bộ
những bài bút kí trong tập bút kí này đều được phân chia theo đề mục rõ ràng, mạch lạc (trừ
Mùa thu cây lúa và cây súng; Hà Nội mà chúng ta yêu; Tấm gương của anh Trỗi) chẳng hạn
như:
cấu này phải kể đến Măng tầm vông, Khi giặc Mĩ đến nhà, Sóng Cửu Long, Chuyện Thạnh Phú… của Trần Hiếu Minh hay bút kí Chuyện Quảng Bình, Tội ác im lìm, tội ác sắc trắng … của Chế Lan Viên. Kiểu kết cấu này giúp người đọc hình dung ra sự kiện diễn ra trên quy mô rộng lớn và có sự ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân. Trong Măng tầm vông của Trần Hiếu Minh, không chỉ nói về hành động yêu nước cũng như cái ngộ nghĩnh, hồn nhiên của bé Một mà còn nói về lòng yêu nước, cái vô tư trẻ con của rất nhiều bé Một nữa, đó có thể là bé Hùng, bé Bình, bé An, bé Xoài và rất nhiều những em bé chăn trâu khác, đang cùng độ tuổi đánh khăng đánh đáo nhưng đã sớm có ý thức đánh giặc trả thù cho người thân cho đất nước mà Trần Hiếu Minh đã có dịp gặp. Không chỉ là những em bé, những người phụ nữ tưởng chừng như chỉ có cuộc sống quanh bếp núc nhưng “khi giặc đến nhà” họ cũng hăng hái đánh giặc như bất kì người đàn ông nào, ở nơi này là cô Út Tiết, nơi khác gặp cô Mười Lí, nơi khác nữa là cô Hoa, cô Xuân, cô Tươi, cô Thắm… đều yêu nước, anh hùng như nhau. Những mẩu chuyện về họ có thể giới thiệu riêng từng bài một nhưng dụng ý của Trần Hiếu Minh khá rõ, đó là “Anh muốn ghi lại và giới thiệu với chúng ta một số nét lớn của cuộc kháng chiến lần thứ hai ở Nam Bộ thông qua câu chuyện những cuộc đấu tranh ở một vài địa phương tiêu biểu nhất […]. Anh muốn kể thật nhiều các biến cố có tính chất là sự kiện lịch sử quan trọng bậc nhất”[62]. Tuơng đồng với kết cấu đồng hiện là kết cấu xâu chuỗi, trong những thủ pháp kết cấu của thi pháp văn xuôi, kết cấu xâu chuỗi được hiểu là dạng kết cấu mà nhà văn móc xích các sự kiện, các yếu tố kế tiếp nhau, theo một đường thẳng không chồng chéo lên nhau và thường gặp trong truyện cổ tích hoặc trong tiểu thuyết chương hồi. Trong tùy bút, bút kí với đặc trưng thể hiện cảm xúc của nhà văn trước các sự kiện vốn không phù hợp với dạng kết cấu này nhưng không phải vì thế mà không có, với số lượng ít ỏi nhưng các nhà văn đã tạo nên một hiệu quả nghệ thuật không nhỏ từ các tác phẩm ấy. Cũng vẫn là các mẩu chuyện, các sự kiện được phản ánh nhưng không phải xuất hiện cùng lúc mà là có sự liên hệ móc xích với nhau. Chính vì thế nên nảy sinh ra việc các nhà văn sử dụng luận đề, luận điểm, đề mục cho từng mẩu chuyện, từng sự kiện để người đọc dễ theo dõi. Tên đề mục đó có thể xuất phát từ bản chất của của sự kiện cũng có thể xuất phát từ cảm xúc của nhà văn. Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam của Thép Mới tiêu biểu cho việc sử dụng kết cấu này. Toàn bộ những bài bút kí trong tập bút kí này đều được phân chia theo đề mục rõ ràng, mạch lạc (trừ Mùa thu cây lúa và cây súng; Hà Nội mà chúng ta yêu; Tấm gương của anh Trỗi) chẳng hạn như:
Bút kí Đâu có giặc là ta cứ đi, gồm:
- Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình
- Đâu có giặc là ta cứ đi
- Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu
Bút kí Nhân nghe nói về bọn “cọp đen” và “ó đỏ”, gồm
- Hãy nói chút ít về chúng
- Định nghĩa của Nava về chiến thắng
- Lính Tây, lính lê dương và Nguyễn Khánh
- Đến khi chúng ta quạt vào mặt chúng nó
- Cơn mê sảng của quan năm pháo binh Pirôt
- Bút kí Hakin nên ra mà xem Bảo tàng Điện Biên Phủ, gồm
- “Hakin nên ra mà xem…”
- Đô la Mĩ và Điện Biên Phủ
- Trí khôn Mĩ và Điện Biên Phủ
- Aixenhao: ưu tiên số một cho Điện Biên Phủ
- Đalét cuồng lên vì Điện Biên Phủ
- Chiến thắng Điện Biên Phủ đá phốc hạm đội thứ bảy Mĩ
- Kennơđi 1954 chửi Kennơđi 1961
Bút kí Chiếc ca rỗng chứa sóng ngầm, gồm
- Tại sao các cô đầm ấy ôm cầm thuyền khác
- Quy luật giá tụi trong hầm lính Đờ cát
- Củ cà rốt trước mũi Đờ cát
- “Mẹ kiếp! cái ca rỗng tuyếch”
- Sóng ngầm, sóng ngầm ở miền Nam, sóng ngầm trong nước Mĩ
Bút kí Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam, gồm
- Định nghĩa của từ điển Laruxơ về Điện Biên Phủ
- Một chút hơi thở tàn thu để bán vào đĩa hát
- Hôm đó là một buổi chiều thứ sáu như hôm nay
- Điện Biên Phủ trở thành một động từ chỉ hành động
Bút kí Chiến công tháng Tám, gồm
- Từ Kim Sơn – Phát Diệm
- Đến sát khu giới tuyến Vĩnh Linh
Bút kí Đâu có giặc là ta cứ đi, gồm: - Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình - Đâu có giặc là ta cứ đi - Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu Bút kí Nhân nghe nói về bọn “cọp đen” và “ó đỏ”, gồm - Hãy nói chút ít về chúng nó - Định nghĩa của Nava về chiến thắng - Lính Tây, lính lê dương và Nguyễn Khánh - Đến khi chúng ta quạt vào mặt chúng nó - Cơn mê sảng của quan năm pháo binh Pirôt - Bút kí Hakin nên ra mà xem Bảo tàng Điện Biên Phủ, gồm - “Hakin nên ra mà xem…” - Đô la Mĩ và Điện Biên Phủ - Trí khôn Mĩ và Điện Biên Phủ - Aixenhao: ưu tiên số một cho Điện Biên Phủ - Đalét cuồng lên vì Điện Biên Phủ - Chiến thắng Điện Biên Phủ đá phốc hạm đội thứ bảy Mĩ - Kennơđi 1954 chửi Kennơđi 1961 Bút kí Chiếc ca rỗng chứa sóng ngầm, gồm - Tại sao các cô đầm ấy ôm cầm thuyền khác - Quy luật giá tụi trong hầm lính Đờ cát - Củ cà rốt trước mũi Đờ cát - “Mẹ kiếp! cái ca rỗng tuyếch” - Sóng ngầm, sóng ngầm ở miền Nam, sóng ngầm trong nước Mĩ Bút kí Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam, gồm - Định nghĩa của từ điển Laruxơ về Điện Biên Phủ - Một chút hơi thở tàn thu để bán vào đĩa hát - Hôm đó là một buổi chiều thứ sáu như hôm nay - Điện Biên Phủ trở thành một động từ chỉ hành động Bút kí Chiến công tháng Tám, gồm - Từ Kim Sơn – Phát Diệm - Đến sát khu giới tuyến Vĩnh Linh
- Ở quê hương mẹ Tơm
- Chiến quả lớn: niềm tin
- Một tình cảm rất Việt Nam
Bùi Hiển cũng kiểu kết cấu này trong t Trên một nông trường miền bể, gồm
hai đề mục: Anh hùng nuôi vịtKhi đã ủ thành sức sống.
Hình thức của những đề mục này được tác giả viết theo văn phong khoa học khi trình
bày vấn đề, đó là viết in hoa nhằm đánh dấu đề mục, kiểu kết cấu này chúng ta hay gặp trong
tiểu thuyết chương hồi. Trong bút kí Thép Mới, sự hấp dẫn nằm ngay ở hệ thống đề mục rất
hóm hỉnh, lại ẩn chứa những cảm xúc sâu sắc của tác giả đối với đất nước thì thiết tha, đối
với kẻ thù thì khinh bỉ. Hệ thống sự kiện trình bày theo kiểu kết cấu này cũng trở nên rõ ràng
hơn, người đọc thể tự xâu chuỗi hay tự tìm ra được mối liên hệ giữa các sự kiện lại với
nhau được một cách dễ dàng. Các sự kiện ấy khi được xâu chuỗi với nhau trở thành một hệ
thống trọn vẹn, thống nhất với nhau cả về mặt nội dung lẫn hình thức.
Tuy nhiên trong luận văn này, người viết muốn đề cập nhiều nhất, sâu sắc nhất là kiểu
kết cấu liên tưởng, đây là kiểu kết cấu đặc trưng nhất, phù hợp nhất của hai thể loại tùy bút
và bút kí. Yếu tố quan trọng nhất ở tùy bút, bút kí là cảm xúc của nhà văn trước sự kiện nào
đó, cảm xúc không tuân thủ theo phép tắc, khuôn khổ nào, cảm xúc được tự do nên tính tùy
hứng vì thế cũng phát huy rõ rệt, điều này lí giải cho việc các tác giả chủ yếu sử dụng kết cấu
liên tưởng trong tác phẩm của mình. Các sự kiện được gợi ra theo cảm xúc của nhà văn, sự
kiện này xen lẫn sự kiện kia, cảm xúc này xen lẫn cảm xúc kia, thì hiện tại có thể được trộn
lẫn với thì quá khứ hoặc tương lai, hoặc có lúc cả ba thì được dồn nén lại trong một số ít câu
văn…. Sự không trật tự, không lôgic này lại đạt hiệu quả nghệ thuật cao hơn bất cứ một kiểu
kết cấu nào. Nó đòi hỏi trình độ nghệ thuật của nhà văn phải cao tay, có kinh nghiệm đặc biệt
khả năng miêu tả và biểu cảm một cách hấp dẫn, tuy nhiên để đạt được điều đó, các nhà
văn cần sử dụng nhiều thao tác như quan sát, liên tưởng và tưởng tượng - tưởng tượng ở hình
ảnh nghệ thuật chứ không phải tưởng tượng sự kiện… nó cũng đòi hỏi ở người đọc sự tinh ý
mới nắm bắt được mạch cảm xúc của tác giả.
Trong tùy bút của văn học Việt Nam nói chung và tùy bút giai đoạn 1954 1975 nói
riêng, người viết không bao giờ đơn thuần kể về một câu chuyện hay thể hiện đơn thuần một
dòng cảm xúc mà thường chuyện lồng trong chuyện, cảm xúc gợi cảm xúc, cái y liên
tưởng cái kia một cách phong phú, sinh động. Tiêu biểu cho việc sử dụng kết cấu này phải kể
đến nhà văn tài hoa nổi tiếng với thể tùy bút Nguyễn Tuân. Kết cấu này được sử dụng
- Ở quê hương mẹ Tơm - Chiến quả lớn: niềm tin - Một tình cảm rất Việt Nam Bùi Hiển cũng có kiểu kết cấu này trong bút kí Trên một nông trường miền bể, gồm hai đề mục: Anh hùng nuôi vịt và Khi đã ủ thành sức sống. Hình thức của những đề mục này được tác giả viết theo văn phong khoa học khi trình bày vấn đề, đó là viết in hoa nhằm đánh dấu đề mục, kiểu kết cấu này chúng ta hay gặp trong tiểu thuyết chương hồi. Trong bút kí Thép Mới, sự hấp dẫn nằm ngay ở hệ thống đề mục rất hóm hỉnh, lại ẩn chứa những cảm xúc sâu sắc của tác giả đối với đất nước thì thiết tha, đối với kẻ thù thì khinh bỉ. Hệ thống sự kiện trình bày theo kiểu kết cấu này cũng trở nên rõ ràng hơn, người đọc có thể tự xâu chuỗi hay tự tìm ra được mối liên hệ giữa các sự kiện lại với nhau được một cách dễ dàng. Các sự kiện ấy khi được xâu chuỗi với nhau trở thành một hệ thống trọn vẹn, thống nhất với nhau cả về mặt nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên trong luận văn này, người viết muốn đề cập nhiều nhất, sâu sắc nhất là kiểu kết cấu liên tưởng, đây là kiểu kết cấu đặc trưng nhất, phù hợp nhất của hai thể loại tùy bút và bút kí. Yếu tố quan trọng nhất ở tùy bút, bút kí là cảm xúc của nhà văn trước sự kiện nào đó, cảm xúc không tuân thủ theo phép tắc, khuôn khổ nào, cảm xúc được tự do nên tính tùy hứng vì thế cũng phát huy rõ rệt, điều này lí giải cho việc các tác giả chủ yếu sử dụng kết cấu liên tưởng trong tác phẩm của mình. Các sự kiện được gợi ra theo cảm xúc của nhà văn, sự kiện này xen lẫn sự kiện kia, cảm xúc này xen lẫn cảm xúc kia, thì hiện tại có thể được trộn lẫn với thì quá khứ hoặc tương lai, hoặc có lúc cả ba thì được dồn nén lại trong một số ít câu văn…. Sự không trật tự, không lôgic này lại đạt hiệu quả nghệ thuật cao hơn bất cứ một kiểu kết cấu nào. Nó đòi hỏi trình độ nghệ thuật của nhà văn phải cao tay, có kinh nghiệm đặc biệt có khả năng miêu tả và biểu cảm một cách hấp dẫn, tuy nhiên để đạt được điều đó, các nhà văn cần sử dụng nhiều thao tác như quan sát, liên tưởng và tưởng tượng - tưởng tượng ở hình ảnh nghệ thuật chứ không phải tưởng tượng sự kiện… nó cũng đòi hỏi ở người đọc sự tinh ý mới nắm bắt được mạch cảm xúc của tác giả. Trong tùy bút của văn học Việt Nam nói chung và tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 nói riêng, người viết không bao giờ đơn thuần kể về một câu chuyện hay thể hiện đơn thuần một dòng cảm xúc mà thường chuyện lồng trong chuyện, cảm xúc gợi cảm xúc, cái này liên tưởng cái kia một cách phong phú, sinh động. Tiêu biểu cho việc sử dụng kết cấu này phải kể đến nhà văn tài hoa – nổi tiếng với thể tùy bút là Nguyễn Tuân. Kết cấu này được sử dụng