Luận văn Thạc sĩ Văn học: Đặc điểm của tùy bút trong Văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

80
942
102
Chương 1
DIỆN MẠO VÀ VỊ TRÍ CỦA TÙY BÚT, BÚT KÍ VĂN HỌC TRONG
VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1954 – 1975
Kí là một thể loại văn học “áp sát” đời sống. Thể loại tùy bút, bút kí giai đoạn này đã
bám sát, phản ánh kịp thời hiện thực đời sống. Để tìm hiểu thành tựu của hai thể loại này,
Luận văn xin trình bày khái quát về bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 1975. Trên sở đó
phác họa diện mạo của hai thể loại tìm hiểu vị trí của trong bức tranh chung của văn
học cách mạng giai đoạn này.
1.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng, nhiều sự
kiện liên tiếp nổ ra đã tác động lớn đối với vận mệnh dân tộc. Có thể thấy những biến động
đó trong những chặng đường lịch sử sau:
1.1.1. Từ năm 1954 đến năm 1964
Chiến thắng Đông xuân 1953 1954 đỉnh cao chiến thắng Điện Biên Phủ
(ngày 7-5-1954) đã buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước lập lại
hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương, kết thúc thắng
lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên do tình hình chính trthế giới phức tạp, Việt
Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế đchính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn
toàn giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bđế quốc các lực
lượng tay sai thống trị. Vì thế sự nghiệp cách mạng vẫn chưa hoàn thành. Hai yêu cầu đặt ra
là xây dựng miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Đối với miền Bắc, từ năm 1954 đến 1960, cách mạng đặt ra nhiệm vụ hết sức cấp bách
là khôi phục kinh tế và cải tạo hội chủ nghĩa. Công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra trong
trong điều kiện hết sức khó khăn vì đất nước vốn một nước thuộc địa, lại vừa trải qua
chiến tranh, cơ sở vật chất cũng như các yếu tố tinh thần bị tàn phá nặng nề. Trước tình hình
đó, tháng 9 1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết và vạch nhiệm vụ trước mắt là ổn định
trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả thành phố và nông thôn
phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân mà then chốt là phát triển sản xuất
nông nghiệp. Với quyết tâm cao, cuối năm 1957 kế hoạch khôi phục kinh tế đã căn bản hoàn
thành và nhiều chỉ tiêu đã hoàn thành vượt mức. Nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận
tải đã có bộ mặt mới, đặc biệt các ngành văn hóa, giáo dục, y tế đã phát triển nhanh chóng.
Chương 1 DIỆN MẠO VÀ VỊ TRÍ CỦA TÙY BÚT, BÚT KÍ VĂN HỌC TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1954 – 1975 Kí là một thể loại văn học “áp sát” đời sống. Thể loại tùy bút, bút kí giai đoạn này đã bám sát, phản ánh kịp thời hiện thực đời sống. Để tìm hiểu thành tựu của hai thể loại này, Luận văn xin trình bày khái quát về bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 – 1975. Trên cơ sở đó phác họa diện mạo của hai thể loại và tìm hiểu vị trí của nó trong bức tranh chung của văn học cách mạng giai đoạn này. 1.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng, nhiều sự kiện liên tiếp nổ ra đã tác động lớn đối với vận mệnh dân tộc. Có thể thấy những biến động đó trong những chặng đường lịch sử sau: 1.1.1. Từ năm 1954 đến năm 1964 Chiến thắng Đông – xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954) đã buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước lập lại hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên do tình hình chính trị thế giới phức tạp, Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mĩ và các lực lượng tay sai thống trị. Vì thế sự nghiệp cách mạng vẫn chưa hoàn thành. Hai yêu cầu đặt ra là xây dựng miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đối với miền Bắc, từ năm 1954 đến 1960, cách mạng đặt ra nhiệm vụ hết sức cấp bách là khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra trong trong điều kiện hết sức khó khăn vì đất nước vốn là một nước thuộc địa, lại vừa trải qua chiến tranh, cơ sở vật chất cũng như các yếu tố tinh thần bị tàn phá nặng nề. Trước tình hình đó, tháng 9 – 1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết và vạch rõ nhiệm vụ trước mắt là ổn định trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả thành phố và nông thôn là phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân mà then chốt là phát triển sản xuất nông nghiệp. Với quyết tâm cao, cuối năm 1957 kế hoạch khôi phục kinh tế đã căn bản hoàn thành và nhiều chỉ tiêu đã hoàn thành vượt mức. Nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải đã có bộ mặt mới, đặc biệt các ngành văn hóa, giáo dục, y tế đã phát triển nhanh chóng.
Sau ba năm khôi phục kinh tế với nhiều thành quả quan trọng, miền Bắc sôi nổi bước
vào thời cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế. Không khí này diễn ra ở tất cả các
vùng từ đồng bằng tới miền núi, ở tất c các ngành từ công nghiệp, ng nghiệp, thương
nghiệp, giáo dục, y tế. Với những chương trình như hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh…. “Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã có tác động tích cực
trong việc xoá bỏ bản về chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển, nhất là trong điều kiện có chiến tranh”[23/148]. Thắng lợi của kế hoạch ba năm (1958
-1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến to lớn trên miền Bắc nước
ta.
Ở miền Nam, trước khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm lên
làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm
đã xây dựng miền Nam thành “quốc gia mạnh”, do đó chúng triệt đthi hành những chính
sách độc ác, dã man, nguy hiểm nhất là chúng đưa “lối sống Mĩ” tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh – thiếu niên. Chúng vừa mua chuộc, vừa mị vừa đàn
áp trắng trợn, cưỡng bức nhân dân trong các chiến dịch tố cộng, vu khống tố cáo cộng sản,
đề cao Ngô Đình Diệm. Tình hình đó khiến cho cách mạng bị tổn thất nặng nề. Nhiều phong
trào đấu tranh đã nổ ra, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị kéo dài cho đến năm 1960.
Tiêu biểu trong các phong trào đó là phong trào “đồng khởi”. Xuất phát từ yêu cầu của nghị
quyết 15 của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng vào tháng 1 – 1959, ngọn lửa đồng
khởi đã cháy lên trên nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, từ Ninh Thuận, Bình Thuận, Quãng
Ngãi cho đến các vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long – đặc biệt là ở tỉnh Bến
Tre. Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền
Nam và sự suy yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Từ năm 1961 đến năm 1964, bối cảnh lịch sử xã hội giai đoạn này có một sự biến
chuyển tích cực rõ nét, miền Bắc đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội – đây được coi nhiệm
vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước. Còn miền Nam tiếp tục thực
hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – cuộc cách mạng này có ý nghĩa quyết định trực
tiếp để đánh đổ đế quốc và tay sai, thực hiện hoà bình và thống nhất đất nước.
Miền Bắc, từ năm 1961 Đảng đã xác định lấy xây dựng chủ nghĩa hội làm trọng
tâm. Một phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội được dấy lên sôi nổi khắp nơi. Nếu
giai đoạn trước, Đảng chú ý phát triển nông nghiệp thì sang giai đoạn này đã bước đầu chú ý
công nghiệp hoá nước nhà điều này được thể hiện rất trong kế hoạch năm năm lần thứ
Sau ba năm khôi phục kinh tế với nhiều thành quả quan trọng, miền Bắc sôi nổi bước vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế. Không khí này diễn ra ở tất cả các vùng từ đồng bằng tới miền núi, ở tất cả các ngành từ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, y tế. Với những chương trình như hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh…. “Kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã có tác động tích cực trong việc xoá bỏ cơ bản về chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều kiện có chiến tranh”[23/148]. Thắng lợi của kế hoạch ba năm (1958 -1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến to lớn trên miền Bắc nước ta. Ở miền Nam, trước khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành “quốc gia mạnh”, do đó chúng triệt để thi hành những chính sách độc ác, dã man, nguy hiểm nhất là chúng đưa “lối sống Mĩ” tràn vào miền Nam để đầu độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh – thiếu niên. Chúng vừa mua chuộc, vừa mị vừa đàn áp trắng trợn, cưỡng bức nhân dân trong các chiến dịch tố cộng, vu khống tố cáo cộng sản, đề cao Ngô Đình Diệm. Tình hình đó khiến cho cách mạng bị tổn thất nặng nề. Nhiều phong trào đấu tranh đã nổ ra, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị kéo dài cho đến năm 1960. Tiêu biểu trong các phong trào đó là phong trào “đồng khởi”. Xuất phát từ yêu cầu của nghị quyết 15 của hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng vào tháng 1 – 1959, ngọn lửa đồng khởi đã cháy lên trên nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, từ Ninh Thuận, Bình Thuận, Quãng Ngãi cho đến các vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long – đặc biệt là ở tỉnh Bến Tre. Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền Nam và sự suy yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ năm 1961 đến năm 1964, bối cảnh lịch sử xã hội giai đoạn này có một sự biến chuyển tích cực rõ nét, miền Bắc đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội – đây được coi nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước. Còn miền Nam tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – cuộc cách mạng này có ý nghĩa quyết định trực tiếp để đánh đổ đế quốc và tay sai, thực hiện hoà bình và thống nhất đất nước. Miền Bắc, từ năm 1961 Đảng đã xác định lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm. Một phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội được dấy lên sôi nổi khắp nơi. Nếu giai đoạn trước, Đảng chú ý phát triển nông nghiệp thì sang giai đoạn này đã bước đầu chú ý công nghiệp hoá nước nhà – điều này được thể hiện rất rõ trong kế hoạch năm năm lần thứ
nhất(1961 1965). Trong công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí,
luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, đã được hình thành phát triển rất nhanh, nhất là
ngành điện khí. Đây được coi điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp nói
chung phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa. Nông nghiệp cũng được ưu tiên đầu đúng
mức, đặc biệt đã chú ý phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh để làm
cơ sở cho sự phát triển nông nghiệp. Văn hoá, giáo dục ngày càng ổn định, đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Trong năm năm này, đời sống của
nhân dân miền Bắc ổn định, với tinh thần tất cả cho chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thực hiện
thắng lợi kế hoạch năm năm lần thứ nhất, tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽkhơi gợi
nhiều phong trào thi đua giữa các tỉnh với nhau. “Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc s
chính trị tinh thần vật chất để tự bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá
hoại của Mĩ sau này, đồng thời làm trọn nhiệm vụ sở của cách mạng giải phóng miền
Nam, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương lớn của cả cách mạng
ba nước Đông Dương”[23/179].
Trong khi đó, miền Nam, tình hình xã hội đã nhiều biến động. Sau khi Kennơđi
lên làm tổng thống, Mĩ đã điên cuồng chống phá cách mạng Việt nam dưới nhiều hình thức –
tiêu biểu là thực hiện kiểu chiến tranh đặc biệt. Chúng đã dồn nhân dân vào ấp chiến lược đ
dễ dàng cho chúng trong việc thực hiện âm mưu của mình. Chúng dùng sức mạnh của bộ
máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét, chúng còn tiến hành những cuộc hành quân
càn quét dài ngày vào những vùng Bến Cát, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…, đời sống của
nhân dân cùng cực khổ, đau thương, qua những trận càn đó, cách mạng đã rất nhiều
mất mát, hi sinh. Tháng 1 1961, Bộ chính trị họp, quyết định về những nhiệm vụ công tác
trước mắt của cách mạng miền Nam, theo đó phong trào cách mạng đã có nhiều sự thay đổi.
Đấu tranh vũ trang được phát huy với quy mô ngày càng lớn, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh
chính trị. Phong trào này bước đầu đã phá vỡ từng mảng chính quyền địch ở nông thôn, tiêu
diệt và làm tan rã hàng vạn tề ngụy, phá huỷ gần hết các “khu dinh điền”, “khu trù mật” của
địch… đưa khí thế cách mạng ngày càng dâng cao. Đã có những sự kiện điển hình, tiêu biểu
cho phong trào chống Mĩ trong giai đoạn này như chiến thắng ấp Bắc –Tho vào tháng 1
– 1963, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối Mĩ (11-6-1963)… đã làm thất bại
kế hoạch Xtalây Taylo mà đưa ra đồng thời những sự kiện đó đã gây được xúc động
mạnh trong nhân dân, từ đó làm cho khí thế cách mạng ngày càng trào dâng mãnh liệt. Sự
nhất(1961 – 1965). Trong công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, đã được hình thành và phát triển rất nhanh, nhất là ngành điện và cơ khí. Đây được coi là điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp nói chung phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa. Nông nghiệp cũng được ưu tiên đầu tư đúng mức, đặc biệt đã chú ý phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh để làm cơ sở cho sự phát triển nông nghiệp. Văn hoá, giáo dục ngày càng ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Trong năm năm này, đời sống của nhân dân miền Bắc ổn định, với tinh thần tất cả cho chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thực hiện thắng lợi kế hoạch năm năm lần thứ nhất, tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ và khơi gợi nhiều phong trào thi đua giữa các tỉnh với nhau. “Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc cơ sở chính trị tinh thần và vật chất để tự bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ sau này, đồng thời làm trọn nhiệm vụ cơ sở của cách mạng giải phóng miền Nam, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương lớn của cả cách mạng ba nước Đông Dương”[23/179]. Trong khi đó, ở miền Nam, tình hình xã hội đã có nhiều biến động. Sau khi Kennơđi lên làm tổng thống, Mĩ đã điên cuồng chống phá cách mạng Việt nam dưới nhiều hình thức – tiêu biểu là thực hiện kiểu chiến tranh đặc biệt. Chúng đã dồn nhân dân vào ấp chiến lược để dễ dàng cho chúng trong việc thực hiện âm mưu của mình. Chúng dùng sức mạnh của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét, chúng còn tiến hành những cuộc hành quân càn quét dài ngày vào những vùng Bến Cát, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…, đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, đau thương, qua những trận càn đó, cách mạng đã có rất nhiều mất mát, hi sinh. Tháng 1 – 1961, Bộ chính trị họp, quyết định về những nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, theo đó phong trào cách mạng đã có nhiều sự thay đổi. Đấu tranh vũ trang được phát huy với quy mô ngày càng lớn, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Phong trào này bước đầu đã phá vỡ từng mảng chính quyền địch ở nông thôn, tiêu diệt và làm tan rã hàng vạn tề ngụy, phá huỷ gần hết các “khu dinh điền”, “khu trù mật” của địch… đưa khí thế cách mạng ngày càng dâng cao. Đã có những sự kiện điển hình, tiêu biểu cho phong trào chống Mĩ trong giai đoạn này như chiến thắng ấp Bắc – Mĩ Tho vào tháng 1 – 1963, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối Mĩ (11-6-1963)… đã làm thất bại kế hoạch Xtalây – Taylo mà Mĩ đưa ra đồng thời những sự kiện đó đã gây được xúc động mạnh trong nhân dân, từ đó làm cho khí thế cách mạng ngày càng trào dâng mãnh liệt. Sự
phá sản của chiến tranh đặc biệt đã đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng miền
Nam, minh chứng cho sự đúng đắn, kịp thời trong đường lối lãnh đạo của Đảng.
1.1.2. Từ năm 1965 đến năm 1975
Trong ba năm (1965 – 1968), miền Nam chiến đấu chống chiến lược chiến tranh cục
bộ của Mĩ. vào ưu thế quân đội đông, khí hiện đại, hỏa lực mạnh, động nhanh,
chúng đã tiếp tục, thường xuyên mở những cuộc càn quét lớn như cuộc hành quân Áttơnborơ
đánh vào khu Dương Minh Châu vào tháng 11 – 1966, cuộc hành quân Xêđaphôn vào Trảng
Bàng – Bến SúcCủ Chi vào tháng 1 – 1967, cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào Bắc
Tây Ninh từ tháng 2 đến tháng 4 1967. Tuy nhiên, Mĩ tăng cường và mở rộng chiến tranh
trong thế thua, bị động một tinh thần chiến đấu bệ rạc nên không bao u trước sự tấn
công ồ ạt và sự kiên cường đánh trả, thế chủ động “tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” đang
dâng cao của nhân dân ta thì chiến tranh cục bộ của cũng bị phá sản một cách nhanh
chóng. Đỉnh cao cho phong trào cách mạng những năm 1965 – 1968 là cuộc tổng tiến công
nổi dậy vào Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm cho địch choáng váng. Với cuộc tập kích
này, tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã tạo ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mĩ, buộc chúng phải
xuống thang chiến tranh.
Không từ bỏ âm mưu xâm lược của mình, Mĩ dựng lên “sự kiện vịnh Bắc bộ” và chính
thức mở rộng cuộc chiến tranh không quân và hải quân lần thứ nhất phá hoại miền Bắc vào
ngày 7 – 2 – 1965. Trước tình hình đó, miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại,
vừa phối hợp với miền Nam chống chiến tranh cục bộ, lại vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
xã hội trong điều kiện chiến tranh và làm nghĩa vụ hậu phương lớn.
Từ năm 1969 đến năm 1973, sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà
Trắng, đầu năm 1969 Nich xơn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam với chiến lược Việt
Nam hoá chiến tranh, “dùng người Việt đánh người Việt”. Ních xơn đưa ra cùng lúc ba loại
chiến tranh là Chiến tranh giành dân, Chiến tranh hủy diệt và Chiến tranh bóp nghẹt, trên cơ
sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mĩ kết hợp với thủ đoạn chính trị và ngoại
giao xảo quyệt. Tất cả những chính sách đó đã khiến cho nhân dân miền Nam rơi o đời
sống vật chất và tinh thần vô cùng cực khổ, mất mát hi sinh ngày càng nhiều.
Đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhiều phong trào quần chúng đã nổ ra hầu
khắp các vùng nông thôn Trung Trung Bộ đồng bằng ng Cửu Long với quyết tâm
chống ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Ở thành thị, công nhân, học sinh sinh viên,
phá sản của chiến tranh đặc biệt đã đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng miền Nam, minh chứng cho sự đúng đắn, kịp thời trong đường lối lãnh đạo của Đảng. 1.1.2. Từ năm 1965 đến năm 1975 Trong ba năm (1965 – 1968), miền Nam chiến đấu chống chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ. Ỷ vào ưu thế quân đội đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, chúng đã tiếp tục, thường xuyên mở những cuộc càn quét lớn như cuộc hành quân Áttơnborơ đánh vào khu Dương Minh Châu vào tháng 11 – 1966, cuộc hành quân Xêđaphôn vào Trảng Bàng – Bến Súc – Củ Chi vào tháng 1 – 1967, cuộc hành quân Gianxơn Xiti đánh vào Bắc Tây Ninh từ tháng 2 đến tháng 4 – 1967. Tuy nhiên, Mĩ tăng cường và mở rộng chiến tranh trong thế thua, bị động và một tinh thần chiến đấu bệ rạc nên không bao lâu trước sự tấn công ồ ạt và sự kiên cường đánh trả, thế chủ động “tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” đang dâng cao của nhân dân ta thì chiến tranh cục bộ của Mĩ cũng bị phá sản một cách nhanh chóng. Đỉnh cao cho phong trào cách mạng những năm 1965 – 1968 là cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm cho địch choáng váng. Với cuộc tập kích này, tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã tạo ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, làm lung lay ý chí xâm lược của quân viễn chinh Mĩ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh. Không từ bỏ âm mưu xâm lược của mình, Mĩ dựng lên “sự kiện vịnh Bắc bộ” và chính thức mở rộng cuộc chiến tranh không quân và hải quân lần thứ nhất phá hoại miền Bắc vào ngày 7 – 2 – 1965. Trước tình hình đó, miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa phối hợp với miền Nam chống chiến tranh cục bộ, lại vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chiến tranh và làm nghĩa vụ hậu phương lớn. Từ năm 1969 đến năm 1973, sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà Trắng, đầu năm 1969 Nich xơn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, “dùng người Việt đánh người Việt”. Ních xơn đưa ra cùng lúc ba loại chiến tranh là Chiến tranh giành dân, Chiến tranh hủy diệt và Chiến tranh bóp nghẹt, trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mĩ kết hợp với thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt. Tất cả những chính sách đó đã khiến cho nhân dân miền Nam rơi vào đời sống vật chất và tinh thần vô cùng cực khổ, mất mát hi sinh ngày càng nhiều. Đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhiều phong trào quần chúng đã nổ ra ở hầu khắp các vùng nông thôn Trung Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long với quyết tâm chống ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Ở thành thị, công nhân, học sinh sinh viên,
trí thức, phật tử và các tầng lớp khác đã đấu tranh mạnh mẽ dưới nhiều hình thức phong phú
như bãi công, bãi khoá, mít tinh…và đã thu được nhiều thắng lợi. Cuộc tiến công chiến lược
năm 1972 sự kiện tiêu biểu cho phong trào chống giai đoạn này, tuy btổn hại nhiều
nhưng đã giáng đòn mạnh vào quân ngụy và quốc sách “bình định” của chiến lược Việt Nam
hóa chiến tranh của Mĩ.
Giữa lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đang trên đà thắng lợi thì ngày 2 – 9 – 1969 chủ tịch
Hồ Chí Minh qua đời, đó là một tổn thất lớn đối với dân tộc ta, Đảng ta và cách mạng nước
ta.
Trước nguy cơ phá sản của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, để cứu vãn tình thế,
Níchxơn tiến hành “Mĩ hoátrở lại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng cách huy
động trở lại lực lượng lớn không quân và hải quân ạt tham chiến miền Nam gây lại
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Do đó miền Bắc tiếp tục khôi phục và phát triển kinh tế
chi viện cho miền Nam, lại vừa phải chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của . Bằng
quyết tâm của mình, nhân dân miền Bắc đã làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai
này với sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972 đưa miền Bắc trở lại không
khí hòa bình.
Từ năm 1973 đến năm 1975, nhiệm vụ đặt ra cho miền Bắc lúc này vừa tranh thủ hoà
bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đẩy mạnh sản xuất,
xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực mọi mặt của hậu
phương vừa phải luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu và hành động của
địch. Bên cạnh đó, miền Bắc n phải thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn chi viện
sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Miền Nam, quân đội Mĩ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn ra sức chống phá cách
mạng Việt Nam bằng mọi cách, mọi mặt. Nhưng cách mạng chiến tranh giải phóng miền
Nam đã có căn cứ địa và hậu phương vững chắc nên không ngừng lớn mạnh. Cuối năm 1974
đầu năm 1975, tình hình ngày càng có lợi cho cách mạng nên Bộ chính trị đã bàn kế hoạch
giải phóng miền Nam. Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà tiêu biểu
chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc sự nghiệp chống Mĩ cứu nước một cách thắng lợi
hoàn toàn. “Đó cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và
bảo vệ Tổ quốc tiêu biểu của nhân dân ta. Cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn hai thập niên (từ
tháng 7 – 1954 đến tháng 5 – 1975), dài hơn trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử
trí thức, phật tử và các tầng lớp khác đã đấu tranh mạnh mẽ dưới nhiều hình thức phong phú như bãi công, bãi khoá, mít tinh…và đã thu được nhiều thắng lợi. Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là sự kiện tiêu biểu cho phong trào chống Mĩ giai đoạn này, tuy bị tổn hại nhiều nhưng đã giáng đòn mạnh vào quân ngụy và quốc sách “bình định” của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ. Giữa lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đang trên đà thắng lợi thì ngày 2 – 9 – 1969 chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đó là một tổn thất lớn đối với dân tộc ta, Đảng ta và cách mạng nước ta. Trước nguy cơ phá sản của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, để cứu vãn tình thế, Níchxơn tiến hành “Mĩ hoá” trở lại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng cách huy động trở lại lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và gây lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Do đó miền Bắc tiếp tục khôi phục và phát triển kinh tế chi viện cho miền Nam, lại vừa phải chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ. Bằng quyết tâm của mình, nhân dân miền Bắc đã làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này với sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972 đưa miền Bắc trở lại không khí hòa bình. Từ năm 1973 đến năm 1975, nhiệm vụ đặt ra cho miền Bắc lúc này vừa tranh thủ hoà bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đẩy mạnh sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực mọi mặt của hậu phương vừa phải luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu và hành động của địch. Bên cạnh đó, miền Bắc còn phải thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn là chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Nam, quân đội Mĩ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn ra sức chống phá cách mạng Việt Nam bằng mọi cách, mọi mặt. Nhưng cách mạng và chiến tranh giải phóng miền Nam đã có căn cứ địa và hậu phương vững chắc nên không ngừng lớn mạnh. Cuối năm 1974 đầu năm 1975, tình hình ngày càng có lợi cho cách mạng nên Bộ chính trị đã bàn kế hoạch giải phóng miền Nam. Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà tiêu biểu là chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc sự nghiệp chống Mĩ cứu nước một cách thắng lợi hoàn toàn. “Đó là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc tiêu biểu của nhân dân ta. Cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn hai thập niên (từ tháng 7 – 1954 đến tháng 5 – 1975), dài hơn trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử
phải chống lại một đế quốc lớn mạnh nhất đế quốc Mĩ”[23/270]. Cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước thắng lợi đã kết thúc hai mươi mốt năm chiến đấu chống Mĩ và ba mươi
năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ cách mạng tháng Tám 1945, chấm
dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, rửa sạch
nỗi đau mất nước trên một thế kỉ. Trên sở đó hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của cách mạng
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xóa bỏ mọi chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất đất
nước. Miền Nam giải phóng, đất nước được thống nhất và bước vào những trang lịch sử mới.
Hiện thực lịch sử đó của đất nước đã được văn học cách mạng phản ánh một cách trọn
vẹn, sinh động qua các tác phẩm văn học, hay nói cách khác “Văn học thực sự là một chứng
nhân của một quá trình lịch sử hết sức hào hùng.”[37] trong đó có tùy bút, bút kí văn học giai
đoạn 1954 – 1975.
1.2. Diện mạo của tùy bút, bút kí văn học giai đoạn 1954 – 1975
Diện mạo của tùy bút, t trong văn học ch mạng Việt Nam giai đoạn 1954
1975 thể phân chia hai phạm vi rệt, đó tùy bút, bút trong những năm đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội và tùy bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước.
1.2.1. y bút, bút kí trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngày 7 tháng 5 năm 1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, những tên lính
cuối cùng của thực dân Pháp đã rút khỏi Việt Nam, hòa bình được lập lại, miền Bắc bước
vào thời hàn gắn vết thương chiến tranh và đi vào thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với
một tinh thần quyết tâm cao, nhân dân đã bước vào cuộc sống mới một cách tích cực, khẩn
trương, một không khí nhộn nhịp, rộn rã chưa từng thấy. Tất cả đó đã chi phối đến hoạt động
văn học nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ đã hoà nhập với cuộc sống, về với nhân dân, về với
những vùng đất mới. Các nhà viết kí cũng đã đồng hành trên con đường hoà nhập ấy, những
tùy bút, bút kí mới ra đời, giai đoạn đầu còn sơ sài, nghèo nàn về nội dung, đơn giản về nghệ
thuật nhưng càng về sau những tùy bút, bút càng chất lượng nghệ thuật cao. Đặc biệt
khi báo Văn học tổ chức cuộc thi bút kí, phóng sự đã lôi cuốn, thu hút được rất nhiều người
tham gia và đã có được những tác phẩm có giá trị. Các tác phẩm hầu như đều hướng về đất
nước trong cao trào xây dựng chủ nghĩa xã hội và mang hơi thở trực tiếp của đời sống mới.
Tiêu biểu nhất phải kể đến tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân. Tập tùy bút xuất bản lần
thứ nhất vào năm 1960, ngay sau khi xuất bản đã được bạn đọc đón nhận một cách nồng
nhiệt, trở thành một cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều người lúc bấy giờ. Sông Đà gồm
và phải chống lại một đế quốc lớn mạnh nhất là đế quốc Mĩ”[23/270]. Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi đã kết thúc hai mươi mốt năm chiến đấu chống Mĩ và ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ cách mạng tháng Tám 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, rửa sạch nỗi đau mất nước trên một thế kỉ. Trên cơ sở đó hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xóa bỏ mọi chướng ngại trên con đường thực hiện thống nhất đất nước. Miền Nam giải phóng, đất nước được thống nhất và bước vào những trang lịch sử mới. Hiện thực lịch sử đó của đất nước đã được văn học cách mạng phản ánh một cách trọn vẹn, sinh động qua các tác phẩm văn học, hay nói cách khác “Văn học thực sự là một chứng nhân của một quá trình lịch sử hết sức hào hùng.”[37] trong đó có tùy bút, bút kí văn học giai đoạn 1954 – 1975. 1.2. Diện mạo của tùy bút, bút kí văn học giai đoạn 1954 – 1975 Diện mạo của tùy bút, bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 có thể phân chia ở hai phạm vi rõ rệt, đó là tùy bút, bút kí trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và tùy bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước. 1.2.1. Tùy bút, bút kí trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 7 tháng 5 năm 1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, những tên lính cuối cùng của thực dân Pháp đã rút khỏi Việt Nam, hòa bình được lập lại, miền Bắc bước vào thời kì hàn gắn vết thương chiến tranh và đi vào thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với một tinh thần quyết tâm cao, nhân dân đã bước vào cuộc sống mới một cách tích cực, khẩn trương, một không khí nhộn nhịp, rộn rã chưa từng thấy. Tất cả đó đã chi phối đến hoạt động văn học nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ đã hoà nhập với cuộc sống, về với nhân dân, về với những vùng đất mới. Các nhà viết kí cũng đã đồng hành trên con đường hoà nhập ấy, những tùy bút, bút kí mới ra đời, giai đoạn đầu còn sơ sài, nghèo nàn về nội dung, đơn giản về nghệ thuật nhưng càng về sau những tùy bút, bút kí càng có chất lượng nghệ thuật cao. Đặc biệt khi báo Văn học tổ chức cuộc thi bút kí, phóng sự đã lôi cuốn, thu hút được rất nhiều người tham gia và đã có được những tác phẩm có giá trị. Các tác phẩm hầu như đều hướng về đất nước trong cao trào xây dựng chủ nghĩa xã hội và mang hơi thở trực tiếp của đời sống mới. Tiêu biểu nhất phải kể đến tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân. Tập tùy bút xuất bản lần thứ nhất vào năm 1960, ngay sau khi xuất bản đã được bạn đọc đón nhận một cách nồng nhiệt, trở thành một cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều người lúc bấy giờ. Sông Đà gồm
mười lăm bài tùy bút một bài thơ phác thảo: Đường lên Tây Bắc; Giăng liềm (bài thơ
phác thảo); Tây Trang; Đi mở đường; Dọn nhà lên Điện Biên; Một tí về lịch sử và một bản
lịch; Phố núi; Xoè; Đào cộng sản; Đất cũ Sơn La; Tình cao su; Bài ca trên mặt phần đường;
Gió than Uyên; Than Quỳnh Nhai; Người lái đò sông Đà.
Đề tài của Sông Đà cuộc sống, con người Tây Bắc trong ng cuộc xây dựng chủ
nghĩa hội, với tập tùy bút này, Nguyễn Tuân đã cho mọi người thấy cái không khí phấn
chấn trong cuộc sống mới ấy không chỉ diễn ra những thành phố lớn còn lan tỏa đến
những bản Mèo xa xôi, heo hút. Tuy nhiên, với Tây Bắc, nhà văn còn khám phá sâu hơn thế,
nhiều hơn thế, ông về với Tây Bắc của thời quá khứ với “một tí về lịch sử” của tên vua Đèo
Văn Long – tay sai của Pháp, độc ác, dâm ô và những đứa con cùng bản chất với hắn. Cùng
với cuộc sống của tên vua ấy thân phận của những xoè phải “giẫm lên máu mình
múa, rồi máu tươi ấy khô dần một đống trên một cuộc đời đã biến thành một cái đệm, lớp
máu đêm sau đóng vẩy lên lớp máu đêm đầu, và cứ thế, cứ thế.”[86/193]. Trở về với hiện tại,
ông tìm đến vẻ đẹp của con người Tây Bắc mà ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn.
Ông đồng tình, ủng hộ với những người “dọn nhà lên Điện Biên” – dù với họ không khỏi bịn
rịn, nhớ thương làng nhưng trên hết sự chờ đợi, háo hức những đổi thay của cuộc đời
họ trên mảnh đất mới, ông cũng ca ngợi những người đang ngày đêm mở đường xây dựng
Điện Biên ông hát ca cùng họ trên mặt phần đường. Ông ăn cùng những chiến sĩ đồn
Tây Trang đang ngày đêm bảo vệ biên giới Tổ quốc, gặp những người lái đò trên dòng sông
Đà hiểm trở… bởi tất cả những con người ấy rồi đây sẽ làm cho Tây Bắc đổi thay. Nhà văn
hi vọng cho một ngày mai tươi sáng sẽ đến với Tây Bắc. Sông Đà còn dành rất nhiều những
trang viết về thiên nhiên rất đẹp, rất đặc trưng của núi rừng Tây Bắc hoa mận, hoa ban
trắng xóa, những nương ngô xanh mướt sườn đồi.... Những cảnh thiên nhiên thơ mộng cũng
như sự hùng hay khắc nghiệt của đều được Nguyễn Tuân miêu tả rõ nét đến tận cùng
bản chất. Có thể nói, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cảnh và người Tây Bắc hiện lên sống động
chân thực hơn bao giờ hết, với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bậc thầy, vận dụng linh hoạt các
thao tác miêu tả, liên tưởng, tưởng tượng, Sông Đà trở thành một tập tùy bút hay nhất trong
sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân và cũng là đặc sắc nhất trong tùy bút Việt Nam.
Tùy bút, bút kí viết trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩahội còn phải kể đến
các tác phẩm của Thép Mới. “Nói đến Thép Mới, người ta thường nghĩ anh là một nhà báo,
một nhà báo lớn được công chúng mến mộ, được bạn trong ngoài nước đánh giá
cao”[81/126], vì thế “Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam mấy chục năm qua có thể xem
mười lăm bài tùy bút và một bài thơ phác thảo: Đường lên Tây Bắc; Giăng liềm (bài thơ phác thảo); Tây Trang; Đi mở đường; Dọn nhà lên Điện Biên; Một tí về lịch sử và một bản lí lịch; Phố núi; Xoè; Đào cộng sản; Đất cũ Sơn La; Tình cao su; Bài ca trên mặt phần đường; Gió than Uyên; Than Quỳnh Nhai; Người lái đò sông Đà. Đề tài của Sông Đà là cuộc sống, con người Tây Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, với tập tùy bút này, Nguyễn Tuân đã cho mọi người thấy cái không khí phấn chấn trong cuộc sống mới ấy không chỉ diễn ra ở những thành phố lớn mà còn lan tỏa đến những bản Mèo xa xôi, heo hút. Tuy nhiên, với Tây Bắc, nhà văn còn khám phá sâu hơn thế, nhiều hơn thế, ông về với Tây Bắc của thời quá khứ với “một tí về lịch sử” của tên vua Đèo Văn Long – tay sai của Pháp, độc ác, dâm ô và những đứa con cùng bản chất với hắn. Cùng với cuộc sống của tên vua ấy là thân phận của những cô xoè phải “giẫm lên máu mình mà múa, rồi máu tươi ấy khô dần một đống trên một cuộc đời đã biến thành một cái đệm, lớp máu đêm sau đóng vẩy lên lớp máu đêm đầu, và cứ thế, cứ thế.”[86/193]. Trở về với hiện tại, ông tìm đến vẻ đẹp của con người Tây Bắc mà ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn. Ông đồng tình, ủng hộ với những người “dọn nhà lên Điện Biên” – dù với họ không khỏi bịn rịn, nhớ thương làng cũ nhưng trên hết là sự chờ đợi, háo hức những đổi thay của cuộc đời họ trên mảnh đất mới, ông cũng ca ngợi những người đang ngày đêm mở đường xây dựng Điện Biên và ông hát ca cùng họ trên mặt phần đường. Ông ăn ở cùng những chiến sĩ đồn Tây Trang đang ngày đêm bảo vệ biên giới Tổ quốc, gặp những người lái đò trên dòng sông Đà hiểm trở… bởi tất cả những con người ấy rồi đây sẽ làm cho Tây Bắc đổi thay. Nhà văn hi vọng cho một ngày mai tươi sáng sẽ đến với Tây Bắc. Sông Đà còn dành rất nhiều những trang viết về thiên nhiên rất đẹp, rất đặc trưng của núi rừng Tây Bắc – hoa mận, hoa ban trắng xóa, những nương ngô xanh mướt sườn đồi.... Những cảnh thiên nhiên thơ mộng cũng như sự hùng vĩ hay khắc nghiệt của nó đều được Nguyễn Tuân miêu tả rõ nét đến tận cùng bản chất. Có thể nói, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, cảnh và người Tây Bắc hiện lên sống động chân thực hơn bao giờ hết, với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bậc thầy, vận dụng linh hoạt các thao tác miêu tả, liên tưởng, tưởng tượng, Sông Đà trở thành một tập tùy bút hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân và cũng là đặc sắc nhất trong tùy bút Việt Nam. Tùy bút, bút kí viết trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội còn phải kể đến các tác phẩm của Thép Mới. “Nói đến Thép Mới, người ta thường nghĩ anh là một nhà báo, một nhà báo lớn được công chúng mến mộ, được bạn bè trong và ngoài nước đánh giá cao”[81/126], vì thế “Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam mấy chục năm qua có thể xem
anh một trong vài ba người vinh dự đứng hàng đầu”[81/127]. Không những thế “Thép
Mới còn là một nhà văn, hay nói đúng hơn là một nhà báo đậm chất văn chương trong tư duy
sáng tạo, trong cách diễn đạt s dụng ngôn từ”[81/127]. Sau Trách nhiệm viết từ thời
kháng chiến chống Pháp và Cây tre (1955), Như anh em một nhà (1957) viết đầu những năm
chống Mĩ, Thép Mới viết tiếp Hiên ngang Cu-ba (1962) và Điện Biên Phủ, một danh từ Việt
Nam (1965) những tác phẩm này mới thực sự gây được nhiều ấn tượng với bạn đọc tên
tuổi của Thép Mới với tư cách là nhà văn được biết đến nhiều. Hiên ngang Cu – ba gồm bảy
bài bút (Hiên ngang Cu-ba; Ngày đầu nămbán cầu bên kia; Gặp Phi - đen Ca-xtơ-rô;
Cây đời rất xanh tươi của châu Mĩ; Vang bóng một thời … Mĩ; Từ La Ha-van đến Gi-rông;
Một cuộc đời của mía.) viết về con người và phong cảnh đất nước Cu-ba xinh đẹp – đất nước
xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Tây bán cầu trong một lần nhà văn theo đoàn sang công tác nơi
đây. Trong bảy bài bút kí đó, Thép Mới đã cho bạn đọc khắp nơi thấy được sức sống mãnh
liệt đang trào ng trong con ngườicảnh vật của đất nước Cu-ba. Những con người anh
hùng đang tràn đầy quyết tâm trong ng cuộc xây dựng chủ nghĩa hội, những hàng cọ
pa-ma-rê-an cao vút, những cánh đồng mía bạt ngàn, xanh tốt, tít tắp tận chân trời. Tất cả
như đang thách thức với kẻ thù ngay bên cạnh mình. Với chất liệu hiện thực ngồn ngộn,
cách miêu tả tỉ mỉ Hiên ngang Cu-ba đã thật sự thu hút, đã chinh phục được biết bao trái tim
bạn đọc lúc bấy giờ.
Khác với phong cách của Hiên ngang Cuba, khi viết Điện Biên Phủ - một danh từ
Việt Nam với chín bài bút kí, tùy bút xâu chuỗi lẫn nhau, năm bài nói về Điện Biên Phủ: Đâu
có giặc là ta cứ đi; Nhân nghe nói về bọn “cọp đen” và bọn “ó đỏ”; Hakin nên ra mà xem
bảo tàng Điện Biên Phủ; Chiếc ca rỗng chứa sóng ngầm; Điện Biên Phủ, một danh từ Việt
Nam, hai bài lấy khung cảnh rộng lớn là cuộc sống sản xuất và đấu tranh trên những dải đất
nóng bỏng của tiền tuyến: Chiến công tháng Tám; Mùa thu cây lúa và cây súng; một bài ca
ngợi sự biến đổi thần kì, khả năng và tiềm lực vô hạn của Thủ đô: Nội mà chúng ta yêu;
một bài ca ngợi người thợ điện anh hùng của Sài n: Tấm gương của anh Trỗi, cảm xúc
của ông dường như lắng lại bởi ông đang viết về mảnh đất nơi ông đã từng gắn cả tuổi
thanh xuân. Cả tập bút kí là sự xen lẫn của nhiều cung bậc cảm xúc của nhà văn trước những
sự kiện, con nguời mà ông nói đến.
Với giọng văn hào sảng, chất liệu phong phú, với sự đối chiếu không gian, thời
gian, thể hiện vốn hiểu biết lịch sử sâu sắc của tác giả, hai tập bút kí thật sự đã tạo nên được
anh là một trong vài ba người vinh dự đứng ở hàng đầu”[81/127]. Không những thế “Thép Mới còn là một nhà văn, hay nói đúng hơn là một nhà báo đậm chất văn chương trong tư duy sáng tạo, trong cách diễn đạt và sử dụng ngôn từ”[81/127]. Sau Trách nhiệm viết từ thời kháng chiến chống Pháp và Cây tre (1955), Như anh em một nhà (1957) viết đầu những năm chống Mĩ, Thép Mới viết tiếp Hiên ngang Cu-ba (1962) và Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam (1965) những tác phẩm này mới thực sự gây được nhiều ấn tượng với bạn đọc và tên tuổi của Thép Mới với tư cách là nhà văn được biết đến nhiều. Hiên ngang Cu – ba gồm bảy bài bút kí (Hiên ngang Cu-ba; Ngày đầu năm ở bán cầu bên kia; Gặp Phi - đen Ca-xtơ-rô; Cây đời rất xanh tươi của châu Mĩ; Vang bóng một thời … Mĩ; Từ La Ha-van đến Gi-rông; Một cuộc đời của mía.) viết về con người và phong cảnh đất nước Cu-ba xinh đẹp – đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Tây bán cầu trong một lần nhà văn theo đoàn sang công tác nơi đây. Trong bảy bài bút kí đó, Thép Mới đã cho bạn đọc khắp nơi thấy được sức sống mãnh liệt đang trào dâng trong con người và cảnh vật của đất nước Cu-ba. Những con người anh hùng đang tràn đầy quyết tâm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, những hàng cọ pa-ma-rê-an cao vút, những cánh đồng mía bạt ngàn, xanh tốt, tít tắp tận chân trời. Tất cả như đang thách thức với kẻ thù ở ngay bên cạnh mình. Với chất liệu hiện thực ngồn ngộn, cách miêu tả tỉ mỉ Hiên ngang Cu-ba đã thật sự thu hút, đã chinh phục được biết bao trái tim bạn đọc lúc bấy giờ. Khác với phong cách của Hiên ngang Cu – ba, khi viết Điện Biên Phủ - một danh từ Việt Nam với chín bài bút kí, tùy bút xâu chuỗi lẫn nhau, năm bài nói về Điện Biên Phủ: Đâu có giặc là ta cứ đi; Nhân nghe nói về bọn “cọp đen” và bọn “ó đỏ”; Hakin nên ra mà xem bảo tàng Điện Biên Phủ; Chiếc ca rỗng chứa sóng ngầm; Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam, hai bài lấy khung cảnh rộng lớn là cuộc sống sản xuất và đấu tranh trên những dải đất nóng bỏng của tiền tuyến: Chiến công tháng Tám; Mùa thu cây lúa và cây súng; một bài ca ngợi sự biến đổi thần kì, khả năng và tiềm lực vô hạn của Thủ đô: Hà Nội mà chúng ta yêu; một bài ca ngợi người thợ điện anh hùng của Sài Gòn: Tấm gương của anh Trỗi, cảm xúc của ông dường như lắng lại bởi ông đang viết về mảnh đất nơi ông đã từng gắn bó cả tuổi thanh xuân. Cả tập bút kí là sự xen lẫn của nhiều cung bậc cảm xúc của nhà văn trước những sự kiện, con nguời mà ông nói đến. Với giọng văn hào sảng, chất tư liệu phong phú, với sự đối chiếu không gian, thời gian, thể hiện vốn hiểu biết lịch sử sâu sắc của tác giả, hai tập bút kí thật sự đã tạo nên được
những ấn tượng sâu đậm và cũng là đánh dấu cho sự phát triển của bút kí trong văn học cách
mạng Việt Nam.
1.2.2. y bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước
Giai đoạn chống Mĩ cứu nước giai đoạn mà thể nói chung và tùy bút, bút nói
riêng có sự phát triển rực rỡ. Hiện thực đất nước chiến tranh chính là mảnh đất màu mỡ đ
các nhà văn khai thác một cách trọn vẹn cho các tác phẩm của mình. Nhiều tùy bút, bút kí ra
đời đã thành công cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, tạo nên được dấu ấn và
trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thể loại kí, cũng như cho văn học chống Mĩ.
Trước hết phải kể đến những sáng tác của Nguyễn Trung Thành. Ông viết không
nhiều (chỉ với những bài bút kí như Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông; Chị Thuận;
Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc những y bút như Đường chúng ta đi
Trận đánh bắt đầu từ hôm nay) nhưng những tác phẩm ấy đã gây xúc động u sắc, với
những hấp dẫn riêng đã khiến bạn đọc say từ những câu văn mở đầu cho đến kết thúc.
Hai thiên tùy bút Đường chúng ta đi Trận đánh bắt đầu từ hôm nay ghi lại chân thành
những cảm xúc của người chiến trước giờ xuất kích, nhưng rộng ra những c cảm,
nghĩ suy của tác giả về dân tộc, lòng tự hào về truyền thống cha ông, quyết tâm đánh
giặc để đem lại hoà bình cho đất nước. “Những ý nghĩ như toả lan tự nhiên trong đêm khuya
nhưng vẫn lay động xoáy sâu vào mạch tình cảm yêu nước. Những ý nghĩ trong đêm nay,
ngày mai sẽ trở thành hành động, thành sức mạnh và chiến công cụ thể”[16/164]. Đặc biệt là
tùy t Đường chúng ta đi được viết trong những ngày chuẩn bị cho trận đánh (trận Núi
Thành), công tác chính trị đang cần một lời kêu gọi, một lời động viên, ban ngày bận công
tác, trong hai đêm ông viết xong bài tùy bút này – lúc đó được coi là một bài báo động viên
chiến sĩ. Đây cũng là tác phẩm lần đầu tiên nhà văn giới thiệu với bạn đọc bút danh Nguyễn
Trung Thành. Với tùy bút Đường chúng ta đi, “Không chỉ các chiến sĩ dtrận Núi Thành
năm ấy nhiều lớp thanh niên trên hai miền đất nước đọc bài thơ tùy t ấy hay học
trong chương trình văn học ở nhà trường đã mang nguyên vẹn tâm tư và tình cảm nồng cháy
thiết tha ấy ra mặt trận”[75/361].
Với những con người anh hùng trong chiến đấu, Nguyễn Trung Thành giành những
trang bút kí để viết về họ, đó là chị Thuận trong Chị Thuận, là Kơ Lơng trong Người dũng
dưới chân núi Chư Pông hay anh hùng Văn Nghiêu trong Trên quê hương những anh
hùng Điện Ngọc. Họ những con người đẹp nhất nhưng cũng rất bình dị, Nguyễn Trung
Thành đã dành cho họ tất cả những gì mến yêu nhất, trân trọng nhất, kính phục nhất, điều
những ấn tượng sâu đậm và cũng là đánh dấu cho sự phát triển của bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam. 1.2.2. Tùy bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước Giai đoạn chống Mĩ cứu nước là giai đoạn mà thể kí nói chung và tùy bút, bút kí nói riêng có sự phát triển rực rỡ. Hiện thực đất nước chiến tranh chính là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn khai thác một cách trọn vẹn cho các tác phẩm của mình. Nhiều tùy bút, bút kí ra đời đã thành công cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, tạo nên được dấu ấn và trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thể loại kí, cũng như cho văn học chống Mĩ. Trước hết phải kể đến những sáng tác của Nguyễn Trung Thành. Ông viết kí không nhiều (chỉ với những bài bút kí như Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông; Chị Thuận; Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc và những tùy bút như Đường chúng ta đi và Trận đánh bắt đầu từ hôm nay) nhưng những tác phẩm ấy đã gây xúc động sâu sắc, với những hấp dẫn riêng đã khiến bạn đọc say mê từ những câu văn mở đầu cho đến kết thúc. Hai thiên tùy bút Đường chúng ta đi và Trận đánh bắt đầu từ hôm nay ghi lại chân thành những cảm xúc của người chiến sĩ trước giờ xuất kích, nhưng rộng ra là những xúc cảm, nghĩ suy của tác giả về dân tộc, là lòng tự hào về truyền thống cha ông, là quyết tâm đánh giặc để đem lại hoà bình cho đất nước. “Những ý nghĩ như toả lan tự nhiên trong đêm khuya nhưng vẫn lay động xoáy sâu vào mạch tình cảm yêu nước. Những ý nghĩ trong đêm nay, ngày mai sẽ trở thành hành động, thành sức mạnh và chiến công cụ thể”[16/164]. Đặc biệt là tùy bút Đường chúng ta đi được viết trong những ngày chuẩn bị cho trận đánh (trận Núi Thành), công tác chính trị đang cần một lời kêu gọi, một lời động viên, ban ngày bận công tác, trong hai đêm ông viết xong bài tùy bút này – lúc đó được coi là một bài báo động viên chiến sĩ. Đây cũng là tác phẩm lần đầu tiên nhà văn giới thiệu với bạn đọc bút danh Nguyễn Trung Thành. Với tùy bút Đường chúng ta đi, “Không chỉ các chiến sĩ dự trận Núi Thành năm ấy mà nhiều lớp thanh niên trên hai miền đất nước đọc bài thơ tùy bút ấy hay học nó trong chương trình văn học ở nhà trường đã mang nguyên vẹn tâm tư và tình cảm nồng cháy thiết tha ấy ra mặt trận”[75/361]. Với những con người anh hùng trong chiến đấu, Nguyễn Trung Thành giành những trang bút kí để viết về họ, đó là chị Thuận trong Chị Thuận, là Kơ Lơng trong Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông hay anh hùng Lê Văn Nghiêu trong Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Họ là những con người đẹp nhất nhưng cũng rất bình dị, Nguyễn Trung Thành đã dành cho họ tất cả những gì mến yêu nhất, trân trọng nhất, kính phục nhất, điều
này thể hiện rất qua cách ông kể chuyện, ghi chép đặc biệt những dòng cảm xúc đan
xen với các sự kiện một cách hài hoà, nhuần nhuyễn.
Đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của bút kí trong dòng chảy văn học cách mạng
những t của Anh Đức. “Anh Đức thuộc thế hệ nhà n trưởng thành cùng thời đại
cách mạng, sự nghiệp văn học nằm trọn giữa hai cuộc kháng chiến ba mươi năm chống thực
dân Pháp và đế quốc Mĩ.”[76/15]. Tuy đuợc bạn đọc biết đến nhiều qua tiểu thuyết Hòn đất
những truyện ngắn đặc sắc như Giấc mơ của ông lão vườn chim; Xôn xao đồng nước;
Trọng; Mùa gió; Khói…, nhưng “có lẽ nên coi những thành công của Anh Đức về bút kí như
những thành công đầu tiên.”[69] Những bài bút hầu hết được viết o những năm sáu
mươi, khi mà giặc Mĩ đang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ và điên cuồng mở những
trận càn quét lớn như Bức thư Mau (tháng 11 – 1963); Bức thư cuối năm (tháng 12
1964); Thư tháng bảy (tháng 7 1965); Dưới một vầng ánh sáng đục (tháng 11 1965);
Vào mùa nắng (tháng 12 – 1966); Những chuyện xung quanh một trận càn hình móng ngựa
(tháng 4 1967) ghi chép Chuyện của một nguời cùng quê…. Anh Đức đã tạo ra được
một cách viết kí rất riêng, đặc biệt là những bài bút kí viết dưới dạng những bức thư gửi cho
Nguyễn Tuân hay các đồng nghiệp miền Bắc. Bằng một giọng tâm tình thủ thỉ, Anh Đức
đã phản ánh một cách rõ nét cuộc chiến đấu và cảnh sinh hoạt của nhân dân miền Nam cũng
như những tội ác giặc đã gây nên cho con đây. Qua những lời tâm sự của ông
chúng ta cũng cảm nhận được sự gắn bó ruột thịt giữa hai miền Nam – Bắc. Dù rất nhiều sự
kiện được đề cập đến nhưng với dòng cảm xúc lắng sâu qua cách thể hiện rất riêng, đọc
những bài bút này người đọc không hề gặp cảm giác khô khan, trái lại tạo ra sức lôi
cuốn, và một phần thêm nữa cũng nhờ cái phong vị ngọt ngào của miền Nam trong đó.
Cũng thể hiện khí thế chiến đấu và chiến thắng giặc Mĩ của nhân dân Miền Nam, Trần
Hiếu Minh đã có những bài bút khá đặc sắc in thành hai tập Cửu Long cuộn sóng Sài
Gòn ta đó. Tập bút Cửu Long cuộn sóng viết về quê hương đồng khởi Bến Tre gồm mười
bài bút kí: Ngọn lửa Mỏ Cày; Mùa xuân trên nền cũ một khu trù mật; Thăm quê Đồ Chiểu;
Măng tầm vông; Khi giặc Mĩ đến nhà; Đơn vị Girông; Ấp Bắc thành đồng của thành đồng;
Chuyện Thạnh Phú; Chiến thắng; Sóng Cửu Long. Nội dung tiêu biểu của tập Cửu Long
cuộn sóng phản ánh những nét điển hình của phong trào đồng khởi Bến Tre qua đó vừa
biểu dương nhiều nhân vật anh hùng, từ cụ già cho đến trẻ em vừa tố cáo tội ác của kẻ thù.
Với những tên người, tên đất cụ thể, thật, và những con số chính xác Trần Hiếu Minh đã
tạo được niềm tin và khơi gợi được nhiều xúc động trong lòng bạn đọc. Dù đôi lúc cách ghi
này thể hiện rất rõ qua cách ông kể chuyện, ghi chép đặc biệt là những dòng cảm xúc đan xen với các sự kiện một cách hài hoà, nhuần nhuyễn. Đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của bút kí trong dòng chảy văn học cách mạng là những bút kí của Anh Đức. “Anh Đức thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành cùng thời đại cách mạng, sự nghiệp văn học nằm trọn giữa hai cuộc kháng chiến ba mươi năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.”[76/15]. Tuy đuợc bạn đọc biết đến nhiều qua tiểu thuyết Hòn đất và những truyện ngắn đặc sắc như Giấc mơ của ông lão vườn chim; Xôn xao đồng nước; Trọng; Mùa gió; Khói…, nhưng “có lẽ nên coi những thành công của Anh Đức về bút kí như những thành công đầu tiên.”[69] Những bài bút kí hầu hết được viết vào những năm sáu mươi, khi mà giặc Mĩ đang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ và điên cuồng mở những trận càn quét lớn như Bức thư Cà Mau (tháng 11 – 1963); Bức thư cuối năm (tháng 12 – 1964); Thư tháng bảy (tháng 7 – 1965); Dưới một vầng ánh sáng đục (tháng 11 – 1965); Vào mùa nắng (tháng 12 – 1966); Những chuyện xung quanh một trận càn hình móng ngựa (tháng 4 – 1967) và ghi chép Chuyện của một nguời cùng quê…. Anh Đức đã tạo ra được một cách viết kí rất riêng, đặc biệt là những bài bút kí viết dưới dạng những bức thư gửi cho Nguyễn Tuân hay các đồng nghiệp ở miền Bắc. Bằng một giọng tâm tình thủ thỉ, Anh Đức đã phản ánh một cách rõ nét cuộc chiến đấu và cảnh sinh hoạt của nhân dân miền Nam cũng như những tội ác mà giặc Mĩ đã gây nên cho bà con ở đây. Qua những lời tâm sự của ông chúng ta cũng cảm nhận được sự gắn bó ruột thịt giữa hai miền Nam – Bắc. Dù rất nhiều sự kiện được đề cập đến nhưng với dòng cảm xúc lắng sâu và qua cách thể hiện rất riêng, đọc những bài bút kí này người đọc không hề gặp cảm giác khô khan, trái lại nó tạo ra sức lôi cuốn, và một phần thêm nữa cũng nhờ cái phong vị ngọt ngào của miền Nam trong đó. Cũng thể hiện khí thế chiến đấu và chiến thắng giặc Mĩ của nhân dân Miền Nam, Trần Hiếu Minh đã có những bài bút kí khá đặc sắc in thành hai tập Cửu Long cuộn sóng và Sài Gòn ta đó. Tập bút kí Cửu Long cuộn sóng viết về quê hương đồng khởi Bến Tre gồm mười bài bút kí: Ngọn lửa Mỏ Cày; Mùa xuân trên nền cũ một khu trù mật; Thăm quê Đồ Chiểu; Măng tầm vông; Khi giặc Mĩ đến nhà; Đơn vị Girông; Ấp Bắc thành đồng của thành đồng; Chuyện Thạnh Phú; Chiến thắng; Sóng Cửu Long. Nội dung tiêu biểu của tập Cửu Long cuộn sóng là phản ánh những nét điển hình của phong trào đồng khởi Bến Tre qua đó vừa biểu dương nhiều nhân vật anh hùng, từ cụ già cho đến trẻ em vừa tố cáo tội ác của kẻ thù. Với những tên người, tên đất cụ thể, có thật, và những con số chính xác Trần Hiếu Minh đã tạo được niềm tin và khơi gợi được nhiều xúc động trong lòng bạn đọc. Dù đôi lúc cách ghi