Luận văn Thạc sĩ Triết học: Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay

3,722
165
88
Lứa tuổi học sinh THPT lứa tuổi đang dần dần hoàn chỉnh về mặt thể chất. Nhờ
điều kiện kinh tế xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng được nâng cao hơn trước nên học
sinh THPT có sự phát triển tốt hơn về chiều cao, trọng lượng, thể trạng. Thế nhưng sự phát
triển về cơ thể các em vẫn kém hơn so với sự phát triển cơ thể của người lớn.
Bước vào giai đoạn này nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng của các em đã
chậm lại. Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16,17 tuổi;
các em trai khoảng 17, 18 tuổi.thể nói đây lứa tuổi các em có thể phát triển cân
đối, đẹp và khỏe mạnh.
Trọng lượng thể nói chung phát triển nhanh, trọng lượng của các em trai đã đuổi
kịp các em gái và tiếp tục vươn lên. Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai
được tăng cường.
Cơ bắp, sức lực các em trong giai đoạn này phát triển mạnh, dễ đạt được những thành
tích trong thể thao.
Đây là lứa tuổi bắt đầu có sự trưởng thành về giới tính, là giai đoạn của những nam
thanh, nữ tú.
Sự phát triển của hệ thần kinh những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong
của não phức tạp các chức năng của não phát triển. Bộ não, hệ thần kinh các em phát
triển và khỏe mạnh, tạo cơ sở cho các em tiếp thu, xử lý một khối lượng lớn tri thức trong
quá trình học tập.
Hai là, đặc điểm về hoạt động học tập
Nội dung và tính chất của hoạt động học tập học sinh THPT khác rất nhiều so với
học sinh THCS. Sự khác nhau cơ bản đó là nội dung học tập của các em ngày một sâu hơn,
tính năng động và tính độc lập ở mức cao hơn, sự phát triển về tư duy lý luận cũng sâu sắc
hơn, thái độ học tập có ý thức của các em ngày càng phát triển.
Đặc biệt, thái độ của học sinh THPT đối với các môn học đã sự lựa chọn dệt.
Các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp.
Cuối cấp học các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một lĩnh
vực tri thức nhất định, liên quan đến một nghề nghiệp nào đó trong tương lai. Nhận thức
của các em mang tính rộng rãi, sâu sắc và bền vững hơn học sinh THCS.
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang dần dần hoàn chỉnh về mặt thể chất. Nhờ điều kiện kinh tế xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng được nâng cao hơn trước nên học sinh THPT có sự phát triển tốt hơn về chiều cao, trọng lượng, thể trạng. Thế nhưng sự phát triển về cơ thể các em vẫn kém hơn so với sự phát triển cơ thể của người lớn. Bước vào giai đoạn này nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng của các em đã chậm lại. Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16,17 tuổi; các em trai khoảng 17, 18 tuổi. Có thể nói đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, đẹp và khỏe mạnh. Trọng lượng cơ thể nói chung phát triển nhanh, trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vươn lên. Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường. Cơ bắp, sức lực các em trong giai đoạn này phát triển mạnh, dễ đạt được những thành tích trong thể thao. Đây là lứa tuổi bắt đầu có sự trưởng thành về giới tính, là giai đoạn của những nam thanh, nữ tú. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển. Bộ não, hệ thần kinh các em phát triển và khỏe mạnh, tạo cơ sở cho các em tiếp thu, xử lý một khối lượng lớn tri thức trong quá trình học tập. Hai là, đặc điểm về hoạt động học tập Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở học sinh THPT khác rất nhiều so với học sinh THCS. Sự khác nhau cơ bản đó là nội dung học tập của các em ngày một sâu hơn, tính năng động và tính độc lập ở mức cao hơn, sự phát triển về tư duy lý luận cũng sâu sắc hơn, thái độ học tập có ý thức của các em ngày càng phát triển. Đặc biệt, thái độ của học sinh THPT đối với các môn học đã có sự lựa chọn rõ dệt. Các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Cuối cấp học các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một lĩnh vực tri thức nhất định, liên quan đến một nghề nghiệp nào đó trong tương lai. Nhận thức của các em mang tính rộng rãi, sâu sắc và bền vững hơn học sinh THCS.
Nhưng thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là, một mặt các em rất tích cực
học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em
lại sao nhãng các môn học khác, chỉ học để đạt điểm trung bình. Giáo viên phải có thái độ
lắng nghe, khuyến khích động viên, cần làm cho các em học sinh đó hiểu được ý nghĩa
chức năng của giáo dục phổ thông đối với mỗi môn học trong nhà trường.
Tóm lại, thái độ học tập có ý thức là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển tính chủ
định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của học sinh THPT trong
hoạt động học tập.
Ba là, đặc điểm về nhận thức, trí tuệ
Đối với học sinh THPT, tri giác mục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát các
em trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều
khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn không tách khỏi duy ngôn ngữ. Tuy
nhiên, quan sát của các em sẽ khó đạt được hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên.
Giáo viên cần quan m để hướng sự quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định,
không vội vàng kết luận khi chưa đầy đủ các sự kiện.
Với học sinh THPT, ghi nhớ chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ,
đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Đặc
biệt các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, nhưng một số em vẫn còn ghi nhớ
một cách đại khái, chung chung.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT nhiều thay đổi quan trọng do cấu trúc của
não phức tạp và chức năng của não phát triển; do sự phát triển của quá trình nhận thức nói
chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập.
Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo. Tư
duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn học sinh THCS. Đồng thời tính
phê phán của tư duy cũng phát triển…Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho các em phân
tích được những nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân
quả trong tự nhiên và trong xã hội…Đây là cơ sở quan trọng hình thành thế giới quan.
Tuy vậy hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức duy đặc trưng cho lứa tuổi như
trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ
Nhưng thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là, một mặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học khác, chỉ học để đạt điểm trung bình. Giáo viên phải có thái độ lắng nghe, khuyến khích động viên, cần làm cho các em học sinh đó hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối với mỗi môn học trong nhà trường. Tóm lại, thái độ học tập có ý thức là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của học sinh THPT trong hoạt động học tập. Ba là, đặc điểm về nhận thức, trí tuệ Đối với học sinh THPT, tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát ở các em trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ. Tuy nhiên, quan sát của các em sẽ khó đạt được hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên. Giáo viên cần quan tâm để hướng sự quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa đầy đủ các sự kiện. Với học sinh THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, nhưng một số em vẫn còn ghi nhớ một cách đại khái, chung chung. Hoạt động tư duy của học sinh THPT có nhiều thay đổi quan trọng do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển; do sự phát triển của quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn học sinh THCS. Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển…Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho các em phân tích được những nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội…Đây là cơ sở quan trọng hình thành thế giới quan. Tuy vậy hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ
của bản thân….Vì vậy, việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, trí tuệ một
nhiệm vụ quan trọng của giáo viên.
Bốn là, sự phát triển của tự ý thức
Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có
ý nghĩa to lớn trong sự phát triển tâm lý của lứa tuổi các em.
Nội dung của tự ý thức: một quá trình lâu dài, phong phú, trải qua nhiều mức độ
khác nhau rất phức tạp. Các em luôn quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất
nhân cách cũng như năng lực riêng của mình. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của
mình trong hiện tại như học sinh THCS, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội,
trong tương lai.
Học sinh THPT có khả năng đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính
riêng biệt về nhân cách của mình. Các em có thể hiểu rõ bản thân thông qua những phẩm
chất nhân cách như: lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm…và những quan hệ nhiều
mặt của nhân cách như: tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ…
Học sinh THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc
hơn học sinh THCS về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người xung quanh
và của chính mình. Các em thường dễ có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá: hoặc
đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc đánh giá cao nhân
cách của mình, tỏ ra tự kiêu tự đại, coi thường người khác.
Nhiều khi các em thể sai lầm khi tự đánh giá. Tuy nhiên, khả năng biết tự phân
tích là dấu hiệu của một nhân cách đang trưởng thành tiền đề của sự tự giáo dục
mục đích. Do vậy, trong hoạt động dạy học giáo dục giáo viên cần phải biết chia sẻ,
phải có thái độ nghiêm túc, chân thành khi nghe các em phát biểu, tuyệt đối không được chế
diễu ý kiến tự đánh giá đó, nhằm hình thành cho các em một biểu tượng khách quan về nhân
cách của mình.
Năm là, sự hình thành thế giới quan
Lứa tuổi học sinh THPT lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệ
thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử…
Những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng
trong giai đoạn này đã được hình thành (đặc biệt là sự phát triển của tư duy lý luận, tư duy
của bản thân….Vì vậy, việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên. Bốn là, sự phát triển của tự ý thức Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển tâm lý của lứa tuổi các em. Nội dung của tự ý thức: là một quá trình lâu dài, phong phú, trải qua nhiều mức độ khác nhau và rất phức tạp. Các em luôn quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách cũng như năng lực riêng của mình. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như học sinh THCS, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai. Học sinh THPT có khả năng đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt về nhân cách của mình. Các em có thể hiểu rõ bản thân thông qua những phẩm chất nhân cách như: lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm…và những quan hệ nhiều mặt của nhân cách như: tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ… Học sinh THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc hơn học sinh THCS về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người xung quanh và của chính mình. Các em thường dễ có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá: hoặc là đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đánh giá cao nhân cách của mình, tỏ ra tự kiêu tự đại, coi thường người khác. Nhiều khi các em có thể sai lầm khi tự đánh giá. Tuy nhiên, khả năng biết tự phân tích là dấu hiệu của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích. Do vậy, trong hoạt động dạy học và giáo dục giáo viên cần phải biết chia sẻ, phải có thái độ nghiêm túc, chân thành khi nghe các em phát biểu, tuyệt đối không được chế diễu ý kiến tự đánh giá đó, nhằm hình thành cho các em một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình. Năm là, sự hình thành thế giới quan Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử… Những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng trong giai đoạn này đã được hình thành (đặc biệt là sự phát triển của tư duy lý luận, tư duy
trừu tượng). Suốt thời gian học tập ở THPT, học sinh đã lĩnh hội được những tâm thế, thói
quen đạo đức nhất định, ý thức được cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác… thông qua các tiêu
chuẩn và nguyên tắc hành vi xác định.
Thời kỳ này nhân cách đã được xây dựng và phát triển tương đối cao. Đã xuất hiện ở
các em nhu cầu đưa những tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi đó vào một hệ thống hoàn
chỉnh. Một khi đã có được hệ thống quan điểm riêng thì các em không chỉ hiểu về thế giới
khách quan, mà còn đánh giá và xác định được thái độ của mình với thế giới nữa.
Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan sự phát triển của hứng thú nhận
thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ
biến của tự nhiên, xã hội của sự tồn tại hội loài người…Các em cố gắng xây dựng
quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề hội, tưởng, chính trị,
đạo đức. Chính nội dung các môn học THPT, đặc biệt là môn GDCD giúp cho các em
xây dựng được thế giới quan tích cực về mặt tự nhiên, xã hội.
Học sinh THPT quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò
của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ,
nghĩa vụ và tình cảm…Vấn đề ý nghĩa cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của
các em.
Vì vậy, việc định hướng giá trị trong hoạt động của cá nhân thông qua giáo dục cho
học sinh hệ thống tri thức về đời sống ý nghĩa hết sức quan trọng. Giúp các em xây
dựng được hệ thống thế giới quan đầy đủ, tránh lối sống thụ động, nại, trông chờ vào
người khác hoặc đánh giá quá cao cuộc sống hưởng thụ, sa đà vào những tệ nạn xã hội…
Sáu là, đặc điểm về giao tiếp, đời sống tình cảm và tâm lý
Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất, các em rất coi trọng việc
sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi để khẳng định vị trí của mình trong nhóm. Trong các
lớp học dần dần xảy ra một sự phân cực nhất định - xuất hiện những người được lòng nhất
và những người ít được lòng nhất. Những em vị trí thấp, ít được lòng các bạn thường
băn khoăn, suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình.
Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần
dần được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập. Trong việc phát triển nhu cầu sở thích,
học sinh hướng vào bạn bè nhiều hơn hướng vào cha mẹ. Nhưng khi bàn đến những giá tr
trừu tượng). Suốt thời gian học tập ở THPT, học sinh đã lĩnh hội được những tâm thế, thói quen đạo đức nhất định, ý thức được cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác… thông qua các tiêu chuẩn và nguyên tắc hành vi xác định. Thời kỳ này nhân cách đã được xây dựng và phát triển tương đối cao. Đã xuất hiện ở các em nhu cầu đưa những tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh. Một khi đã có được hệ thống quan điểm riêng thì các em không chỉ hiểu về thế giới khách quan, mà còn đánh giá và xác định được thái độ của mình với thế giới nữa. Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người…Các em cố gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị, đạo đức. Chính nội dung các môn học ở THPT, đặc biệt là môn GDCD giúp cho các em xây dựng được thế giới quan tích cực về mặt tự nhiên, xã hội. Học sinh THPT quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm…Vấn đề ý nghĩa cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của các em. Vì vậy, việc định hướng giá trị trong hoạt động của cá nhân thông qua giáo dục cho học sinh hệ thống tri thức về đời sống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giúp các em xây dựng được hệ thống thế giới quan đầy đủ, tránh lối sống thụ động, ỷ nại, trông chờ vào người khác hoặc đánh giá quá cao cuộc sống hưởng thụ, sa đà vào những tệ nạn xã hội… Sáu là, đặc điểm về giao tiếp, đời sống tình cảm và tâm lý Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất, các em rất coi trọng việc sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi để khẳng định vị trí của mình trong nhóm. Trong các lớp học dần dần xảy ra một sự phân cực nhất định - xuất hiện những người được lòng nhất và những người ít được lòng nhất. Những em có vị trí thấp, ít được lòng các bạn thường băn khoăn, suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình. Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập. Trong việc phát triển nhu cầu sở thích, học sinh hướng vào bạn bè nhiều hơn hướng vào cha mẹ. Nhưng khi bàn đến những giá trị
sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì cha mẹ và thầy cô giáo
lại có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của học sinh THPT
là do số lượng nhóm mà các em tham gia tăng lên. Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến
những sự khác nhau nhất định và có thể xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa
các vai trò khác nhau ở các nhóm.
Trong công tác giáo dục cần chú ý ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài nhà trường.
Nhà trường cần tổ chức phong phú, sinh động các hoạt động tập thể, đặc biệt là tổ chức đoàn,
nhằm phát huy tính tích cực của các em.
Đời sống tình cảm của học sinh THPT rất phong phú nhiều vẻ. Nhu cầu về tình
bạn tâm tình cá nhân tăng lên rệt. Tình bạn sâu sắc đã được bắt đầu từ tuổi thiếu niên,
nhưng sang tuổi này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều. Các em có yêu cầu cao
hơn đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng, tôn trọng, hiểu biết
sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau…). Trong quan hệ với các bạn các em cũng nhạy cảm hơn, đó là
khả năng xúc cảm khả năng đáp ứng lại xúc cảm, đặc biệt sự đồng cảm với người
khác.
Đối với học sinh THPT sự khác biệt giữa các nhân về quan niệm, sự thân tình
trong tình bạn rất rõ rệt. Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú ( có thể vì phẩm chất tốt
ở bạn, vì tính tình tương phản, vì có hứng thú, sở thích chung…).
Ngoài ra, phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng, nhu cầu về tình bạn khác giới được
tăng cường. Đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ nhu cầu về tình yêu nam
nữ.
Sự tác động giáo dục của nhà trường và gia đình về trạng thái tình cảm mới mẻ này
của học sinh THPT là hết sức quan trọng và cần thiết, giúp định hướng đúng đắn cho hành
vi nhân cách của các em.
Đây là thời kỳ tâm lý của các em xảy ra những biến đổi và cũng là thời kỳ then chốt
của sự phát triển tâm lý, chịu ảnh hưởng rất lớn của những điều kiện kinh tế - hội
môi trường sống.
Học sinh THPT thuộc lứa tuổi giàu ý chí, khát vọng, tình cảm và cảm xúc; ham hiểu
biết, hăng hái tham gia các hoạt động của Đoàn thanh niên hội như âm nhạc, thời
sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì cha mẹ và thầy cô giáo lại có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn rất nhiều. Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của học sinh THPT là do số lượng nhóm mà các em tham gia tăng lên. Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến những sự khác nhau nhất định và có thể xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm. Trong công tác giáo dục cần chú ý ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài nhà trường. Nhà trường cần tổ chức phong phú, sinh động các hoạt động tập thể, đặc biệt là tổ chức đoàn, nhằm phát huy tính tích cực của các em. Đời sống tình cảm của học sinh THPT rất phong phú và nhiều vẻ. Nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân tăng lên rõ rệt. Tình bạn sâu sắc đã được bắt đầu từ tuổi thiếu niên, nhưng sang tuổi này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều. Các em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng, tôn trọng, hiểu biết và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau…). Trong quan hệ với các bạn các em cũng nhạy cảm hơn, đó là khả năng xúc cảm và khả năng đáp ứng lại xúc cảm, đặc biệt là sự đồng cảm với người khác. Đối với học sinh THPT sự khác biệt giữa các cá nhân về quan niệm, sự thân tình trong tình bạn rất rõ rệt. Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú ( có thể vì phẩm chất tốt ở bạn, vì tính tình tương phản, vì có hứng thú, sở thích chung…). Ngoài ra, phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng cường. Đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ và nhu cầu về tình yêu nam nữ. Sự tác động giáo dục của nhà trường và gia đình về trạng thái tình cảm mới mẻ này của học sinh THPT là hết sức quan trọng và cần thiết, giúp định hướng đúng đắn cho hành vi nhân cách của các em. Đây là thời kỳ tâm lý của các em xảy ra những biến đổi và cũng là thời kỳ then chốt của sự phát triển tâm lý, chịu ảnh hưởng rất lớn của những điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sống. Học sinh THPT thuộc lứa tuổi giàu ý chí, khát vọng, tình cảm và cảm xúc; ham hiểu biết, hăng hái tham gia các hoạt động của Đoàn thanh niên và xã hội như âm nhạc, thời
trang, hội họa, từ thiện…; có nhu cầu về tình bạn, tình yêu. Những đặc điểm này tác động
tích cực tới việc xây dựng phát triển nhân cách của học sinh, giúp các em làm phong
phú thêm đời sống nội tâm và thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội.
Đây cũng lứa tuổi có những hạn chế nhất định. Đó là tâm không thích nghe,
không thích bàn luận đến các vấn đề chính trị, thời sự. Các em còn thiếu kinh nghiệm sống
nên đời sống tâm lý dễ bị chi phối, dễ mơ hồ về chính trị, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. vậy
giáo viên GDCD cần tạo hội cho học sinh được chia sẻ, bày tỏ quan điểm, ý kiến
nhân về vấn đề đang học, nêu những băn khoăn thắc mắc cho thầy, cho bạn. Bên cạnh đó,
giáo viên cần khuyến khích học sinh tự liên hệ, điều tra, phân tích, đánh giá các sự kiện
trong đời sống thực tiễn nhà trường, địa phương, đất nước.
Như vậy, thanh niên nói chung, học sinh THPT nói riêng – đó một lớp người trẻ
tuổi trong dân cư, đang phát triển về nhân cách và có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về
tính, nguồn dự trữ bản của đời sống kinh tế, chính trị, hội tinh thần của mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc.
Nghiên cứu, xem xét đặc điểm tâm sinhhọc sinh THPT là một trong những căn
cứ quan trọng để xác định nội dung, cách thức tổ chức giáo dục phù hợp trong quá trình
xây dựng và phát triển nhân cách cho các em.
1.2.3. Vị trí vai trò của môn Giáo dục công dân trường Trung học phổ
thông
1.2.3.1. Vị trí, nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân
Trước những năm đầu đổi mới môn GDCD được đưa vào giảng dạy trong các
trường THPT ở nước ta với những hình thức và tên gọi khác nhau. Từ năm học 1990 – 1991
môn GDCD đã được xác định là môn khoa học xã hội.
Theo Luật giáo dục 2005: Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh
củng cố phát triển những kết quả giáo dục Trung học sở, hoàn thiện học vấn ph
thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn
hướng phát triển phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Cũng như tất cả các môn học
khác trong nhà trường THPT, môn GDCD đã được đổi mới về nội dung, cấu trúc chương
trình…cho phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu mới.
trang, hội họa, từ thiện…; có nhu cầu về tình bạn, tình yêu. Những đặc điểm này tác động tích cực tới việc xây dựng và phát triển nhân cách của học sinh, giúp các em làm phong phú thêm đời sống nội tâm và thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội. Đây cũng là lứa tuổi có những hạn chế nhất định. Đó là tâm lý không thích nghe, không thích bàn luận đến các vấn đề chính trị, thời sự. Các em còn thiếu kinh nghiệm sống nên đời sống tâm lý dễ bị chi phối, dễ mơ hồ về chính trị, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Vì vậy giáo viên GDCD cần tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học, nêu những băn khoăn thắc mắc cho thầy, cho bạn. Bên cạnh đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh tự liên hệ, điều tra, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống thực tiễn nhà trường, địa phương, đất nước. Như vậy, thanh niên nói chung, học sinh THPT nói riêng – đó là một lớp người trẻ tuổi trong dân cư, đang phát triển về nhân cách và có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, là nguồn dự trữ cơ bản của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nghiên cứu, xem xét đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT là một trong những căn cứ quan trọng để xác định nội dung, cách thức tổ chức giáo dục phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho các em. 1.2.3. Vị trí và vai trò của môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông 1.2.3.1. Vị trí, nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân Trước và những năm đầu đổi mới môn GDCD được đưa vào giảng dạy trong các trường THPT ở nước ta với những hình thức và tên gọi khác nhau. Từ năm học 1990 – 1991 môn GDCD đã được xác định là môn khoa học xã hội. Theo Luật giáo dục 2005: “ Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Cũng như tất cả các môn học khác trong nhà trường THPT, môn GDCD đã được đổi mới về nội dung, cấu trúc chương trình…cho phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu mới.
Vấn đề trên vừa quan trọng, vừa hệ trọng vì thế bắt đầu từ năm 2006, Bộ GD&ĐT
đã ban hành chương trình sách giáo khoa GDCD mới biên soạn theo chương trình cải
cách (năm 2006 xuất bản sách GDCD Lớp10, năm 2007 xuất bản sách GDCD Lớp 11,
năm 2008 xuất bản sách GDCD Lớp 12). Điều này nói lên vị trí quan trọng của môn
GDCD trong nhà trường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: một dân tộc yếu là một dân tộc dốt. Một xã hội
văn minh, ổn định và phát triển là một xã hội có nhiều công dân tốt. Công dân tốt trước hết
phải là người có học, có nhân cách, có tính cộng đồng sâu sắc.
Dù ở giai đoạn nào, thời điểm nào trong sự phát triển của lịch sử xã hội cũng không
thể đào tạo những người lao động mới phát triển toàn diện khi chỉ chú ý tới việc giáo dục
trí dục, bỏ qua hoặc coi thường giáo dục các mặt khác. Chính vì vậy, nhà trường phổ thông
phải có chương trình, nội dung giáo dục, giáo dưỡng phù hợp với đất nước, con người Việt
Nam, phù hợp với thời đại.
Trong nhà trường tất cả các môn học các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
đều tác dụng to lớn trong xây dựng phát triển dần nhân cách, năng lực, phẩm chất
cho học sinh THPT. Tuy nhiên, GDCD là một môn khoa học xã hội có ưu thế hơn cả trong
việc giáo dục để hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh THPT.
Môn GDCD là bộ môn dạy cho học sinh những tri thức khoa học có tính phổ thông,
cơ bản và thiết thực nhất. Nó không những trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về
thế giới quan, nhân sinh quan, hệ thống các giá trị đạo đức, pháp luật, thể chế chính trị và
những phương hướng phát triển kinh tế – hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước… còn giúp các em định hình và phát triển
được về nhân cách, nâng cao trách nhiệm công dân của học sinh, xác định vị trí của bản
thân với tư cách là chủ thể của sự phát triển cá nhân, xã hội và tự nhiên.
Chính trên cơ sở của những tri thức đó, học sinh sẽ dễ hình thành những quan điểm
mới, những khuynh hướng tưởng mới, động cơ, hoài bão, niềm tin hành vi tốt đẹp
của con người. Đồng thời thông qua tri thức của môn GDCD sẽ hình thành từng bước
phương pháp nhận thức, duy khoa học phương pháp hành động đúng quy luật
khách quan. Từ đó tạo nền tảng vững chắc xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho
các em trong cuộc sống.
Vấn đề trên vừa quan trọng, vừa hệ trọng vì thế bắt đầu từ năm 2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình và sách giáo khoa GDCD mới biên soạn theo chương trình cải cách (năm 2006 xuất bản sách GDCD Lớp10, năm 2007 xuất bản sách GDCD Lớp 11, năm 2008 xuất bản sách GDCD Lớp 12). Điều này nói lên vị trí quan trọng của môn GDCD trong nhà trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: một dân tộc yếu là một dân tộc dốt. Một xã hội văn minh, ổn định và phát triển là một xã hội có nhiều công dân tốt. Công dân tốt trước hết phải là người có học, có nhân cách, có tính cộng đồng sâu sắc. Dù ở giai đoạn nào, thời điểm nào trong sự phát triển của lịch sử xã hội cũng không thể đào tạo những người lao động mới phát triển toàn diện khi chỉ chú ý tới việc giáo dục trí dục, bỏ qua hoặc coi thường giáo dục các mặt khác. Chính vì vậy, nhà trường phổ thông phải có chương trình, nội dung giáo dục, giáo dưỡng phù hợp với đất nước, con người Việt Nam, phù hợp với thời đại. Trong nhà trường tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đều có tác dụng to lớn trong xây dựng và phát triển dần nhân cách, năng lực, phẩm chất cho học sinh THPT. Tuy nhiên, GDCD là một môn khoa học xã hội có ưu thế hơn cả trong việc giáo dục để hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh THPT. Môn GDCD là bộ môn dạy cho học sinh những tri thức khoa học có tính phổ thông, cơ bản và thiết thực nhất. Nó không những trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan, hệ thống các giá trị đạo đức, pháp luật, thể chế chính trị và những phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước… mà còn giúp các em định hình và phát triển được về nhân cách, nâng cao trách nhiệm công dân của học sinh, xác định vị trí của bản thân với tư cách là chủ thể của sự phát triển cá nhân, xã hội và tự nhiên. Chính trên cơ sở của những tri thức đó, học sinh sẽ dễ hình thành những quan điểm mới, những khuynh hướng tư tưởng mới, động cơ, hoài bão, niềm tin và hành vi tốt đẹp của con người. Đồng thời thông qua tri thức của môn GDCD sẽ hình thành từng bước phương pháp nhận thức, tư duy khoa học và phương pháp hành động đúng quy luật khách quan. Từ đó tạo nền tảng vững chắc xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho các em trong cuộc sống.
Học sinh m nay sẽ những công dân tương lai, chủ nhân xây dựng và bảo vệ
đất nước, họ cần được giáo dục để có ý thức công dân, có nhân cách tốt để trở thành những
công dân gương mẫu có ích cho tổ quốc mình.
Việc nhận thức đúng đắn đầy đủ vị trí nhiệm vụ quan trọng của môn GDCD
trong GD&ĐT thế hệ trẻ sẽ góp phần thực hiện thành công chiến lược xây dựng, phát triển
toàn diện con người Việt Nam về đức, trí, thể, mỹ và lao động.
1.2.3.2. Vai trò của môn Giáo dục công dân trong xây dựng phát triển nhân
cách học sinh
Giáo dục THPT thời kỳ giáo dục trong đó học sinh được dẫn dắt để trở thành
những người lớn vừa có tri thức, vừa có đạo đức, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, ý thức
trách nhiệm cộng đồng, gia đình, tập thể và bản thân mình. Chúng ta biết rằng học sinh
THPT là lứa tuổi từ khi vào trường đến khi tốt nghiệp vẫn còn đang trong quá trình hình
thành và phát triển nhân cách. Vì vậy xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT
hiện nay trở thành một trong những vấn đề vô cùng quan trọng của công tác giáo dục trong
nhà trường hiện nay. Môn GDCD một trong những môn học giữ vai trò quan trọng
trong sự nghiệp đó.
Môn GDCD góp phần to lớn trong việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan
và phương pháp luận khoa học cho học sinh THPT
Hơn bất cứ môn khoa học nào khác trong nhà trường THPT, những tri thức đề cập
trong môn GDCD những tri thức phổ thông, cơ bản, mang tính khái quát hoá cao, được
giảng dạy thông qua hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính phổ quát có
ý nghĩa to lớn trong việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan, phương pháp luận
khoa học, trên cơ sở đó giúp học sinh nhận thức tốt hơn những vấn đề thuộc các môn khoa
học khác.
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, là sản phẩm của nhận thức
khoa học hoạt động hội, một trong những yếu tố cấu thành phẩm chất đạo đức.
Giáo dục thế giới quan cho học sinh một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn
GDCD, thể hiện vai trò của bộ môn trong xây dựng và phát triển nhân cách cho các em.
Với những quan điểm duy vật biện chứng chung nhất về thế giới và một số quan
điểm duy vật biện chứng về xã hội, con người trong phần triết học – GDCD lớp 10 và phần
Học sinh hôm nay sẽ là những công dân tương lai, là chủ nhân xây dựng và bảo vệ đất nước, họ cần được giáo dục để có ý thức công dân, có nhân cách tốt để trở thành những công dân gương mẫu có ích cho tổ quốc mình. Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ vị trí và nhiệm vụ quan trọng của môn GDCD trong GD&ĐT thế hệ trẻ sẽ góp phần thực hiện thành công chiến lược xây dựng, phát triển toàn diện con người Việt Nam về đức, trí, thể, mỹ và lao động. 1.2.3.2. Vai trò của môn Giáo dục công dân trong xây dựng và phát triển nhân cách học sinh Giáo dục THPT là thời kỳ giáo dục trong đó học sinh được dẫn dắt để trở thành những người lớn vừa có tri thức, vừa có đạo đức, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, ý thức trách nhiệm cộng đồng, gia đình, tập thể và bản thân mình. Chúng ta biết rằng học sinh THPT là lứa tuổi từ khi vào trường đến khi tốt nghiệp vẫn còn đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT hiện nay trở thành một trong những vấn đề vô cùng quan trọng của công tác giáo dục trong nhà trường hiện nay. Môn GDCD là một trong những môn học giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đó. Môn GDCD góp phần to lớn trong việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học cho học sinh THPT Hơn bất cứ môn khoa học nào khác trong nhà trường THPT, những tri thức đề cập trong môn GDCD là những tri thức phổ thông, cơ bản, mang tính khái quát hoá cao, được giảng dạy thông qua hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính phổ quát có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, trên cơ sở đó giúp học sinh nhận thức tốt hơn những vấn đề thuộc các môn khoa học khác. Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, là sản phẩm của nhận thức khoa học và hoạt động xã hội, là một trong những yếu tố cấu thành phẩm chất đạo đức. Giáo dục thế giới quan cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn GDCD, thể hiện vai trò của bộ môn trong xây dựng và phát triển nhân cách cho các em. Với những quan điểm duy vật biện chứng chung nhất về thế giới và một số quan điểm duy vật biện chứng về xã hội, con người trong phần triết học – GDCD lớp 10 và phần
kinh tế chính trị – GDCD lớp 11 giúp học sinh nắm được về bản chất vật chất của thế giới,
sự vận động và phát triển của thế giới vật chất tuân theo những quy luật khách quan, con
người khả năng nhận thức và cải tạo được thế giới khách quan, về tồn tại hội ý
thức xã hội, về con người – chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội…
Ngoài ra giúp cho học sinh THPT có những tiền đề lý luận cơ bản để hiểu và nhận
thức được tính tất yếu khách quan của quá trình đi lên CNXH trong thời đại ngày nay
sự nghiệp cách mạng XHCN của Đảng và nhân dân ta.
Môn GDCD giáo dục cho học sinh phẩm chất chính trị, tư tưởng của người công
dân trong giai đoạn hiện nay
Là môn học giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên
môn GDCD có ưu thế giúp các em có hiểu biết về xã hội XHCN, về nền dân chủ XHCN;
nhận thức đúng đắn về bản chất của nhà nước pháp quyền Việt Nam, về thể chế chính trị,
về phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối
với sự tồn tại và phát triển của cá nhân, nhà nước xã hội; về quyền lợi và trách nhiệm
của học sinh trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc…
Trên cơ sở đó các em nâng cao được ý thức, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi
ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, đấu tranh phê phán đối
với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi. Bên cạnh đó
hình thành các em niềm tin đối với Đảng, với chế độ, với sự nghiệp đổi mới của đất
nước. Trở thành một chủ thể của sự phát triển nhân cách có hoài bão và mục đích sống cao
đẹp.
Môn GDCD giáo dục các giá trị đạo đức, góp phần trực tiếp xây dựng lối sống
đúng đắn và lành mạnh cho học sinh
Thông qua nội dung chương trình học sinh được trang bị những tri thức về đạo đức
một cách khái quát hệ thống, giúp các em hiểu và biết giữ gìn các gtrị đạo đức
như: nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh phúc của bản thân xã hội. Từ
đó, biết đặt mục tiêu phấn đấu, coi trọng việc rèn luyện và tự hoàn thiện bản thân, giao tiếp
và ứng xử có văn hoá, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Hiểu đúng đắn về tình yêu, hôn nhân, gia đình; biết sống nhân nghĩa, hoà nhập, hợp
tác với mọi người xung quanh. Có hiểu biết về truyền thống yêu nước của dân tộc, luôn có ý
kinh tế chính trị – GDCD lớp 11 giúp học sinh nắm được về bản chất vật chất của thế giới, sự vận động và phát triển của thế giới vật chất tuân theo những quy luật khách quan, con người có khả năng nhận thức và cải tạo được thế giới khách quan, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về con người – chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội… Ngoài ra giúp cho học sinh THPT có những tiền đề lý luận cơ bản để hiểu và nhận thức được tính tất yếu khách quan của quá trình đi lên CNXH trong thời đại ngày nay và sự nghiệp cách mạng XHCN của Đảng và nhân dân ta. Môn GDCD giáo dục cho học sinh phẩm chất chính trị, tư tưởng của người công dân trong giai đoạn hiện nay Là môn học giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên môn GDCD có ưu thế giúp các em có hiểu biết về xã hội XHCN, về nền dân chủ XHCN; nhận thức đúng đắn về bản chất của nhà nước pháp quyền Việt Nam, về thể chế chính trị, về phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân, nhà nước và xã hội; về quyền lợi và trách nhiệm của học sinh trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc… Trên cơ sở đó các em nâng cao được ý thức, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, đấu tranh phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi. Bên cạnh đó hình thành ở các em niềm tin đối với Đảng, với chế độ, với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Trở thành một chủ thể của sự phát triển nhân cách có hoài bão và mục đích sống cao đẹp. Môn GDCD giáo dục các giá trị đạo đức, góp phần trực tiếp xây dựng lối sống đúng đắn và lành mạnh cho học sinh Thông qua nội dung chương trình học sinh được trang bị những tri thức về đạo đức một cách khái quát và có hệ thống, giúp các em hiểu và biết giữ gìn các giá trị đạo đức như: nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh phúc của bản thân và xã hội. Từ đó, biết đặt mục tiêu phấn đấu, coi trọng việc rèn luyện và tự hoàn thiện bản thân, giao tiếp và ứng xử có văn hoá, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Hiểu đúng đắn về tình yêu, hôn nhân, gia đình; biết sống nhân nghĩa, hoà nhập, hợp tác với mọi người xung quanh. Có hiểu biết về truyền thống yêu nước của dân tộc, luôn có ý
thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất
nước…Qua đó các em tăng thêm tính tự giác trong hành vi đạo đức của mình, phát triển lý
tưởng sống cao đẹp, những phẩm chất và năng lực cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ
CNH, HĐH.
Học chữ, học làm người là nhiệm vụ cơ bản nhất của người học sinh. Học để có tri
thức, học để hoàn thiện nhân cách là cả một quá trình lâu dài vô cùng gian khổ, không
những đòi hỏi các em phải niềm tin, phương pháp còn phải ý chí nghị lực.
Môn GDCD vai trò to lớn trong việc xây dựng phát triển hai thành tố chủ yếu của
nhân cách con người đó là “đức” “tài”, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở THPT.
Môn GDCD góp phần nâng cao chất lượng học tập các bộ môn khoa học khác
trong nhà trường
Học sinh không thể nào đạt kết quả cao trong học tập khi mỗi nhân không
xác định cho mình động cơ, mục đích học tập, rèn luyện đúng đắn và khoa học. Trong quá
trình học tập, khi tiếp nhận và vận dụng được tri thức môn GDCD các em sẽ phương
pháp khoa học khi tiếp thu kiến thức các môn học khác, đồng thời biết cách xử lý thông tin
một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, các em sẽ nhận thức đúng đắn hơn khi định hướng lao
động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Điều này giúp các em thích ứng với những điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể trong quá trình phát triển của xã hội.
Chương 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH QUA GIẢNG DẠY
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN HIỆN NAY
2.1. KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC CẤP TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định
* Vị trí địa lí tự nhiên
tỉnh đồng bằng ven biển nằm ở cực Nam châu thổ sông Hồng, Nam Định có
tổng diện tích tự nhiên 1650 km
2
, với dân skhoảng 1.916.400 người. Tỉnh Nam Định
thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước…Qua đó các em tăng thêm tính tự giác trong hành vi đạo đức của mình, phát triển lý tưởng sống cao đẹp, những phẩm chất và năng lực cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH. Học chữ, học làm người là nhiệm vụ cơ bản nhất của người học sinh. Học để có tri thức, học để hoàn thiện nhân cách là cả một quá trình lâu dài và vô cùng gian khổ, không những đòi hỏi các em phải có niềm tin, phương pháp mà còn phải có ý chí và nghị lực. Môn GDCD có vai trò to lớn trong việc xây dựng và phát triển hai thành tố chủ yếu của nhân cách con người đó là “đức” “tài”, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở THPT. Môn GDCD góp phần nâng cao chất lượng học tập các bộ môn khoa học khác trong nhà trường Học sinh không thể nào đạt kết quả cao trong học tập khi mà mỗi cá nhân không xác định cho mình động cơ, mục đích học tập, rèn luyện đúng đắn và khoa học. Trong quá trình học tập, khi tiếp nhận và vận dụng được tri thức môn GDCD các em sẽ có phương pháp khoa học khi tiếp thu kiến thức các môn học khác, đồng thời biết cách xử lý thông tin một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, các em sẽ nhận thức đúng đắn hơn khi định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Điều này giúp các em thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong quá trình phát triển của xã hội. Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN HIỆN NAY 2.1. KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH 2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định * Vị trí địa lí tự nhiên Là tỉnh đồng bằng ven biển nằm ở cực Nam châu thổ sông Hồng, Nam Định có tổng diện tích tự nhiên 1650 km 2 , với dân số khoảng 1.916.400 người. Tỉnh Nam Định