Luận văn Thạc sĩ Triết học: Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay

3,714
165
88
một số cán bộ quản lý cấp cơ sở có lúc còn buông lỏng chưa phát huy hết vai trò và trách
nhiệm của mình
Công tác kiểm tra, đôn đốc của nhà trường đối với môn GDCD mới chỉ chú ý đến
thời gian, tiến độ. vậy giáo viên GDCD thường phải khẩn trương, vội trong việc
kiểm tra, chấm bài, vào điểm của mấy trăm học sinh mình dạy vào cuối kỳ, cuối năm.
Nhận thức chưa đúng của bản thân gia đình học sinh về môn GDCD trong nhà
trường. Tâm lý chung của mỗi bậc phụ huynh cũng như của nhiều học sinh THPT ở Nam
Định cho rằng đây môn học phụ, không liên quan tới thi tốt nghiệp và thi đại học nên
hạn chế đầu tư thời gian, công sức cho việc học tập môn này, không quan m tới chất
lượng việc học tập môn GDCD.
Có 52% học sinh không thích học môn này nên chủ yếu học theo hình thức đối phó
vì cho rằng để tập trung thời gian học các môn chính. 80% học sinh thừa nhận không sợ
làm bài kiểm tra môn này vì có thể quay cóp, xem bài bạn. Cho rằng môn khác học sinh có
thể bị thi lại nhưng môn GDCD học sinh phải thi lại là chuyện “ngạc nhiên”, nếu con em
mình bị điểm kém môn này do giáo viên bộ môn khắt khe, khó tính. Thậm chí nhiều
giáo viên chủ nhiệm cũng đồng tình với phụ huynh lớp mình về việc này.
Cách nhìn nhận của cha mẹ tưởng chừng rất nhỏ nhưng vô hình chung lại gây hậu
quả rất lớn đến thái độ học tập của chính các em đối với môn học.
Việc nhận thức sai lầm của gia đình và học sinh về môn GDCD đã gián tiếp đẩy con
em họ mắc vào sai lầm về hành vi và ứng xử, trực tiếp gây nên sự lệch lạc về phẩm chất và
lối sống. Giá trị lâu dài nhất của môn GDCD liên quan đến cả cuộc đời các em sau này
hình thành nhân cách, phẩm chất người công dân chân chính, tài đức vẹn toàn để trở thành
những người có ích cho gia đình và xã hội. Chỉ khi con em họ sa ngã vào con đường tội lỗi
họ mới nhận ra những quan niệm sai trong việc xem nhẹ tầm quan trọng của môn GDCD.
Thứ hai, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên môn Giáo dục công dân
Nam Định chưa hiệu quả
Về khách quan thì việc phân bổ thời lượng không hợp cũng một yếu tố ảnh
hưởng tới chất lượng dạy học của giáo viên môn GDCD. Do thời lượng cho môn này theo
quy định mới của Bộ 1 tiết/tuần rất ít ỏi, trong khi đó nội dung kiến thức nhiều i
quá dài và cần tích hợp nhiều nội dung về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản vị thành
một số cán bộ quản lý cấp cơ sở có lúc còn buông lỏng chưa phát huy hết vai trò và trách nhiệm của mình Công tác kiểm tra, đôn đốc của nhà trường đối với môn GDCD mới chỉ chú ý đến thời gian, tiến độ. Vì vậy giáo viên GDCD thường phải khẩn trương, vội vã trong việc kiểm tra, chấm bài, vào điểm của mấy trăm học sinh mình dạy vào cuối kỳ, cuối năm. Nhận thức chưa đúng của bản thân và gia đình học sinh về môn GDCD trong nhà trường. Tâm lý chung của mỗi bậc phụ huynh cũng như của nhiều học sinh THPT ở Nam Định cho rằng đây là môn học phụ, không liên quan tới thi tốt nghiệp và thi đại học nên hạn chế đầu tư thời gian, công sức cho việc học tập môn này, không quan tâm tới chất lượng việc học tập môn GDCD. Có 52% học sinh không thích học môn này nên chủ yếu học theo hình thức đối phó vì cho rằng để tập trung thời gian học các môn chính. 80% học sinh thừa nhận không sợ làm bài kiểm tra môn này vì có thể quay cóp, xem bài bạn. Cho rằng môn khác học sinh có thể bị thi lại nhưng môn GDCD học sinh phải thi lại là chuyện “ngạc nhiên”, nếu con em mình bị điểm kém môn này là do giáo viên bộ môn khắt khe, khó tính. Thậm chí nhiều giáo viên chủ nhiệm cũng đồng tình với phụ huynh lớp mình về việc này. Cách nhìn nhận của cha mẹ tưởng chừng rất nhỏ nhưng vô hình chung lại gây hậu quả rất lớn đến thái độ học tập của chính các em đối với môn học. Việc nhận thức sai lầm của gia đình và học sinh về môn GDCD đã gián tiếp đẩy con em họ mắc vào sai lầm về hành vi và ứng xử, trực tiếp gây nên sự lệch lạc về phẩm chất và lối sống. Giá trị lâu dài nhất của môn GDCD liên quan đến cả cuộc đời các em sau này là hình thành nhân cách, phẩm chất người công dân chân chính, tài đức vẹn toàn để trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội. Chỉ khi con em họ sa ngã vào con đường tội lỗi họ mới nhận ra những quan niệm sai trong việc xem nhẹ tầm quan trọng của môn GDCD. Thứ hai, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên môn Giáo dục công dân ở Nam Định chưa hiệu quả Về khách quan thì việc phân bổ thời lượng không hợp lý cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dạy học của giáo viên môn GDCD. Do thời lượng cho môn này theo quy định mới của Bộ là 1 tiết/tuần là rất ít ỏi, trong khi đó nội dung kiến thức nhiều bài quá dài và cần tích hợp nhiều nội dung về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản vị thành
niên, giáo dục phòng chống ma tuý học đường, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi
trường…Vì vậy giáo viên khó có thể sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại trong
giảng dạy để nâng cao chất lượng môn học này.
Về chủ quan thì năng lực phạm, năng lực chuyên môn, năng lực nắm bắt, xử
thông tin của giáo viên GDCD còn nhiều hạn chế. Nhất là các giáo viên trẻ tuổi, vốn sống
chưa nhiều, kinh nghiệm còn ít nên việc giảng dạy còn sơ sài, chưa có chiều sâu nhất là ở
khâu liên hệ thực tiễn. Rất ít giáo viên dạy môn GDCD giành thời gian, sự nhiệt tình
tâm huyết để quan tâm tìm hiểu những đặc điểm của cá nhân học sinh về quan điểm, tính
cách, sở thích, năng lực…
Còn một bộ phận giáo viên cho rằng không cần thiết phải đầu tư thời gian để nghiên
cứu, tham khảo tài liệu, cập nhật những tin tức mang tính thời sự để bổ trợ kiến thức cho
việc soạn, giảng bài. Bên cạnh đó, chưa thực hiện thường xuyên việc đổi mới phương pháp
trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Việc sử dụng các phương tiện trong dạy học GDCD cũng điểm yếu của nhiều
giáo viên hiện nay ở Nam Định. Một bộ phận giáo viên còn ít quan tâm và rất ngại sử dụng
đồ dùng để hỗ trợ quá trình giảng dạy của mình. Như vậy, chính giáo viên đã làm mất đi
tính hấp dẫn hiệu quả giáo dục của môn học. thế đã không kích thích niền say
tìm hiểu, cảm thụ và suy nghĩ về những kiến thức về đạo đức học, triết học, luật học, chính
trị học…của học sinh.
Trong đội ngũ giáo viên GDCD cấp THPT hiện nay ở Nam Định vẫn còn tình trạng
không ít giáo viên mặc được đào tạo đúng chuyên ngành nhưng không thực sự thích
dạy môn học này. Do đó không tâm huyết trong soạn giảng, coi giờ lên lớp chỉ là giờ thời
sự mang tính chất tuyên truyền, thuyết minh đường lối của Đảng và Nhà nước không
chú ý tới tri thức khoa học của bộ môn.
Trong khi giảng dạy, một số giáo viên không chú ý tới việc gắn luận với thực
tiễn, thực tiễn với lý luận; không chú ý đến hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thái độ,
niềm tin từ kiến thức bài học; xem nhẹ việc xây dựng tưởng, đạo đức, nhân cách cho
học sinh khi học môn GDCD.
Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên GDCD còn tâm thiếu tự tin, mặc cảm khi
dạy bộ môn này. Họ không cố gắng dùng chính chuyên môn và nghiệp vụ cao, không cố
niên, giáo dục phòng chống ma tuý học đường, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường…Vì vậy giáo viên khó có thể sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại trong giảng dạy để nâng cao chất lượng môn học này. Về chủ quan thì năng lực sư phạm, năng lực chuyên môn, năng lực nắm bắt, xử lý thông tin của giáo viên GDCD còn nhiều hạn chế. Nhất là các giáo viên trẻ tuổi, vốn sống chưa nhiều, kinh nghiệm còn ít nên việc giảng dạy còn sơ sài, chưa có chiều sâu nhất là ở khâu liên hệ thực tiễn. Rất ít giáo viên dạy môn GDCD giành thời gian, sự nhiệt tình và tâm huyết để quan tâm tìm hiểu những đặc điểm của cá nhân học sinh về quan điểm, tính cách, sở thích, năng lực… Còn một bộ phận giáo viên cho rằng không cần thiết phải đầu tư thời gian để nghiên cứu, tham khảo tài liệu, cập nhật những tin tức mang tính thời sự để bổ trợ kiến thức cho việc soạn, giảng bài. Bên cạnh đó, chưa thực hiện thường xuyên việc đổi mới phương pháp trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc sử dụng các phương tiện trong dạy học GDCD cũng là điểm yếu của nhiều giáo viên hiện nay ở Nam Định. Một bộ phận giáo viên còn ít quan tâm và rất ngại sử dụng đồ dùng để hỗ trợ quá trình giảng dạy của mình. Như vậy, chính giáo viên đã làm mất đi tính hấp dẫn và hiệu quả giáo dục của môn học. Vì thế đã không kích thích niền say mê tìm hiểu, cảm thụ và suy nghĩ về những kiến thức về đạo đức học, triết học, luật học, chính trị học…của học sinh. Trong đội ngũ giáo viên GDCD cấp THPT hiện nay ở Nam Định vẫn còn tình trạng không ít giáo viên mặc dù được đào tạo đúng chuyên ngành nhưng không thực sự thích dạy môn học này. Do đó không tâm huyết trong soạn giảng, coi giờ lên lớp chỉ là giờ thời sự mang tính chất tuyên truyền, thuyết minh đường lối của Đảng và Nhà nước mà không chú ý tới tri thức khoa học của bộ môn. Trong khi giảng dạy, một số giáo viên không chú ý tới việc gắn lý luận với thực tiễn, thực tiễn với lý luận; không chú ý đến hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thái độ, niềm tin từ kiến thức bài học; xem nhẹ việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, nhân cách cho học sinh khi học môn GDCD. Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên GDCD còn tâm lý thiếu tự tin, mặc cảm khi dạy bộ môn này. Họ không cố gắng dùng chính chuyên môn và nghiệp vụ cao, không cố
gắng bằng niềm tin, lương m trách nhiệm nghề nghiệp của bản thân để cảm hoá
thuyết phục, để đấu tranh với những quan niệm sai trong đánh giá vị trí môn học.
Khi chấm bài cho điểm một cách đại khái, nâng điểm một cách tuỳ tiện. Đôi khi
miễn cưỡng vào chỉ tiêu thi đua cho điểm cao môn này để gỡ điểm cho các môn khác.
Nhiều giáo viên tự nhận xét kết quả đánh giá chỉ “mang ý nghĩa tương đối”, điều đó
nghĩa là tính khách quan, chính xác chưa cao.
Như vậy, khi mà tự họ hạ thấp vai trò, địa vị xã hội và giá trị nghề nghiệp của mình
thì nhiệm vụ xây dựng phát triển nhân cách cho học sinh không thể hoàn thành một
cách trọn vẹn được
Thứ ba, chất lượng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh qua môn
GDCD còn thấp
Qua khảo sát một số trường như: THPT Mỹ Tho, Đại An, Nghĩa Hưng C,
Nguyễn Bính, Tống Văn Trân, Nguyễn Du…cho thấy kết quả đánh giá của giáo viên về
học lực của học sinh thông qua điểm số không phản ánh đúng thực chất kết quả học tập .
Hình thức, phương thức kiểm tra, đánh giá tuy giáo viên đã sử dụng nhiều loại nhưng
sự phối hợp giữa các hình thức, phương pháp trong một đề kiểm tra nhằm bộc lộ những
năng lực của học sinh còn hạn chế.
Phương thức kiểm tra, đánh giá còn đơn điệu, chủ yếu kiểm tra, đánh giá trong
giờ học trên lớp chưa kiểm tra, đánh giá ngoài giờ. Mặc dù nội dung môn GDCD gắn
bó chặt chẽ với thực tiễn cuốc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với sự kiện trong đời
sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị xã hội của địa phương, đất nước. Do đó hầu như
kết quả kiểm tra, đánh giá chưa phản ánh được đầy đủ các mặt của học sinh về kiến thức,
kỹ năng, thái độ... Đặc biệt là chưa nâng cao ý thức công dân của học sinh bằng thực hành
trong thực tiễn.
Thứ tư, tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy môn
GDCD còn nhiều thiếu thốn
Muốn phát huy hiệu quả vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh
THPT qua môn GDCD thì giáo viên học sinh cần phải được đáp ứng những phương
tiện và thiết bị dạy học. Tuy nhiên, trong khi các bộ môn khác được chú trọng đầu tư mua
sắm, liệu tham khảo kphong phú thì hầu hết các trường THPT Nam Định môn
gắng bằng niềm tin, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của bản thân để cảm hoá và thuyết phục, để đấu tranh với những quan niệm sai trong đánh giá vị trí môn học. Khi chấm bài cho điểm một cách đại khái, nâng điểm một cách tuỳ tiện. Đôi khi miễn cưỡng vào chỉ tiêu thi đua cho điểm cao môn này để gỡ điểm cho các môn khác. Nhiều giáo viên tự nhận xét kết quả đánh giá chỉ “mang ý nghĩa tương đối”, điều đó có nghĩa là tính khách quan, chính xác chưa cao. Như vậy, khi mà tự họ hạ thấp vai trò, địa vị xã hội và giá trị nghề nghiệp của mình thì nhiệm vụ xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh không thể hoàn thành một cách trọn vẹn được Thứ ba, chất lượng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh qua môn GDCD còn thấp Qua khảo sát ở một số trường như: THPT Mỹ Tho, Đại An, Nghĩa Hưng C, Nguyễn Bính, Tống Văn Trân, Nguyễn Du…cho thấy kết quả đánh giá của giáo viên về học lực của học sinh thông qua điểm số không phản ánh đúng thực chất kết quả học tập . Hình thức, phương thức kiểm tra, đánh giá tuy giáo viên đã có sử dụng nhiều loại nhưng sự phối hợp giữa các hình thức, phương pháp trong một đề kiểm tra nhằm bộc lộ những năng lực của học sinh còn hạn chế. Phương thức kiểm tra, đánh giá còn đơn điệu, chủ yếu là kiểm tra, đánh giá trong giờ học trên lớp chưa có kiểm tra, đánh giá ngoài giờ. Mặc dù nội dung môn GDCD gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuốc sống thực tiễn của học sinh, gắn liền với sự kiện trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị xã hội của địa phương, đất nước. Do đó hầu như kết quả kiểm tra, đánh giá chưa phản ánh được đầy đủ các mặt của học sinh về kiến thức, kỹ năng, thái độ... Đặc biệt là chưa nâng cao ý thức công dân của học sinh bằng thực hành trong thực tiễn. Thứ tư, tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy môn GDCD còn nhiều thiếu thốn Muốn phát huy hiệu quả vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT qua môn GDCD thì giáo viên và học sinh cần phải được đáp ứng những phương tiện và thiết bị dạy học. Tuy nhiên, trong khi các bộ môn khác được chú trọng đầu tư mua sắm, tư liệu tham khảo khá phong phú thì hầu hết các trường THPT ở Nam Định môn
GDCD chỉ có sách giáo khoa và sách giáo viên. Có thể thấy trong thư viện của các trường,
kể cả những trường đạt chuẩn quốc gia cũng chưa có trường nào đầu tư kinh phí mua sắm
tư liệu tham khảo và trang thiết bị cho môn GDCD. Nhìn chung, thư viện và trang thiết bị
phục vụ cho việc giảng dạy học tập bộ môn còn nghèo nàn, lạc hậu, mới chỉ đáp ứng
được khoảng 30% nhu cầu.
GDCD chỉ có sách giáo khoa và sách giáo viên. Có thể thấy trong thư viện của các trường, kể cả những trường đạt chuẩn quốc gia cũng chưa có trường nào đầu tư kinh phí mua sắm tư liệu tham khảo và trang thiết bị cho môn GDCD. Nhìn chung, thư viện và trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập bộ môn còn nghèo nàn, lạc hậu, mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu.
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNHNAM ĐỊNH QUA GIẢNG
DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
3.1. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH
3.2.1. Phải nâng cao nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò môn giáo dục công dân
trong xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam
Định
Trong nhà trường THPT tất cả các môn học nói chung là cung cấp kiến thức chuyên
ngành, cơ bản, hệ thống và phù hợp với khả năng hoạt động học tập để học sinh tự chiếm
lĩnh một khối lượng tri thức kỹ năng nhất định. Môn GDCD nói riêng với nội dung tri
thức đặc thù có tác dụng tích cực và trực tiếp nhất trong đào tạo con người, góp phần xây
dựng và phát triển nhân cách toàn diện, đảm bảo sự cân bằng giữa trí tuệ và trái tim, giữa
vốn hiểu biết và tâm hồn cao đẹp cho học sinh.
Hệ thống tri thức GDCD hệ thống tri thức luận được phổ thông hoá, được đời
sống – kinh nghiệm hoá, những khái niệm, phạm trù luận chính trị tuy trừu tượng hoá
nhưng lại gắn bó mật thiết với những ví dụ cụ thể, gắn chặt với thực tiễn đời sống mà học
sinh quan tâm tìm lời giải đáp.
Các cấp lãnh đạo và quản lý Sở GD&ĐT nói chung, Ban giám hiệu các trường THPT
trong tỉnh nói riêng cần có sự chỉ đạo kịp thời, quản lý chặt chẽ công tác dạy và học môn
GDCD.
Cần có biện pháp tuyên truyền sao cho tất cả mọi người từ giáo viên, phụ huynh đến
học sinh… nhận thức hơn, đầy đủ hơn vị trí, yêu cầu của các môn học, đặc biệt
môn GDCD trong mục tiêu đào tạo toàn diện học sinh THPT. Bản thân học sinh phải xác
định được vị trí, tầm quan trọng, mục đích và động cơ học tập môn GDCD một cách đúng
đắn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: không có thầy tốt thì không có trò tốt. Do đó các
cấp lãnh đạo quản lý cần những biện pháp đãi ngộ, động viên, khích lệ giáo viên môn
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNHNAM ĐỊNH QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 3.1. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH 3.2.1. Phải nâng cao nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò môn giáo dục công dân trong xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định Trong nhà trường THPT tất cả các môn học nói chung là cung cấp kiến thức chuyên ngành, cơ bản, hệ thống và phù hợp với khả năng hoạt động học tập để học sinh tự chiếm lĩnh một khối lượng tri thức và kỹ năng nhất định. Môn GDCD nói riêng với nội dung tri thức đặc thù có tác dụng tích cực và trực tiếp nhất trong đào tạo con người, góp phần xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện, đảm bảo sự cân bằng giữa trí tuệ và trái tim, giữa vốn hiểu biết và tâm hồn cao đẹp cho học sinh. Hệ thống tri thức GDCD là hệ thống tri thức lý luận được phổ thông hoá, được đời sống – kinh nghiệm hoá, những khái niệm, phạm trù lý luận chính trị tuy trừu tượng hoá nhưng lại gắn bó mật thiết với những ví dụ cụ thể, gắn chặt với thực tiễn đời sống mà học sinh quan tâm tìm lời giải đáp. Các cấp lãnh đạo và quản lý Sở GD&ĐT nói chung, Ban giám hiệu các trường THPT trong tỉnh nói riêng cần có sự chỉ đạo kịp thời, quản lý chặt chẽ công tác dạy và học môn GDCD. Cần có biện pháp tuyên truyền sao cho tất cả mọi người từ giáo viên, phụ huynh đến học sinh… có nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, yêu cầu của các môn học, đặc biệt là môn GDCD trong mục tiêu đào tạo toàn diện học sinh THPT. Bản thân học sinh phải xác định được vị trí, tầm quan trọng, mục đích và động cơ học tập môn GDCD một cách đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: không có thầy tốt thì không có trò tốt. Do đó các cấp lãnh đạo quản lý cần có những biện pháp đãi ngộ, động viên, khích lệ giáo viên môn
GDCD trong việc tiếp tục học sau đại học. Mặc dù môn này luôn được nhìn nhận từ mọi
phía là môn “phụ”, quan niệm “học cao học làm gì cho khổ”. Hiện nay toàn tỉnh mới có 2
giáo viên GDCD khắc phục khó khăn đi học cao học. Đây là con số quá ít ỏi và đáng buồn
so với các bộ môn khác trong nhà trường phổ thông hiện nay ở Nam Định.
Để phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong công tác giáo dục, trong xây dựng và
phát triển nhân cách cho các em giáo viên bộ môn phải luôn có ý thức tự học, tự rèn luyện
bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm …
3.1.2. Xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông theo
tư tưởng Hồ Chí Minh và theo quan điểm của ĐCSVN
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin nhân cách là sự phát triển về mặt xã hội
của con người, nhân cách được hình thành qua quá trình hoạt động, giao tiếp, đặc biệt
qua giáo dục và tự giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại, một nhân cách lớn lao
mà còn là một nhà giáo dục lỗi lạc của dân tộc Việt Nam s[1,5 ]. Trong cuộc đời hoạt động
của mình.Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì
lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người nhắc nhở: “đoàn viên và thanh niên ta nói
chung tốt…Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ
thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên””[t12,tr498].
Theo tư tưởng của Người công việc quyết định nhất của xã hội suy cho cùng chính là
giáo dục cho học sinh thành người, làm người đời, làm cho mọi học sinh trở thành
nhân cách có văn hoá.
Giáo dục tự giáo dục thành người, làm người trước hết hình thành được mỗi
em tư cách, đạo đức, tính cách cùng năng lực và tài năng. Đó chính là nhân cách xuất phát,
đã được phản ánh, đúc kết trong các trước tác lẫn bản thân nhân cách Hồ Chí Minh. Người
luôn nhắc nhở: giáo dục nhân cách cốt lõi của công việc giáo dục thế hệ trẻ cũng như
của toàn xã hội. Đó là cốt lõi của sự hình thành và phát triển con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng con người cấu trúc nhân cách gồm hai thành tố
chủ yếu “đức” “tài’, trong đó “đức’’ được coi nền tảng. Bao gồm: phẩm chất xã
hội (thế giới quan, niềm tin, thái độ chính trị hội), phẩm chất nhân (đạo đức, tư
GDCD trong việc tiếp tục học sau đại học. Mặc dù môn này luôn được nhìn nhận từ mọi phía là môn “phụ”, quan niệm “học cao học làm gì cho khổ”. Hiện nay toàn tỉnh mới có 2 giáo viên GDCD khắc phục khó khăn đi học cao học. Đây là con số quá ít ỏi và đáng buồn so với các bộ môn khác trong nhà trường phổ thông hiện nay ở Nam Định. Để phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong công tác giáo dục, trong xây dựng và phát triển nhân cách cho các em giáo viên bộ môn phải luôn có ý thức tự học, tự rèn luyện bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm … 3.1.2. Xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông theo tư tưởng Hồ Chí Minh và theo quan điểm của ĐCSVN Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin nhân cách là sự phát triển về mặt xã hội của con người, nhân cách được hình thành qua quá trình hoạt động, giao tiếp, đặc biệt là qua giáo dục và tự giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại, một nhân cách lớn lao mà còn là một nhà giáo dục lỗi lạc của dân tộc Việt Nam s[1,5 ]. Trong cuộc đời hoạt động của mình.Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã từng nói: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người nhắc nhở: “đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt…Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên””[t12,tr498]. Theo tư tưởng của Người công việc quyết định nhất của xã hội suy cho cùng chính là giáo dục cho học sinh thành người, làm người và ở đời, làm cho mọi học sinh trở thành nhân cách có văn hoá. Giáo dục và tự giáo dục thành người, làm người trước hết là hình thành được ở mỗi em tư cách, đạo đức, tính cách cùng năng lực và tài năng. Đó chính là nhân cách xuất phát, đã được phản ánh, đúc kết trong các trước tác lẫn bản thân nhân cách Hồ Chí Minh. Người luôn nhắc nhở: giáo dục nhân cách là cốt lõi của công việc giáo dục thế hệ trẻ cũng như của toàn xã hội. Đó là cốt lõi của sự hình thành và phát triển con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng con người có cấu trúc nhân cách gồm hai thành tố chủ yếu là “đức” và “tài’, trong đó “đức’’ được coi là nền tảng. Bao gồm: phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, thái độ chính trị – xã hội), phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư
cách nhân), phẩm chất ý chí (tính kỷ luật, tính mục đích, tính quả quyết, tính kiên trì,
tính dũng cảm), cung cách ứng xử (tác phong, tính khí).
Bác nhấn mạnh: mục tiêu của nền giáo dục là phải tạo điều kiện cho mỗi em học
sinh được phát triển tối ưu nhân cách của mình.
Kế thừa tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới để xây dựng phát triển
đất nước giai đoạn hiện nay Đảng ta rất coi trọng giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách thế
hệ trẻ. Đảng ta coi đây vấn đề quan trong hàng đầu để xây dựng con người mới, xã hội
mới. Đó là nhiệm vụ phải làm ngay, thường xuyên và lâu dài.
Trong quá trình đổi mới, đất nước ta đang hình thành hệ giá trị hội chuẩn mực
phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại”. Những nét bản về
phương hướng giáo dục đạo đức nhân cách được Đại hội VIII của Đảng xác định :
“Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu ớc, chủ nghĩa Mác Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hoá dân
tộc, ý chí muốn vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của dân tộc”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: Coi trọng bồi dưỡng cho
học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp
bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản
lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại”[tr206,207].
Một trong những nhiệm vụ văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung
ương khóa X đã nêu là: “ Tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn
hóa, ý thức công dân để hình thành thế hệ thanh niên phẩm chất tốt đẹp, khí phách
và quyết tâm hành động thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Với định hướng của Đảng ta về giáo dục, đào tạo toàn diện cho thanh niên học sinh
trong tình hình mới, coi đó là: “chìa khóa để mở cửa vào tương lai” như Văn kiện hội nghị
lần thứ IV Ban chấp hành trung ương khóa VII của Đảng chỉ ra. Quan điểm này đã cho
chúng ta nhận thấy việc giáo dục lẽ sống, lý tưởng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học
sinh THPT nói riêng một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược giáo dục. Môn GDCD
cần thiết phải góp phần nhất định vào việc xây dựng và phát triển nhân cách cho các em.
3.1.3. Xây dựng phát triển nhân cách cho học sinh qua môn giáo dục công
dân phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống
cách cá nhân), phẩm chất ý chí (tính kỷ luật, tính mục đích, tính quả quyết, tính kiên trì, tính dũng cảm), cung cách ứng xử (tác phong, tính khí). Bác nhấn mạnh: mục tiêu của nền giáo dục là phải tạo điều kiện cho mỗi em học sinh được phát triển tối ưu nhân cách của mình. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới để xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay Đảng ta rất coi trọng giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách thế hệ trẻ. Đảng ta coi đây là vấn đề quan trong hàng đầu để xây dựng con người mới, xã hội mới. Đó là nhiệm vụ phải làm ngay, thường xuyên và lâu dài. Trong quá trình đổi mới, đất nước ta đang hình thành “hệ giá trị xã hội chuẩn mực phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại”. Những nét cơ bản về phương hướng giáo dục đạo đức và nhân cách được Đại hội VIII của Đảng xác định là: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc, ý chí muốn vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của dân tộc”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: “ Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại”[tr206,207]. Một trong những nhiệm vụ mà văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương khóa X đã nêu là: “ Tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa, ý thức công dân để hình thành thế hệ thanh niên có phẩm chất tốt đẹp, có khí phách và quyết tâm hành động thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Với định hướng của Đảng ta về giáo dục, đào tạo toàn diện cho thanh niên học sinh trong tình hình mới, coi đó là: “chìa khóa để mở cửa vào tương lai” như Văn kiện hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương khóa VII của Đảng chỉ ra. Quan điểm này đã cho chúng ta nhận thấy việc giáo dục lẽ sống, lý tưởng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh THPT nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược giáo dục. Môn GDCD cần thiết phải góp phần nhất định vào việc xây dựng và phát triển nhân cách cho các em. 3.1.3. Xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh qua môn giáo dục công dân phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống
Đây sự tuân thủ nguyên tắc thực tiễn trong giáo dục, sự vận dụng quan điểm
thực tiễn của Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triển
nhân cách cho học sinh THPT. Nguyên tắc này một quan điểm lớn, một nguyên lý
bản của nền giáo dục XHCN. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Giáo dục thanh niên không thể tách
rời mà phải liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh xã hội”[152 - 153]. Bởi vậy, quá trình xây
dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT trong nhà trường phải gắn liền với cuộc
sống luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.
Hiệu quả giáo dục không thể cao nếu như trong giảng dạy GDCD giáo viên quá phụ
thuộc vào sách giáo khoa, khiến cho các giờ học nội dung giáo dục quá hàn lâm, nặng về
học thuật, luận, thuyết giảng giáo điều, hình thức giáo dục cứng, đơn điệu với lứa
tuổi thanh niên học sinh.
Việc dạy học môn GDCD cần gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống của học sinh,
của lớp học, nhà trường, địa phương. Giáo viên cần hết sức linh hoạt, sáng tạo trong việc
lựa chọn, sử dụng các tình huống, các câu chuyện, thông tin, sự kiện, hiện tượng thực tế
địa phương và các vấn đề bức xúc của xã hội để đối chiếu, so sánh, phân tích, lý giải, minh
họa cho nội dung bài giảng.
Đồng thời cũng cần hướng dẫn, khuyến khích cho học sinh liên hệ, tự liên hệ, so
sánh, đối chiếu các hành vi, việc làm của bản thân và những người xung quanh với các giá
trị đã học; tổ chức cho học sinh điều tra tìm hiểu các vấn đề thực tiễn có liên quan đến nội
dung bài học; thực hiện các dự án nhằm xây dựng môi trường lớp học, nhà trường, cộng
đồng ngày một tốt đẹp hơn. Có như vậy bài học GDCD mới trở nên gần gũi, sống động,
thiết thực đối với học sinh và có sức lôi cuốn đối với các em.
Muốn vậy, cần tránh khuynh hướng tách rời giữa luận với thực tiễn và thực tiễn
với lý luận, những biểu hiện không đúng trong việc vận dụng những tri thức luận của
môn học vào cuộc sống. Không có tri thức của bộ môn nào lại gắn chặt với cuộc sống như
tri thức của môn GDCD. Dường như bất kỳ tri thức nào của nó cũng liên hệ với các hiện
tượng của cuộc sống thường ngày của con người.
Cần hết sức tránh việc chỉ truyền thụ tri thức luận m cho học sinh không tiếp
thu nổi bài học do mức độ trừu tượng và khái quát cao của nó. Đồng thời tuyết đối không
được vận dụng một cách vụng về, hạ thấp giá trị của lý luận.
Đây là sự tuân thủ nguyên tắc thực tiễn trong giáo dục, là sự vận dụng quan điểm thực tiễn của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT. Nguyên tắc này là một quan điểm lớn, một nguyên lý cơ bản của nền giáo dục XHCN. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với cuộc đấu tranh xã hội”[152 - 153]. Bởi vậy, quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT trong nhà trường phải gắn liền với cuộc sống luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Hiệu quả giáo dục không thể cao nếu như trong giảng dạy GDCD giáo viên quá phụ thuộc vào sách giáo khoa, khiến cho các giờ học nội dung giáo dục quá hàn lâm, nặng về học thuật, lý luận, thuyết giảng giáo điều, hình thức giáo dục xơ cứng, đơn điệu với lứa tuổi thanh niên học sinh. Việc dạy học môn GDCD cần gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống của học sinh, của lớp học, nhà trường, địa phương. Giáo viên cần hết sức linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn, sử dụng các tình huống, các câu chuyện, thông tin, sự kiện, hiện tượng thực tế ở địa phương và các vấn đề bức xúc của xã hội để đối chiếu, so sánh, phân tích, lý giải, minh họa cho nội dung bài giảng. Đồng thời cũng cần hướng dẫn, khuyến khích cho học sinh liên hệ, tự liên hệ, so sánh, đối chiếu các hành vi, việc làm của bản thân và những người xung quanh với các giá trị đã học; tổ chức cho học sinh điều tra tìm hiểu các vấn đề thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học; thực hiện các dự án nhằm xây dựng môi trường lớp học, nhà trường, cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn. Có như vậy bài học GDCD mới trở nên gần gũi, sống động, thiết thực đối với học sinh và có sức lôi cuốn đối với các em. Muốn vậy, cần tránh khuynh hướng tách rời giữa lý luận với thực tiễn và thực tiễn với lý luận, những biểu hiện không đúng trong việc vận dụng những tri thức lý luận của môn học vào cuộc sống. Không có tri thức của bộ môn nào lại gắn chặt với cuộc sống như tri thức của môn GDCD. Dường như bất kỳ tri thức nào của nó cũng liên hệ với các hiện tượng của cuộc sống thường ngày của con người. Cần hết sức tránh việc chỉ truyền thụ tri thức lý luận làm cho học sinh không tiếp thu nổi bài học do mức độ trừu tượng và khái quát cao của nó. Đồng thời tuyết đối không được vận dụng một cách vụng về, hạ thấp giá trị của lý luận.
Tóm lại, trong dạy học môn GDCD giáo viên luôn luôn phải quán triệt sâu sắc
nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lí luận gắn liền với thực tiễn” và phải thấm nhuần quan
điểm mới, quan điểm phát triển. Thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động dạy học, gắn
hoạt động dạy học với hoạt động hội, hoạt động lao động và hoạt động thực tiễn ở các
địa phương giúp các em xây dựng nhận thức đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan và
củng cố niềm tin, kĩ năng, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của học sinh.
3.1.4. Xây dựng phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông qua
môn giáo dục công dân phải chuyển thành quá trình tự giáo dục
GDCD trong bản chất và trong mục đích của một khoa học thực hành. Thông
qua môn GDCD giáo viên phải tác động một cách sáng tạo, thành thục để khơi dậy học
sinh nhu cầu ham hiểu biết(hiểu biết về xã hội và nhà nước, về luật pháp và chính sách, về
quyền và nghĩa vụ công dân, về đạo đức và trách nhiệm cuộc sống…), ý thức tự giáo dục,
tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân theo chuẩn mực, theo các giá trị được lựa chọn.
Một trong những định hướng cơ bản để có thể phát huy hiệu quả vấn đề xây dựng
phát triển nhân cách cho học sinh THPT đó phải nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng
dạy cũng như học tập môn GDCD theo phương châm: biến quá trình giáo dục thành quá
trình tự giáo dục, tích cực hoá việc học tập của học sinh, tăng cường tính chủ động sáng
tạo của người học, đồng thời tăng cường vai trò định hướng, chủ đạo, vai trò dẫn dắt, điều
chỉnh của giáo viên.
Quá trình giáo dục khi chuyển thành quá trình tự giáo dục, tự tu dưỡng sẽ tạo ra xúc
cảm tự nhiên giúp cho học sinh hình thành niềm tin, khát vọng sống tốt đẹp, tạo động
lực thúc đẩy các em không chỉ trong nhận thức khoa học mà còn đạo đức thẩm mỹ.
Từ đó các em có nghị lực, say mê học tập, chủ động, tích cực đọc sách giáo khoa, tìm hiểu
kiến thức cơ bản; có kỹ năng ứng dụng vào trong tình huống cụ thể, biết lập kế hoạch, lựa
chọn các phương pháp, phương tiện để thực hiện kế hoạch do mình đề ra; có hiểu biết, liên
tưởng, tự liên hệ, tự đánh giá, tự điều chỉnh mình trong quá trình tu dưỡng theo chuẩn mực
và giá trị xã hội.
Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Bình đã từng viết: “ Năng lực tự học, tự
đào tạo tiềm ẩn trong mỗi con người. Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, lớp với
Tóm lại, trong dạy học môn GDCD giáo viên luôn luôn phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lí luận gắn liền với thực tiễn” và phải thấm nhuần quan điểm mới, quan điểm phát triển. Thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động dạy học, gắn hoạt động dạy học với hoạt động xã hội, hoạt động lao động và hoạt động thực tiễn ở các địa phương giúp các em xây dựng nhận thức đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan và củng cố niềm tin, kĩ năng, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của học sinh. 3.1.4. Xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh trung học phổ thông qua môn giáo dục công dân phải chuyển thành quá trình tự giáo dục GDCD trong bản chất và trong mục đích của nó là một khoa học thực hành. Thông qua môn GDCD giáo viên phải tác động một cách sáng tạo, thành thục để khơi dậy ở học sinh nhu cầu ham hiểu biết(hiểu biết về xã hội và nhà nước, về luật pháp và chính sách, về quyền và nghĩa vụ công dân, về đạo đức và trách nhiệm cuộc sống…), ý thức tự giáo dục, tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân theo chuẩn mực, theo các giá trị được lựa chọn. Một trong những định hướng cơ bản để có thể phát huy hiệu quả vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT đó là phải nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy cũng như học tập môn GDCD theo phương châm: biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tích cực hoá việc học tập của học sinh, tăng cường tính chủ động sáng tạo của người học, đồng thời tăng cường vai trò định hướng, chủ đạo, vai trò dẫn dắt, điều chỉnh của giáo viên. Quá trình giáo dục khi chuyển thành quá trình tự giáo dục, tự tu dưỡng sẽ tạo ra xúc cảm tự nhiên giúp cho học sinh hình thành niềm tin, khát vọng sống tốt và đẹp, tạo động lực thúc đẩy các em không chỉ trong nhận thức khoa học mà còn là đạo đức và thẩm mỹ. Từ đó các em có nghị lực, say mê học tập, chủ động, tích cực đọc sách giáo khoa, tìm hiểu kiến thức cơ bản; có kỹ năng ứng dụng vào trong tình huống cụ thể, biết lập kế hoạch, lựa chọn các phương pháp, phương tiện để thực hiện kế hoạch do mình đề ra; có hiểu biết, liên tưởng, tự liên hệ, tự đánh giá, tự điều chỉnh mình trong quá trình tu dưỡng theo chuẩn mực và giá trị xã hội. Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Bình đã từng viết: “ Năng lực tự học, tự đào tạo tiềm ẩn trong mỗi con người. Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, lớp với
quyết tâm tự học, tự đào tạo thì đó con đường ngắn nhất để tạo ra nội lực cần thiết cho
sự cần thiết của một con người và cho đất nước”[1]
3.1.4. Đưa môn Giáo dục công dân vào môn thi tốt nghiệp
Giáo viên GDCD cả nước nói chung, ở Nam Định nói riêng có lẽ là người nhận thấy
nhất tri thức khoa học của môn GDCD bao giờ cũng cơ sở cho việc rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo; tiền đề xây dựng phương pháp duy khoa học, phát triển trí tuệ, phẩm
chất đạo đức, nhân cách, biết hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.
Với cách nhìn lệch lạc, sự quan tâm chưa đúng mức hiện nay tới môn GDCD từ mọi
phía: từ cấp lãnh đạo quản lý, đến nhà trường, gia đình, hội khiến cho giáo viên môn
học này cảm thấy“ức chế”. Nhiều giáo viên đã chuyển từ sự nhiệt tình trăn trở sang dạy
cho xong, hết chương trình, nội dung giáo dục của bộ môn không thật sự phát huy hiệu
quả trong mục tiêu giáo dục toàn diện thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Bên cạnh đó nhiều học sinh tỉnh Nam Định không chú trọng học môn GDCD vì đây
không phải môn thi tốt nghiệp và thi đại học. Luật giáo dục 2005 luôn nhấn mạnh đến
mục tiêu giáo dục toàn diện, chú trọng vấn đề giáo dục nhân cách, phẩm chất và năng lực.
Nên chăng Bộ GD & ĐT nên đưa môn GDCD vào thành môn thi tốt nghiệp và môn thi đại
học khối chuyên ngành hành chính nhà nước. Bởi vì, việc quá tải đối với việc học tập của
học sinh là ở nội dung các môn học chứ không phải ở số lượng môn thi tốt nghiệp.
Môn GDCD nếu được “đối xử” bình đẳng, được đưa vào thi tốt nghiệp THPT như
các bộ môn khác chắc chắn sẽ tác dụng tích cực thúc đẩy chất lượng dạy và học môn
này, qua đó sẽ nâng cao hiệu quả của môn học đối với việc xây dựng và phát triển nhân
cách học sinh THPT hiện nay.
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP BẢN NHẰM XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH
3.1.1. Xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh
Cuộc sống đang vỗ nhịp không ngớt vào từng cuộc đời, có lúc nó lăn tăn âu yếm, có
lúc nó cuộn nguồn thác bể. Cuộc đời mà chúng ta đang tô lên nó màu xanh ước mơ và màu
đỏ khát vọng chính là lứa tuổi học sinh THPT. Nội dung môn GDCD trong nhà trường
THPT hướng học sinh vươn tới những giá trị bản của người công dân Việt Nam trong
thời kỳ CNH, HĐH. đó là những giá trị tốt đẹp để xây dựng nhân cách con người toàn diện
quyết tâm tự học, tự đào tạo thì đó là con đường ngắn nhất để tạo ra nội lực cần thiết cho sự cần thiết của một con người và cho đất nước”[1] 3.1.4. Đưa môn Giáo dục công dân vào môn thi tốt nghiệp Giáo viên GDCD cả nước nói chung, ở Nam Định nói riêng có lẽ là người nhận thấy rõ nhất tri thức khoa học của môn GDCD bao giờ cũng là cơ sở cho việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo; là tiền đề xây dựng phương pháp tư duy khoa học, phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức, nhân cách, biết hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ. Với cách nhìn lệch lạc, sự quan tâm chưa đúng mức hiện nay tới môn GDCD từ mọi phía: từ cấp lãnh đạo quản lý, đến nhà trường, gia đình, xã hội khiến cho giáo viên môn học này cảm thấy“ức chế”. Nhiều giáo viên đã chuyển từ sự nhiệt tình trăn trở sang dạy cho xong, hết chương trình, nội dung giáo dục của bộ môn không thật sự phát huy hiệu quả trong mục tiêu giáo dục toàn diện thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bên cạnh đó nhiều học sinh tỉnh Nam Định không chú trọng học môn GDCD vì đây không phải là môn thi tốt nghiệp và thi đại học. Luật giáo dục 2005 luôn nhấn mạnh đến mục tiêu giáo dục toàn diện, chú trọng vấn đề giáo dục nhân cách, phẩm chất và năng lực. Nên chăng Bộ GD & ĐT nên đưa môn GDCD vào thành môn thi tốt nghiệp và môn thi đại học khối chuyên ngành hành chính nhà nước. Bởi vì, việc quá tải đối với việc học tập của học sinh là ở nội dung các môn học chứ không phải ở số lượng môn thi tốt nghiệp. Môn GDCD nếu được “đối xử” bình đẳng, được đưa vào thi tốt nghiệp THPT như các bộ môn khác chắc chắn sẽ có tác dụng tích cực thúc đẩy chất lượng dạy và học môn này, qua đó sẽ nâng cao hiệu quả của môn học đối với việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT hiện nay. 3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH 3.1.1. Xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh Cuộc sống đang vỗ nhịp không ngớt vào từng cuộc đời, có lúc nó lăn tăn âu yếm, có lúc nó cuộn nguồn thác bể. Cuộc đời mà chúng ta đang tô lên nó màu xanh ước mơ và màu đỏ khát vọng chính là lứa tuổi học sinh THPT. Nội dung môn GDCD trong nhà trường THPT hướng học sinh vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH. đó là những giá trị tốt đẹp để xây dựng nhân cách con người toàn diện