Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Quách Tấn

9,116
571
111
60
Em không nghe rng thu
Lá thu kêu xào xc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?”.
( Tiếng thu )
Bài thơ được to bng ba câu hi dn dp, tha thiết, ba câu hi cùng mt hình
thc, hp li thành mt câu hi ln. Tiếng thutiếng bun, tiếng nhiu, bi ni
bun đây không được chia s. Cm t em không nghe” lp li ba ln nhn
mnh mt tiếng lòng l loi. Thn thc, ro rc” nhng trng thái ni tâm
thầm kín mà người ta ch có th nghe được bng chính tâm hn mình.
Trong Thơ mới, các thi nhân đã biến không gian sơn thủy, c hoa hu tình
trong thơ cổ, thành mt không gian ri rc, hng h, lnh lo, h đã biến cái
không gian chc nch, vốn nơi quy về ca các hồn thơ cổ, thành mt mt.
Tiếng thu của Lưu Trọng Lư gợi nim ro rc, gi tiếng “kêu” của bao lp lá lìa
cành. Tiếng thu chính là tiếng bun ca cái tôi thc tỉnh nhưng không được chia
s.
Tiếng thu đã làm cho Lưu Trọng Lư mơ mộng mà hi bn tâm tình :
Em không nghe mùa thu
ới trăng mờ thn thức”.
( Tiếng thu )
Bài thơ mở đầu bng tiếng gi nh nhàng, “em” là đi t nhân xưng ngôi thứ
hai. Đó tiêng gọi thật hồ, tt c đều ro rực, ngơ ngác về tiếng thn thc
của mùa thu dưới ánh trăng mờ. Ngn thu phong ấy đưa v làn mây bc vi mt
điều mơ mộng ca tuổi xanh, làm cho người thanh niên du có cái buồn vơ vẩn,
nhưng vẫn cha chan trong lòng biết bao tình yêu đằm thm :
60 Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?”. ( Tiếng thu ) Bài thơ được tạo bằng ba câu hỏi dồn dập, tha thiết, ba câu hỏi cùng một hình thức, hợp lại thành một câu hỏi lớn. Tiếng thu là tiếng buồn, tiếng nhiều, bởi nỗi buồn ở đây không được chia sẻ. Cụm từ “em không nghe” lặp lại ba lần nhấn mạnh một tiếng lòng lẻ loi. “Thổn thức, rạo rực” là những trạng thái nội tâm thầm kín mà người ta chỉ có thể nghe được bằng chính tâm hồn mình. Trong Thơ mới, các thi nhân đã biến không gian sơn thủy, cỏ hoa hữu tình trong thơ cổ, thành một không gian rời rạc, hững hờ, lạnh lẽo, họ đã biến cái không gian chắc nịch, vốn là nơi quy về của các hồn thơ cổ, thành một mật. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư gợi niềm rạo rực, gợi tiếng “kêu” của bao lớp lá lìa cành. Tiếng thu chính là tiếng buồn của cái tôi thức tỉnh nhưng không được chia sẻ. Tiếng thu đã làm cho Lưu Trọng Lư mơ mộng mà hỏi bạn tâm tình : “Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức”. ( Tiếng thu ) Bài thơ mở đầu bằng tiếng gọi nhẹ nhàng, “em” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai. Đó là tiêng gọi thật mơ hồ, tất cả đều rạo rực, ngơ ngác về tiếng thổn thức của mùa thu dưới ánh trăng mờ. Ngọn thu phong ấy đưa về làn mây bạc với một điều mơ mộng của tuổi xanh, làm cho người thanh niên dầu có cái buồn vơ vẩn, nhưng vẫn chứa chan trong lòng biết bao tình yêu đằm thắm :
61
Mây trắng bay đầy trước ngõ tre
Buồn xưa theo với gió thu v
Vài chàng trai tr su biêng biếc
Mng n trong lòng, sắc đỏ heo”.
( Mây trng )
Tiếng thuni bun mênh mông, bao la hơn, sâu lắng hơn về một đất nuc
mênh mang, tươi đẹp. Ngọc Phan đã từng nhận xét : Thơ Lưu Trọng Lư là
tt c tm lòng thn thc của con người mơ mộng, lúc nào cũng nng lòng yêu
du” [18.38]. Đúng vậy Tiếng thu là ni buồn mênh mông, bao la hơn, sâu lắng
hơn về một đất nước mênh mang tươi đẹp.
Không quan sát mùa thu bng th giác mà lng nghe bằng thính giác, hơn thế
na lng nghe bằng chính lòng mình, đ cm nhn trng thái ca mùa thu .
Vi v ro rực hồ, vi ni nh ngưi chng ra trn, vi âm vang rt kh
khàng, dm chân lên lá khô ca toàn b đời thơ Lưu Trọng Lư. Trong Tiếng thu
Thi đã lắng nghe bng chính tâm hn mình, bng tiếng lòng thn thc ca
ngưi cô ph trong những đêm trăng rạo rc :
Em không nghe ro rc
Hình nh k chinh phu
Trong lòng người cô phụ”
Không gian mùa thu có trăng mờ, để cho người thiếu ph thn thc nh thương, có
rng chiu ri rác lá vàng khô. Thi gian trong Tiếng thu thi gian rng nng,
thi gian ca quá kh vng v. Sau tiếng thn thc ca cô ph là tiếng kêu đau xót
của nhà thơ, đồng cm vi ni thiếu vng, ht hng của người cô ph đơn côi. Ở
đây, tiếng nói nhân ái được ct lên t hin thc cuc sống đớn đau ch không phi
t cõi mng. Mùa thu là mùa của tình yêu và thương nhớ. Không phi là một đêm
trăng sáng tỏ, mà dưới ánh trăng m, cái m, bàng bc ca không gian phù hp vi
61 “Mây trắng bay đầy trước ngõ tre Buồn xưa theo với gió thu về Vài chàng trai trẻ sầu biêng biếc Mộng nở trong lòng, sắc đỏ heo”. ( Mây trắng ) Tiếng thu là nỗi buồn mênh mông, bao la hơn, sâu lắng hơn về một đất nuớc mênh mang, tươi đẹp. Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét : “Thơ Lưu Trọng Lư là tất cả tấm lòng thổn thức của con người mơ mộng, lúc nào cũng nặng lòng yêu dấu” [18.38]. Đúng vậy Tiếng thu là nỗi buồn mênh mông, bao la hơn, sâu lắng hơn về một đất nước mênh mang tươi đẹp. Không quan sát mùa thu bằng thị giác mà lắng nghe bằng thính giác, hơn thế nữa là lắng nghe bằng chính lòng mình, để cảm nhận trạng thái của mùa thu . Với vẻ rạo rực mơ hồ, với nỗi nhớ người chồng ra trận, với âm vang rất khẽ khàng, dẫm chân lên lá khô của toàn bộ đời thơ Lưu Trọng Lư. Trong Tiếng thu Thi sĩ đã lắng nghe bằng chính tâm hồn mình, bằng tiếng lòng thổn thức của người cô phụ trong những đêm trăng rạo rực : “Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ” Không gian mùa thu có trăng mờ, để cho người thiếu phụ thổn thức nhớ thương, có rừng chiều rải rác lá vàng khô. Thời gian trong Tiếng thu là thời gian rừng nắng, thời gian của quá khứ vọng về. Sau tiếng thổn thức của cô phụ là tiếng kêu đau xót của nhà thơ, đồng cảm với nỗi thiếu vắng, hụt hẫng của người cô phụ đơn côi. Ở đây, tiếng nói nhân ái được cất lên từ hiện thực cuộc sống đớn đau chứ không phải từ cõi mộng. Mùa thu là mùa của tình yêu và thương nhớ. Không phải là một đêm trăng sáng tỏ, mà dưới ánh trăng mờ, cái mờ, bàng bạc của không gian phù hợp với
62
tâm trng nh thương. Và nỗi nh u xa nht vn thuc v tình yêu lứa đôi, tình
v chng. Hình ảnh “chinh phu”, “trong lòng người cô ph”, tuy mang tình cm
xa xôi, xưa cũ nhưng lại phù hp vi khung cnh mùa thu . Cnh vt mùa thu bao
gi cũng mở ra vi hin ti và không khép li vi quá kh nên cm xúc và hình nh
thơ rt linh hot vi thi gian. Tiếp theo là câu hi tu t tht gi cm :
Em không nghe rng thu
Lá thu kêu xào xc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”.
( Tiếng thu )
Bức tranh đẹp v mùa thu màu sc nhiều âm thanh xao động. Màu
vàng là tượng trưng cho mùa thu đã đến trong thơ Nguyễn Khuyến :
Lá vàng trước gió kh đưa vèo”.
( Thu điếu )
Và sắc vàng đã quy tụ trong thơ Lưu Trọng Lư, bóng nai vàng trên rừng thu
xào xạc lá vàng khô. Cái đẹp ca mùa thu khơi gợi nhng cm xúc thm kín ca
nhng tâm hồn đa cảm.
Tiếng thu còn là tiếng thơ của ni cảm thương, nhân ái, thấm đượm nghĩa
tình. Lng l trong hi c k niệm xa xăm, những ln gp g, nhng cm nhn
t tưởng tượng, thế mà đầy sức lay động. Sau nhng vn thơ đó, ta cảm
thấy nvang vọng đâu đây tiếng khóc ca T Như cho những thân phn bc
mnh và tiếng kêu đau đớn đầy chiêm nghim:
“ Đau đớn thay phận đàn bà
Li rng bc mệnh cũng là lời chung”
( Nguyn Du)
62 tâm trạng nhớ thương. Và nỗi nhớ sâu xa nhất vẫn thuộc về tình yêu lứa đôi, tình vợ chồng. Hình ảnh “chinh phu”, “trong lòng người cô phụ”, tuy mang tình cảm xa xôi, xưa cũ nhưng lại phù hợp với khung cảnh mùa thu . Cảnh vật mùa thu bao giờ cũng mở ra với hiện tại và không khép lại với quá khứ nên cảm xúc và hình ảnh thơ rất linh hoạt với thời gian. Tiếp theo là câu hỏi tu từ thật gợi cảm : “Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”. ( Tiếng thu ) Bức tranh đẹp về mùa thu có màu sắc và nhiều âm thanh xao động. Màu vàng là tượng trưng cho mùa thu đã đến trong thơ Nguyễn Khuyến : “ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( Thu điếu ) Và sắc vàng đã quy tụ trong thơ Lưu Trọng Lư, bóng nai vàng trên rừng thu xào xạc lá vàng khô. Cái đẹp của mùa thu khơi gợi những cảm xúc thầm kín của những tâm hồn đa cảm. Tiếng thu còn là tiếng thơ của nỗi cảm thương, nhân ái, thấm đượm nghĩa tình. Lặng lẽ trong hồi ức kỷ niệm xa xăm, những lần gặp gỡ, những cảm nhận từ hư vô tưởng tượng, thế mà đầy sức lay động. Sau những vần thơ đó, ta cảm thấy như vang vọng đâu đây tiếng khóc của Tố Như cho những thân phận bạc mệnh và tiếng kêu đau đớn đầy chiêm nghiệm: “ Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” ( Nguyễn Du)
63
cũng xuất phát t tình cm ấy, thơ Lưu Trọng còn là biểu hin ca
mt tm lòng gn với đất nước, gn bó vi dân tộc. Lưu Trọng mải miết
say ngh thuật, đến mức lúc nào cũng như người trong mộng và lúc đã
buông thả, đắm chìm trong nhng thú vui. Nhưng sống trong cảnh đất nước đau
thương, tới phương nào nhà thơ cũng chỉ gp nỗi đau khổ của con người, chưa
bao gi nhà thơ quên thân phận nô l ca mình. Khi nói v xut x bài thơ Tiếng
thu, Lưu Trọng Lư tâm sự: Khi cha tôi không làm “ quan” nữa v quê nhà,
trong phòng ông mt bc tranh v con nai rất đẹp. Thi thế lúc này tht
nhiễu nhương. Nhân dân thì đói khổ. Chúng bt phu, bt lính. Ôi con nai vàng
hin lành trong tranh ca cha tôi, hàng ngày hiện ra trước mắt tôi mà sao đáng
thương m vy! Bài Tiếng thu ra đời nói lên cái bun của đất nước. Cái ngơ
ngác ca con nai chính là v hin lành x sở… Do đó hình bóng của k
chinh phu trong lòng người cô ph. Và cái hình ảnh con nai vàng ngơ ngác, đạp
trên lá vàng khô đâu phải là hình nh không có n ý. Nó s ha hn, mt
s báo hiệu điều gì đó sẽ xảy ra” [18.249]
Đọc Tiếng thu, người đọc cảm được hn thu x s quay v hin hu, cht
phác của chú nai vàng. Đó nỗi lòng kín đáo của mt hồn thơ có trách nhiệm,
nhưng hồn thơ đó còn mơ màng, ngơ ngác, chờ đợi một người bạn đường tốt để
cùng đi tới mt vùng trii thanh bình, hnh phúc.
Tiếng thu còn tiếng vang vng ca nỗi đơn, bơ vơ của con người mt
thời không phương ng trong cảnh nước mt, nhà tan. thế mà, nh nh
con nai vàng ngơ ngác” không ch biu hin tp trung hồn thơ của Lưu
Trọng còn là biểu tượng ca c mt x s, c mt dân tc. Đó Lưu
Trọng Lư mà còn là biểu tượng ca c mt x s, c mt dân tộc. Đó là một x
s đẹp tươi thơ mộng. Mt dân tc hiền lành yên bình như vy phi
gánh chu bao tai ha ca các thế lc bo tàn. Phải chăng, vì lẽ đó mà thi phẩm
này có mt v trí đặc biệt trong thơ ca lãng mạn. Nếu Nh rng ca Thế L
63 Và cũng xuất phát từ tình cảm ấy, thơ Lưu Trọng Lư còn là biểu hiện của một tấm lòng gắn bó với đất nước, gắn bó với dân tộc. Lưu Trọng Lư mải miết say mê nghệ thuật, đến mức lúc nào cũng như người trong mộng và có lúc đã buông thả, đắm chìm trong những thú vui. Nhưng sống trong cảnh đất nước đau thương, tới phương nào nhà thơ cũng chỉ gặp nỗi đau khổ của con người, chưa bao giờ nhà thơ quên thân phận nô lệ của mình. Khi nói về xuất xứ bài thơ Tiếng thu, Lưu Trọng Lư tâm sự: “ Khi cha tôi không làm “ quan” nữa vể ở quê nhà, trong phòng ông có một bức tranh vẽ con nai rất đẹp. Thời thế lúc này thật nhiễu nhương. Nhân dân thì đói khổ. Chúng bắt phu, bắt lính. Ôi con nai vàng hiền lành trong tranh của cha tôi, hàng ngày hiện ra trước mắt tôi mà sao đáng thương làm vậy! Bài Tiếng thu ra đời nói lên cái buồn của đất nước. Cái ngơ ngác của con nai chính là vẻ hiền lành xứ sở… Do đó mà có hình bóng của kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ. Và cái hình ảnh con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô đâu phải là hình ảnh không có ẩn ý. Nó là sự hứa hẹn, là một sự báo hiệu điều gì đó sẽ xảy ra” [18.249] Đọc Tiếng thu, người đọc cảm được hồn thu xứ sở quay về hiền hậu, chất phác của chú nai vàng. Đó là nỗi lòng kín đáo của một hồn thơ có trách nhiệm, nhưng hồn thơ đó còn mơ màng, ngơ ngác, chờ đợi một người bạn đường tốt để cùng đi tới một vùng trờii thanh bình, hạnh phúc. Tiếng thu còn là tiếng vang vọng của nỗi cô đơn, bơ vơ của con người một thời không phương hướng trong cảnh nước mất, nhà tan. Vì thế mà, hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” không chỉ là biểu hiện tập trung hồn thơ của Lưu Trọng Lư mà còn là biểu tượng của cả một xứ sở, cả một dân tộc. Đó là Lưu Trọng Lư mà còn là biểu tượng của cả một xứ sở, cả một dân tộc. Đó là một xứ sở đẹp tươi và thơ mộng. Một dân tộc hiền lành và yên bình như vậy mà phải gánh chịu bao tai họa của các thế lực bạo tàn. Phải chăng, vì lẽ đó mà thi phẩm này có một vị trí đặc biệt trong thơ ca lãng mạn. Nếu Nhớ rừng của Thế Lữ là
64
lòng nh ớc thương quê mang hào khí ca mt tráng lâm vào cnh bt
lực trước thc ti, mt mãnh h l ra phi ng tr chn rừng xanh nhưng lại b
giam cầm trong cũi sắt thì Tiếng thu tiếng bun mênh mông hơn, bao la hơn,
sâu lắng hơn về một đất nước đẹp tươi, con người nhân hu, hồn nhiên mà chưa
biết làm thế nào để gi đưc v đẹp đó.
Cm xúc trong Tiếng thu mang du n sâu sc của con người mộng, đa
tình Lưu Trọng Lư :
Em không nghe rng thu
Lá thu kêu xào xc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”.
( Tiếng thu )
Cùng vi nó là ni thn thc ca to vt, ni ro rc của lòng người đã cộng
ng thành ni xôn xao mênh mang đang rung trong lòng trời đất. Và như thế
Lưu Trọng Lư đã thâu tóm được cái “xôn xao” ca c mt thời đại thơ thm kín.
Trng thái tinh thần đó, người ta ch có th nghe được bng chính tâm hn mình.
Giữa đêm thu vàng, thi đã lắng nghe, đã cảm nhn những xao động của đất
trời được tu lên t lòng người và vn vật. Nhà thơ như nghe được tiếng di ca
chính hn mình gia tri đất mênh mang. T đó điệp khúc Em không
nghe?...”, vang lên như một li mi gi s s chia của cái tôi thi sĩ. Nó trở thành
một cung đàn da diết ám nh hồn người. Nếu thiếu đi sự tinh tế, sâu lng và mt
cm quan nhạy bén, thi sĩ sẽ không bao gi nm bắt được thanh âm huyn diu
y .
Vi kh năng diễn t mt cách tinh vi nhng cảm xúc mơ màng, bàng bc
lan thm vào ngõ ngách tâm hồn, nhà thơ đã cảm nhận được ni bun lan ta
mênh mông theo dòng gian thi gian. Nhng cảm xúc mơ màng đó vừa lan ta,
64 lòng nhớ nước thương quê và mang hào khí của một tráng sĩ lâm vào cảnh bất lực trước thực tại, một mãnh hổ lẽ ra phải ngự trị chốn rừng xanh nhưng lại bị giam cầm trong cũi sắt thì Tiếng thu là tiếng buồn mênh mông hơn, bao la hơn, sâu lắng hơn về một đất nước đẹp tươi, con người nhân hậu, hồn nhiên mà chưa biết làm thế nào để giữ được vẻ đẹp đó. Cảm xúc trong Tiếng thu mang dấu ấn sâu sắc của con người mơ mộng, đa tình Lưu Trọng Lư : “Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”. ( Tiếng thu ) Cùng với nó là nỗi thổn thức của tạo vật, nỗi rạo rực của lòng người đã cộng hưởng thành nỗi xôn xao mênh mang đang rung trong lòng trời đất. Và như thế Lưu Trọng Lư đã thâu tóm được cái “xôn xao” của cả một thời đại thơ thầm kín. Trạng thái tinh thần đó, người ta chỉ có thể nghe được bằng chính tâm hồn mình. Giữa đêm thu vàng, thi sĩ đã lắng nghe, đã cảm nhận những xao động của đất trời được tấu lên từ lòng người và vạn vật. Nhà thơ như nghe được tiếng dội của chính hồn mình giữa trời đất mênh mang. Từ đó điệp khúc “Em không nghe?...”, vang lên như một lời mời gọi sự sẻ chia của cái tôi thi sĩ. Nó trở thành một cung đàn da diết ám ảnh hồn người. Nếu thiếu đi sự tinh tế, sâu lắng và một cảm quan nhạy bén, thi sĩ sẽ không bao giờ nắm bắt được thanh âm huyền diệu ấy . Với khả năng diễn tả một cách tinh vi những cảm xúc mơ màng, bàng bạc lan thấm vào ngõ ngách tâm hồn, nhà thơ đã cảm nhận được nỗi buồn lan tỏa mênh mông theo dòng gian thời gian. Những cảm xúc mơ màng đó vừa lan tỏa,
65
vừa ngưng đọng trong thế gii mng o ca Tiếng thu: “Nó gieo nhè nhẹ, chìm
chìm trong tâm hn ta những lúc thê lương hay bun du. Nó âm thm và n non
khi mới đến cõi lòng ta, vang vang rồi mơn man đến muôn vt, mà gây lên mt
cảnh đìu hiu lặng l, nó là nhng tiếng trong suốt ngân nga như tiếng sếu lưng
tri sắp vào đông” và “tuy nó phát khới t mùa thu, nhưng nó đã vang bên tai
loài người t muôn đời”. [34.673]
Lưu Trọng Lư đã nắm bắt được s sống đầy bí ẩn, đy xôn xao trong lòng
thiên nhiên, trong lòng to vt vi nhng biến thái tinh vi, mt thế gii vừa mơ
h, va hin hiện, đó thế gii ca s huyn diệu. Đó tiếng thn thc, ro
rc của đất trời lòng người, tiếng xào xc cu lá, tiếng ngân dài ca ánh
trăng, tiếng đạp chân trên lá khô của chú nai vàng ngơ ngác…Tất cs cng
âm, đồng vng ca hồn người thi sĩ vi nhng trng thái huyn h, n ca
lòng người. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là sự cộng hưởng hài hòa, xuyên thm,
hòa nhp vào vi nhau gia âm thanh của lòng người âm thanh ca to hóa.
Và c nhng xôn xao tận đáy sâu tâm hn thi nhân. T xưa đến nay, có l Lưu
Trọng người đầu tiên cũng là người duy nhất nghe được tiếng” ca
trăng mờ”;
Em không nghe mùa thu
“Dưới trăng mờ thn thức”.
( Tiếng thu )
Chính s thn thức” của “ánh trăng” ấy đã to nên một không gian
o huyn diu bao ph khắp đất tri mùa thu. Không ch dng li đó, thi nhân
còn thy s ro rc” của “hình nh k chinh phu” trong “lòng người cô phụ” .
Vi trng thái tinh thần đó, người ta ch th nghe bng chính tâm hn mình,
phi lắng nghe đời bng c thính giác tâm giác mi thấy được t thân cuc
sống đang vận động thế nào .
65 vừa ngưng đọng trong thế giới mộng ảo của Tiếng thu: “Nó gieo nhè nhẹ, chìm chìm trong tâm hồn ta những lúc thê lương hay buồn dịu. Nó âm thầm và nỉ non khi mới đến cõi lòng ta, vang vang rồi mơn man đến muôn vật, mà gây lên một cảnh đìu hiu lặng lẽ, nó là những tiếng trong suốt ngân nga như tiếng sếu lưng trời sắp vào đông” và “tuy nó phát khới tự mùa thu, nhưng nó đã vang bên tai loài người từ muôn đời”. [34.673] Lưu Trọng Lư đã nắm bắt được sự sống đầy bí ẩn, đầy xôn xao trong lòng thiên nhiên, trong lòng tạo vật với những biến thái tinh vi, một thế giời vừa mơ hồ, vừa hiển hiện, đó là thế giới của sự huyền diệu. Đó là tiếng thổn thức, rạo rực của đất trời và lòng người, tiếng xào xạc cảu lá, tiếng ngân dài của ánh trăng, tiếng đạp chân trên lá khô của chú nai vàng ngơ ngác…Tất cả là sự cộng âm, đồng vọng của hồn người thi sĩ với những trạng thái huyền hồ, bí ẩn của lòng người. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là sự cộng hưởng hài hòa, xuyên thấm, hòa nhập vào với nhau giữa âm thanh của lòng người và âm thanh của tạo hóa. Và cả những xôn xao tận đáy sâu tâm hồn thi nhân. Từ xưa đến nay, có lẽ Lưu Trọng Lư là người đầu tiên và cũng là người duy nhất nghe được “tiếng” của “trăng mờ”; Em không nghe mùa thu “Dưới trăng mờ thổn thức”. ( Tiếng thu ) Chính sự “thổn thức” của “ánh trăng” ấy đã tạo nên một không gian hư ảo huyền diệu bao phủ khắp đất trời mùa thu. Không chỉ dừng lại ở đó, thi nhân còn thấy sự “rạo rực” của “hình ảnh kẻ chinh phu” trong “lòng người cô phụ” . Với trạng thái tinh thần đó, người ta chỉ có thể nghe bằng chính tâm hồn mình, phải lắng nghe đời bằng cả thính giác và tâm giác mới thấy được tự thân cuộc sống đang vận động thế nào .
66
Tiếng lá thu kêu xào xạc” gi âm thanh trm huyn bí ca rng già.
Ch vi mt tín hiu duy nhất “xào xạc” âm thanh ca rng thc s đã
s gi của vương quốc thu huyn bí, phát ngôn chính thc hàm súc ca
tiếng thu” [18.29]
Tóm lại trong Thơ mới, Tiếng thu đã tạo dng mt thế gii ngh thut
riêng, in đậm du n ca hồn thơ và phong cách của Lưu Trọng Lư. Màu sắc,
đưng nét ca khung cảnh thiên nhiên cho đến con người trong Tiếng thu đều
khá hồ, không xác định trong không gian thi gian hin thc, mà bàng
bạc trong màn sương mờ o ca mộng tưởng, ca k nim.
Qua đó chúng ta thấy rng Tiếng thu của Lưu Trọng tuy chịu nh
ng của thơ ca lãng mạn Pháp, nhưng vẫn mang dáng dp của thơ ca truyền
thng. Tiếng thu chính nim khát khao mt chân tri mi, t do, phóng
khoáng, rng m với ước mun thoát khi hoàn cnh gò bó, túng ca xã hi
Vit Nam đương thời. Tiếng thu không ch tiếng lòng ca bạn đọc mt thi
mà nó s sng mãi trong tâm hm bao thế h bng những rung động tinh tế
mơ màng đầy chất thơ. Cùng với nhng tên tuổi như Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Nguyễn Bính.. và các thi sĩ tài hoa khác, tên tuổi Lưu Trọng Lư đã đi vào lịch s
thơ ca Việt nam và Tiếng thu ca ông mãi là tiếng gi ca mùa thu, tiếng vng
ca hn thu.
2.3. Mùa thu trong thơ Quách Tấn
Thi Quách Tấn (1910 1992 ) hiệu Trường Xuyên, sinh ti huyn Bình
Khê, tnh Bình Định. Ông là người đại din cui cùng của trường phái thơ cổ
đin Vit Nam. Mặc dù Bình Định là nơi chôn nhau, cắt rn, nhưng chính Nha
Trang, miền đất thùy dương cát trắng, mới là nơi cưu mang thi hơn nửa cuc
đời .
Quách Tn mt ngh đặc bit nhất trong các thi Việt Nam v li
gi t thiên nhiên. Đồng thời thơ của ông s kết hp gia cái gin d hn
66 Tiếng lá thu kêu “xào xạc” gợi âm thanh trầm và huyền bí của rừng già. “Chỉ với một tín hiệu duy nhất là “xào xạc” âm thanh của rừng thực sự đã là sứ giả của vương quốc thu huyền bí, là phát ngôn chính thức và hàm súc của tiếng thu” [18.29] Tóm lại trong Thơ mới, Tiếng thu đã tạo dựng một thế giới nghệ thuật riêng, in đậm dấu ấn của hồn thơ và phong cách của Lưu Trọng Lư. Màu sắc, đường nét của khung cảnh thiên nhiên cho đến con người trong Tiếng thu đều khá mơ hồ, không xác định trong không gian và thời gian hiện thực, mà bàng bạc trong màn sương mờ ảo của mộng tưởng, của kỉ niệm. Qua đó chúng ta thấy rằng Tiếng thu của Lưu Trọng Lư tuy chịu ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn Pháp, nhưng vẫn mang dáng dấp của thơ ca truyền thống. Tiếng thu chính là niềm khát khao một chân trời mới, tự do, phóng khoáng, rộng mở với ước muốn thoát khỏi hoàn cảnh gò bó, tù túng của xã hội Việt Nam đương thời. Tiếng thu không chỉ là tiếng lòng của bạn đọc một thời mà nó sẽ sống mãi trong tâm hồm bao thế hệ bằng những rung động tinh tế và mơ màng đầy chất thơ. Cùng với những tên tuổi như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính.. và các thi sĩ tài hoa khác, tên tuổi Lưu Trọng Lư đã đi vào lịch sử thơ ca Việt nam và Tiếng thu của ông mãi là tiếng gọi của mùa thu, tiếng vọng của hồn thu. 2.3. Mùa thu trong thơ Quách Tấn Thi sĩ Quách Tấn (1910 – 1992 ) hiệu Trường Xuyên, sinh tại huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Ông là người đại diện cuối cùng của trường phái thơ cổ điển Việt Nam. Mặc dù Bình Định là nơi chôn nhau, cắt rốn, nhưng chính Nha Trang, miền đất thùy dương cát trắng, mới là nơi cưu mang thi sĩ hơn nửa cuộc đời . Quách Tấn là một nghệ sĩ đặc biệt nhất trong các thi sĩ Việt Nam về lối gợi tả thiên nhiên. Đồng thời thơ của ông là sự kết hợp giữa cái giản dị hồn
67
nhiên ca ca dao Vit Nam nhng rung cm thiết tha ca Thơ mới. thơ
Quách Tn là s hòa hp trn vn giữa thơ cũ và thơ mới. Ngun cm hng ca
thi Quách Tấn rt quen thuộc, đó tm lòng ca ông vi thiên nhiên. Tm
lòng y là tình và cnh bên trong hòa hp vi nhng phn ánh qua cnh sc bên
ngoài. Ông dành cho mùa thu mt th tình cm rất đặc bit, ông có tới hơn một
trăm bài thơ viết v mùa thu. Mỗi bài thơ thể hin mt dáng v, một tâm tình đối
vi từng người, tng cnh vật cũng như đối với non sông, đất nước. Mùa thu
mùa gi bao ni nh và hoài niệm thân thương, luyến tiếc.....
Đến vi Quách Tấn, chúng ta đến vi nhng cm xúc mi, nhng ý l,
nng nàn cm xúc khiến người đọc phải rung động, bi hi theo nỗi lòng cô đơn
ca tác gi. Quách Tấn , người đã đem cả tài năng và tâm hn của mình để viết
lên nhng tác phẩm tràn đầy tình yêu thiên nhiên tha thiết và nhng ni niềm ưu
tư về mt thời đại. Với trái tim tràn đầy xúc cm của thi nhân, chúng ta đã bắt
gp rt nhiu t thu trong các bài thơ : hồn thu, lòng thu, tâm thu, mưa thu,
hương tàn thu, đêm thu, hồ thu, b thu, sông thu, mây thu, hoa thu, bến thu….
Trong nhng tập thơ đã xut bn, tp Mùa c đin chính là đỉnh cao ngh
thut ca ông. Mùa c đin, mỗi bài thơ đều cht chứa ưu tư, n du mt ni
buồn sâu xa. Đặc bit tập thơ, thiên nhiên, cảnh vt tâm trạng con người
đưc th hin rõ trong không gian mùa thu. Đêm thu nghe qu kêu đưc in trong
tp Mùa c đin, bài thơ đã được dịch và đăng ở thi đàn Pari ( Pháp), bài thơ này
Quách Tấn đã dùng rất nhiều điển tích, điển cố: Ô y hng, bến Phong Kiu,
sông Xích Bích”…
Trong đêm thu, màu đen của bóng qu lẫn vào bóng đêm, ch còn li tiếng
kêu rộn ràng trôi theo dòng liên tưởng, hết điển này đến điển khác nối nhau đưa
thi vào sâu trong cõi mộng. Vậy đâu là mộng, đâu là thực? Đó là tiếng qu
kêu trong đêm mùa thu tĩnh lặng, vi âm thanh vang vng ngân xa. Những điển
c, điển tích được dùng trong bài thơ Đêm thu nghe quạ kêu không ch dng li
67 nhiên của ca dao Việt Nam và những rung cảm thiết tha của Thơ mới. Ở thơ Quách Tấn là sự hòa hợp trọn vẹn giữa thơ cũ và thơ mới. Nguồn cảm hứng của thi sĩ Quách Tấn rất quen thuộc, đó là tấm lòng của ông với thiên nhiên. Tấm lòng ấy là tình và cảnh bên trong hòa hợp với những phản ánh qua cảnh sắc bên ngoài. Ông dành cho mùa thu một thứ tình cảm rất đặc biệt, ông có tới hơn một trăm bài thơ viết về mùa thu. Mỗi bài thơ thể hiện một dáng vẻ, một tâm tình đối với từng người, từng cảnh vật cũng như đối với non sông, đất nước. Mùa thu là mùa gợi bao nỗi nhớ và hoài niệm thân thương, luyến tiếc..... Đến với Quách Tấn, chúng ta đến với những cảm xúc mới, những ý lạ, nồng nàn cảm xúc khiến người đọc phải rung động, bồi hồi theo nỗi lòng cô đơn của tác giả. Quách Tấn , người đã đem cả tài năng và tâm hồn của mình để viết lên những tác phẩm tràn đầy tình yêu thiên nhiên tha thiết và những nỗi niềm ưu tư về một thời đại. Với trái tim tràn đầy xúc cảm của thi nhân, chúng ta đã bắt gặp rất nhiều từ thu trong các bài thơ : hồn thu, lòng thu, tâm thu, mưa thu, hương tàn thu, đêm thu, hồ thu, bờ thu, sông thu, mây thu, hoa thu, bến thu…. Trong những tập thơ đã xuất bản, tập Mùa cổ điển chính là đỉnh cao nghệ thuật của ông. Ở Mùa cổ điển, mỗi bài thơ đều chất chứa ưu tư, ẩn dấu một nỗi buồn sâu xa. Đặc biệt ở tập thơ, thiên nhiên, cảnh vật và tâm trạng con người được thể hiện rõ trong không gian mùa thu. Đêm thu nghe quạ kêu được in trong tập Mùa cổ điển, bài thơ đã được dịch và đăng ở thi đàn Pari ( Pháp), bài thơ này Quách Tấn đã dùng rất nhiều điển tích, điển cố: “Ô y hạng, bến Phong Kiều, sông Xích Bích”… Trong đêm thu, màu đen của bóng quạ lẫn vào bóng đêm, chỉ còn lại tiếng kêu rộn ràng trôi theo dòng liên tưởng, hết điển này đến điển khác nối nhau đưa thi sĩ vào sâu trong cõi mộng. Vậy đâu là mộng, đâu là thực? Đó là tiếng quạ kêu trong đêm mùa thu tĩnh lặng, với âm thanh vang vọng ngân xa. Những điển cố, điển tích được dùng trong bài thơ Đêm thu nghe quạ kêu không chỉ dừng lại
68
mt bến b s tích, s c nào mà trôi theo dòng liên tưởng, cm xúc, cm giác
của dòng sông tâm linh. Hình tượng thơ đi từ không gian đêm đen quạ đen
lẫn vào đêm thâu :
T Ô y hng r rê sang
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng”.
( Đêm thu nghe quạ kêu )
Đến không gian m o :
Tri bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng”.
( Đêm thu nghe quạ kêu )
Đồng thời, câu thơ còn là ảo, độc đáo của bút pháp thi sĩ Quách Tấn trong
việc dùng điển tích theo mạch cảm xúc. Điều đặc bit đây cách dùng
đin tích của thi sĩ Quách Tấn khác vi c thi. Đặc điểm của nó là ít mượn nghĩa
của điển, ít hướng v nghĩa của tích, mà nhà thơ dùng điển ch để gi cm giác
liên tưởng, tác dng to phong v c đin, song không h c vn
mi và sinh động. Nếu như bao trùm bài Đêm thu nghe quạ kêu bóng qu
tiếng kêu ca qu trong cnh sc ca mùa thu thì trong Cnh thu chính là tiếng
lòng của người chinh phu. Đó tiếng thơ, tiếng lòng cm thông cho tình cm
của người lại cũng như tâm tình ngưi chinh ph nương rèm liễu đợi ch,
đành nuốt l để khi bận lòng người ra đi :
Gy úa rừng sương đeo giọt su
Đây lòng ta đó một tri thu
Gió vàng ct sóng sông chau mt
Mây trng vn cây núi bạc đầu
Dìu dt tiếng ve còn vẳng đấy
68 ở một bến bờ sự tích, sự cố nào mà trôi theo dòng liên tưởng, cảm xúc, cảm giác của dòng sông tâm linh. Hình tượng thơ đi từ không gian đêm đen có quạ đen lẫn vào đêm thâu : “Từ Ô y hạng rủ rê sang Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng”. ( Đêm thu nghe quạ kêu ) Đến không gian mờ ảo : “Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng”. ( Đêm thu nghe quạ kêu ) Đồng thời, câu thơ còn là ảo, độc đáo của bút pháp thi sĩ Quách Tấn trong việc dùng điển tích cũ theo mạch cảm xúc. Điều đặc biệt ở đây là cách dùng điển tích của thi sĩ Quách Tấn khác với cổ thi. Đặc điểm của nó là ít mượn nghĩa của điển, ít hướng về nghĩa của tích, mà nhà thơ dùng điển chỉ để gợi cảm giác và liên tưởng, có tác dụng tạo phong vị cổ điển, song không hề cổ mà nó vẫn mới và sinh động. Nếu như bao trùm bài Đêm thu nghe quạ kêu là bóng quạ và tiếng kêu của quạ trong cảnh sắc của mùa thu thì trong Cảnh thu chính là tiếng lòng của người chinh phu. Đó là tiếng thơ, tiếng lòng cảm thông cho tình cảm của người ở lại cũng như tâm tình người chinh phụ nương rèm liễu đợi chờ, đành nuốt lệ để khỏi bận lòng người ra đi : “Gầy úa rừng sương đeo giọt sầu Đây lòng ta đó một trời thu Gió vàng cợt sóng sông chau mặt Mây trắng vờn cây núi bạc đầu Dìu dặt tiếng ve còn vẳng đấy
69
Vi vàng cánh nhạn rũ về đâu?
Hỡi người chinh ph nương rèm liễu
Sùi st chi thêm bận vó câu”.
( Cm thu Mùa c đin )
Bài thơ còn cho chúng ta thấy hoàn cnh bế tc ca tác gi, sng trong
hi thc dân phong kiến, thi nhân muốn vươn mình để tìm mt chân tri mi.
Thu chính là nơi ký thác sự bế tc ca tâm hồn người thi sĩ.
Vi tm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, vi s cm nhn hết sc tinh tế, thi
nhân đang lắng nghe từng bước đi của to vật. Thu đang về trên hiên đy hoa lài
và bông p:
“Hiên thu tỉnh gic canh tàn
Lài sân n trắng mướp giàn bông xanh
Hiu hiu gió nhng buông mành
Thương người du t nng tình c hương.”
(Tnh gic - Giàn hoa lý)
Mùa thu v đã đánh thức c không gian, đánh thức nhng n hoa lài bung
n trng xóa. Tt c đều bt cht tnh gic khi những cơn gió của mùa thu tràn
v. Cùng vi s cm nhn ca thiên nhiên, thi nhân còn có s cm nhn sâu sc
v tình người, thi nhân thương người du t đang tri lòng mình vi c hương.
ới đôi mt tinh tế ca thi nhân, trong không gian mùa thu, cnh vt
hiện lên đẹp như trong mơ, bao trùm lên không gian ấy là bông hoa thu n trng
bờ. Dường như cảnh vật nơi đây thật lung linh, huyn o:
Ao mung hoa thu n trng b
Lay màn sương sớm bướm lơ thơ
69 Vội vàng cánh nhạn rũ về đâu? Hỡi người chinh phụ nương rèm liễu Sùi sụt chi thêm bận vó câu”. ( Cảm thu – Mùa cổ điển ) Bài thơ còn cho chúng ta thấy hoàn cảnh bế tắc của tác giả, sống trong xã hội thực dân phong kiến, thi nhân muốn vươn mình để tìm một chân trời mới. Thu chính là nơi ký thác sự bế tắc của tâm hồn người thi sĩ. Với tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, với sự cảm nhận hết sức tinh tế, thi nhân đang lắng nghe từng bước đi của tạo vật. Thu đang về trên hiên đầy hoa lài và bông mướp: “Hiên thu tỉnh giấc canh tàn Lài sân nở trắng mướp giàn bông xanh Hiu hiu gió những buông mành Thương người du tử nặng tình cố hương.” (Tỉnh giấc - Giàn hoa lý) Mùa thu về đã đánh thức cả không gian, đánh thức những nụ hoa lài bung nở trắng xóa. Tất cả đều bất chợt tỉnh giấc khi những cơn gió của mùa thu tràn về. Cùng với sự cảm nhận của thiên nhiên, thi nhân còn có sự cảm nhận sâu sắc về tình người, thi nhân thương người du tử đang trải lòng mình với cố hương. Dưới đôi mắt tinh tế của thi nhân, trong không gian mùa thu, cảnh vật hiện lên đẹp như trong mơ, bao trùm lên không gian ấy là bông hoa thu nở trắng bờ. Dường như cảnh vật nơi đây thật lung linh, huyền ảo: “Ao muống hoa thu nở trắng bờ Lay màn sương sớm bướm lơ thơ