Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế: Quản trị đại học tại các trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

3,697
678
85
62
hi nhp quc tế; tạo điều kin thun lợi cho các nhà đầu tư, các cơ sở giáo dục đại
hc có uy tín trên thế gii thành lập trường đại học tư thục, liên doanh, liên kết đào
to với các cơ sở giáo dc Vit Nam.
Th năm, hoàn thin pháp lut GDĐH pháp lut v qun tr đại hc trong
trường đại học thục phi gii quyết được nhu cu nâng cao hiu qu qun tr
trường đại học tư thục và góp phn ngăn ngừa các bt n, tranh chp trong qun tr
trường đại học tư thc Vit Nam hin nay. Đẩy mnh t ch đại hc ni dung
quan trng và là mc tiêu chính ca Lut GDĐH. Cùng vi vic giao quyn t ch
cho sở giáo dục đại hc thì trách nhim quản nhà nước nhiều thay đổi,
chuyn t qun lý sang tạo hành lang pháp lý, giám sát. Do đó, vic cng c vai trò,
v thế và quyn lc ca thiết chế hội đồng trường trong trường đại hc là cn thiết.
Lut GDĐH đã bổ sung quy định chuyn mt s thm quyền trước đây do quan
quản nhà nước hiệu trưởng quyết định sang chế hội đồng trường quyết
định; chuyn t chế độ th trưng sang chế độ quyết ngh ca tp th. Theo đó, thực
hin quyn t ch thuc v hội đồng trường; hiệu trưởng thc hin nhim v điu
hành, quản nhà trường theo quy định. Điều này phù hp vi xu thế chung ca
giáo dc đi hc trên thế gii.
3.3. Gii pháp hoàn thin pháp lut v qun tr đại hc trong trường đại
học tư thục theo mô hình công ty c phn Vit Nam
Trong bi cnh tài chính - ngân sách Vit Nam hin nay, PGS.TS. Nguyn
Văn Vân nhận định vic tha nhn tính chính danh hoạt động giáo dc là mt dng
ca dch v trường đại hc thục là mt t chc kinh tế cung cp dch v giáo
dc là xu thế tt yếu. Ch khi tha nhận đúng bản cht ca hoạt động thì mới có cơ
chế bảo đảm bo h thành qu đầu của nhà đầu tư. Mỗi hình s hu
trưng đại hc thục đều có những ưu việt và khiếm khuyết nhất định. Tương ng
vi các hình s hữu trường của nhà đầu trường thục cn phi các quy
định pháp lut phù hợp để phát huy hết các ưu việt của mô hình đó, bảo h quyn s
hu, quyn và li ích hp pháp ca các nhà đầu tư trường đại hc tư thục [27, tr.1].
62 hội nhập quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, các cơ sở giáo dục đại học có uy tín trên thế giới thành lập trường đại học tư thục, liên doanh, liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục Việt Nam. Thứ năm, hoàn thiện pháp luật GDĐH và pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục phải giải quyết được nhu cầu nâng cao hiệu quả quản trị trường đại học tư thục và góp phần ngăn ngừa các bất ổn, tranh chấp trong quản trị trường đại học tư thục ở Việt Nam hiện nay. Đẩy mạnh tự chủ đại học là nội dung quan trọng và là mục tiêu chính của Luật GDĐH. Cùng với việc giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học thì trách nhiệm quản lý nhà nước có nhiều thay đổi, chuyển từ quản lý sang tạo hành lang pháp lý, giám sát. Do đó, việc củng cố vai trò, vị thế và quyền lực của thiết chế hội đồng trường trong trường đại học là cần thiết. Luật GDĐH đã bổ sung quy định chuyển một số thẩm quyền trước đây do cơ quan quản lý nhà nước và hiệu trưởng quyết định sang cơ chế hội đồng trường quyết định; chuyển từ chế độ thủ trưởng sang chế độ quyết nghị của tập thể. Theo đó, thực hiện quyền tự chủ thuộc về hội đồng trường; hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ điều hành, quản lý nhà trường theo quy định. Điều này phù hợp với xu thế chung của giáo dục đại học trên thế giới. 3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam Trong bối cảnh tài chính - ngân sách Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Văn Vân nhận định việc thừa nhận tính chính danh hoạt động giáo dục là một dạng của dịch vụ và trường đại học tư thục là một tổ chức kinh tế cung cấp dịch vụ giáo dục là xu thế tất yếu. Chỉ khi thừa nhận đúng bản chất của hoạt động thì mới có cơ chế bảo đảm và bảo hộ thành quả đầu tư của nhà đầu tư. Mỗi mô hình sở hữu trường đại học tư thục đều có những ưu việt và khiếm khuyết nhất định. Tương ứng với các mô hình sở hữu trường của nhà đầu tư trường tư thục cần phải có các quy định pháp luật phù hợp để phát huy hết các ưu việt của mô hình đó, bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trường đại học tư thục [27, tr.1].
63
Ngưc li, giáo dục đại hc có phi là mt dch v và trường đại học tư thục
có phi doanh nghip cũng ghi nhận được nhiu ý kiến trái chiu. Tác gi Phm
Th Ly cho rng quan nim giáo dc là một lĩnh vực kinh doanh hin nay vẫn chưa
được chp nhn [26]. Quan nim chung trong vn đ kinh doanh giáo dc vn là cái
nhìn rt nng n ảnh hưởng đến người làm chính sách. Trong thời đại kinh tế tri
thc, giáo dục đại hc mt dch v quan niệm được chp nhn nhiều hơn trên
thế gii. Tác gi Phm Th Ly khẳng định “Thật ra, giáo dục đại hc là mt dch v,
cho nên v bn chất các trường đại học tư là doanh nghiệp là mt thc tế. Dù chúng
ta không nhìn nhận thì cũng là thực tế như vậy”. Lut Giáo dục đại hc ng
hướng đến việc quy định rõ mô hình và cơ chế tài chính của cơ sở Giáo dục đại hc
tư thc vn dng theo hình doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tính đặc thù ca
giáo dục đại hc tránh thương mại hoá. Theo đó, quy đnh trách nhim
quyn hn của nhà đầu tư thành lập cơ sở Giáo dục đại hc tư thục và mi liên quan
vi hội đồng trường đại hc tư thục; yêu cầu các cơ sở giáo dục đại hc tư thục phi
trích qu t chênh lệch thu chi để tái đầu tư cho hoạt đng giáo dc.
Pháp lut khung pháp quan trng vai trò quyết định cho s hình
thành phát trin của các trường đại học thục theo hình công ty c phn.
Pháp lut không hp thc tin s kìm hãm s phát trin và tn ti của các trường đại
học tư thục, bằng ngược li pháp lut s kích thích cho s phát trin ngày càng ln
mnh ca các trường đại học tư thục. Mt s gii pháp hoàn thin pháp lut v qun
tr đại hc và qun tr đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty c
phn Vit Nam như sau:
Th nht, hoàn chnh lại khung pháp lý trong đó có lut, ngh định, thông
phù hp vi tình hình thc tế của các trường đại học tư thục đang hoạt động và điều
hành theo mô hình công ty c phn. Khung pháp lý phi rõ ràng, cht ch, logic
đồng bộ… thì mới thu hút được các nhà đầu quan tâm đầu vào lĩnh vực giáo
dc mt cách quyết tâm hiu qu, góp phn cho h thng các trường đại học
thc phát trin ngang tm với các nước khu vc trên thế gii. B khung hin ti
đã có Luật Giáo dục đại hc 2018 và Ngh định 99 năm 2020, còn lại các thông
63 Ngược lại, giáo dục đại học có phải là một dịch vụ và trường đại học tư thục có phải là doanh nghiệp cũng ghi nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Tác giả Phạm Thị Ly cho rằng quan niệm giáo dục là một lĩnh vực kinh doanh hiện nay vẫn chưa được chấp nhận [26]. Quan niệm chung trong vấn đề kinh doanh giáo dục vẫn là cái nhìn rất nặng nề và ảnh hưởng đến người làm chính sách. Trong thời đại kinh tế tri thức, giáo dục đại học là một dịch vụ là quan niệm được chấp nhận nhiều hơn trên thế giới. Tác giả Phạm Thị Ly khẳng định “Thật ra, giáo dục đại học là một dịch vụ, cho nên về bản chất các trường đại học tư là doanh nghiệp là một thực tế. Dù chúng ta không nhìn nhận thì nó cũng là thực tế như vậy”. Luật Giáo dục đại học cũng hướng đến việc quy định rõ mô hình và cơ chế tài chính của cơ sở Giáo dục đại học tư thục vận dụng theo mô hình doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tính đặc thù của giáo dục đại học và tránh thương mại hoá. Theo đó, quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của nhà đầu tư thành lập cơ sở Giáo dục đại học tư thục và mối liên quan với hội đồng trường đại học tư thục; yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học tư thục phải trích quỹ từ chênh lệch thu chi để tái đầu tư cho hoạt động giáo dục. Pháp luật là khung pháp lý quan trọng có vai trò quyết định cho sự hình thành và phát triển của các trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần. Pháp luật không hợp thực tiễn sẽ kìm hãm sự phát triển và tồn tại của các trường đại học tư thục, bằng ngược lại pháp luật sẽ kích thích cho sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các trường đại học tư thục. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học và quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam như sau: Thứ nhất, hoàn chỉnh lại khung pháp lý trong đó có luật, nghị định, thông tư phù hợp với tình hình thực tế của các trường đại học tư thục đang hoạt động và điều hành theo mô hình công ty cổ phần. Khung pháp lý phải rõ ràng, chặt chẽ, logic và đồng bộ… thì mới thu hút được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư vào lĩnh vực giáo dục một cách quyết tâm và hiệu quả, góp phần cho hệ thống các trường đại học tư thục phát triển ngang tầm với các nước khu vực và trên thế giới. Bộ khung hiện tại đã có Luật Giáo dục đại học 2018 và Nghị định 99 năm 2020, còn lại các thông tư
64
ca Bquyết định ca Th ng ban hành t trong giai đoạn Lut Giáo dục đại
hc 2012 hu hết đã không còn hiệu lc nên cn ban hành li. Mt trong những văn
bản đã hết hiu lc là quy chế t chc và hoạt động của trường đại học tư thục năm
2009. Tuy nhiên, vi tinh thn và l trình t ch đại hc đang được quán trit thc
hin thì có l không nên ban hành li quy chế này; nếu ban hành lại thì cũng chỉ
mt b khung rất khái quát để cha li khoảng không cho các trường được t ch,
bao gm t chn cho mình mt mô hình qun tr đại hc phù hp với đặc điểm đu
tư, sứ mnh và tm nhìn ca nhà trưng.
Th hai, v hình qun tr đại học trong các trường đại học thục nói
chung, Lut Giáo dục đại hc 2018 dù mi hiu lực chưa lâu cũng đã bộc l nhng
điểm bt cp cn nghiên cu sửa đổi. Đim hn chế ca Lut Giáo dục đại hc 2012
trước đây là tinh thần “công ty cổ phần” bao trùm như một mô hình duy nht qun
tr trường đại học thục, cho thc tiễn đầu sống động đòi hỏi phải đa dạng
hình hơn cho nhà đầu lựa chn. Hin nay, Lut Giáo dục đại hc 2018 thì
ngược li, thc tin rt nhiều trường đại học thục đã đầu tư và đang quản
tr theo hình công ty c phn mt cách thc cht, t đại hội đồng c đông cho
đến hội đồng qun tr, t c phần cho đến c tc, vy Lut Giáo dục đại hc
2018 lại quy định rằng “quy chế t chc hoạt động của sở giáo dục đại hc
phải quy định c th về… việc la chn áp dụng quy định ca pháp lut liên quan
v công ty trách nhim hu hạn … để gii quyết nhng vấn đề trong cơ sở giáo dc
đại hc mà Lut Giáo dục đại học chưa quy định”. Đây là một quy định bt hp
theo cách đối lp so vi Lut Giáo dục đại hc 2012. Lut cn phù hp vi thc tin
vic đầu tư và quản tr trường đại học tư thục đã, đang, và sẽ phải được quyn s
dng nhiu hình thc khác nhau phù hp vi mi d án đầu thành lập phát
triển trường đại học tư thục.
Th ba, v qun tr đại hc trong các trường đại học thc theo hình
công ty c phn nói riêng, kinh nghim áp dng tuyệt đối mô hình công ty c phn
t thi Lut Giáo dục đại hc 2012 đã để li nhiu bài hc qun tr đáng chú ý. H
trng nht vic c phn của trường đại học thục đã được qun tr rp khuôn
64 của Bộ và quyết định của Thủ tướng ban hành từ trong giai đoạn Luật Giáo dục đại học 2012 hầu hết đã không còn hiệu lực nên cần ban hành lại. Một trong những văn bản đã hết hiệu lực là quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục năm 2009. Tuy nhiên, với tinh thần và lộ trình tự chủ đại học đang được quán triệt thực hiện thì có lẽ không nên ban hành lại quy chế này; nếu ban hành lại thì cũng chỉ là một bộ khung rất khái quát để chừa lại khoảng không cho các trường được tự chủ, bao gồm tự chọn cho mình một mô hình quản trị đại học phù hợp với đặc điểm đầu tư, sứ mệnh và tầm nhìn của nhà trường. Thứ hai, về mô hình quản trị đại học trong các trường đại học tư thục nói chung, Luật Giáo dục đại học 2018 dù mới hiệu lực chưa lâu cũng đã bộc lộ những điểm bất cập cần nghiên cứu sửa đổi. Điểm hạn chế của Luật Giáo dục đại học 2012 trước đây là tinh thần “công ty cổ phần” bao trùm như một mô hình duy nhất quản trị trường đại học tư thục, dù cho thực tiễn đầu tư sống động đòi hỏi phải đa dạng mô hình hơn cho nhà đầu tư lựa chọn. Hiện nay, Luật Giáo dục đại học 2018 thì ngược lại, dù thực tiễn có rất nhiều trường đại học tư thục đã đầu tư và đang quản trị theo mô hình công ty cổ phần một cách thực chất, từ đại hội đồng cổ đông cho đến hội đồng quản trị, từ cổ phần cho đến cổ tức, vậy mà Luật Giáo dục đại học 2018 lại quy định rằng “quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học phải quy định cụ thể về… việc lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật liên quan về công ty trách nhiệm hữu hạn … để giải quyết những vấn đề trong cơ sở giáo dục đại học mà Luật Giáo dục đại học chưa quy định”. Đây là một quy định bất hợp lý theo cách đối lập so với Luật Giáo dục đại học 2012. Luật cần phù hợp với thực tiễn là việc đầu tư và quản trị trường đại học tư thục đã, đang, và sẽ phải được quyền sử dụng nhiều hình thức khác nhau phù hợp với mỗi dự án đầu tư thành lập và phát triển trường đại học tư thục. Thứ ba, về quản trị đại học trong các trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần nói riêng, kinh nghiệm áp dụng tuyệt đối mô hình công ty cổ phần từ thời Luật Giáo dục đại học 2012 đã để lại nhiều bài học quản trị đáng chú ý. Hệ trọng nhất là việc cổ phần của trường đại học tư thục đã được quản trị rập khuôn
65
theo lut doanh nghip v công ty c phần, qua đó cổ phần đưc mua bán t do gia
các c đông với nhau vi những nhà đầu tư mới, do đó làm cho thành phn ch
s hu của nhà trường thay đổi t do hoàn toàn ngoài tm kim soát ca nhà
trưng. H ly của thay đổi ch s hu mt cách chóng vánh d dàng như một
công ty c phn thc th là khiến cho qun tr tm cao của trường hoàn toàn mt n
định, và thc tế đã gây ra nhiều mâu thun qun tr nhiều trường như đã trình bày.
Tuy nhiên, thc ra Lut Giáo dục đại học 2012 cũng không có quy đnh nào bt
buộc trường đại học tư thục áp dng pháp lut v công ty c phần, cái được gi ý áp
dng đây chỉ dng li mức độ “mô hình”, còn từng chi tiết trong mô hình y
thì trường đại học tư thục hoàn toàn có quyn t điều chnh cho mình thông qua ban
hành quy chế t chc và hoạt động. Như vậy, mt mt Lut Giáo dc đi hc cn có
những quy định ràng buộc để hn chế chuyển nhượng c phn t do, c phn
trường đại học tư thục đương nhiên vẫn được phép chuyển nhượng nhưng phải gn
vi nhng ràng buộc để to ổn định, ví d như ràng buộc c phn phải được chào
bán trước cho chính nhà trường, cho các c đông khác của nhà trường, hay ưu tiên
cho cán b cơ hữu nhà trưng, phi thông báo công khai hoặc đăng ký chào báo tại
một quan quản nhà nước v giáo dục… tương tự như trong hình chuyển
nhượng vn ca công ty trách nhim hu hn hai thành viên tr lên. Mt khác,
không cn phi ch luật thay đổi, các trường đại học thục th t điều chnh
quy định v qun lý chuyển nhượng c phn thông qua ban hành quy chế t chc và
hot đng ca trưng.
Th , trước xu thế toàn cu hóa hin nay và biến đổi giáo dc hin nay, mô
hình trường đại học thục v li nhuận đã hình thành phát trin khẳng định v
thế quan trng của mình, đặc bit các nước Đông Á. Theo đó, nhà nước cũng
cn mnh dn tha nhn trong h thng giáo dc quc dân s tn ti của trường đại
học tư thc hoạt động vì li nhun, có quá trình t chc và hoạt động như là doanh
nghip, chng hạn như một công ty c phần đặc thù, nhm khẳng định địa v pháp
đa dạng hóa các loi hình giáo dc, góp phn phát trin h thng giáo dc
ngày càng vng mạnh. Đặc thù d thy nht là thành phn hội đồng trường. Trong
65 theo luật doanh nghiệp về công ty cổ phần, qua đó cổ phần được mua bán tự do giữa các cổ đông với nhau và với những nhà đầu tư mới, do đó làm cho thành phần chủ sở hữu của nhà trường thay đổi tự do và hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của nhà trường. Hệ lụy của thay đổi chủ sở hữu một cách chóng vánh và dễ dàng như một công ty cổ phần thực thụ là khiến cho quản trị tầm cao của trường hoàn toàn mất ổn định, và thực tế đã gây ra nhiều mâu thuẫn quản trị ở nhiều trường như đã trình bày. Tuy nhiên, thực ra Luật Giáo dục đại học 2012 cũng không có quy định nào bắt buộc trường đại học tư thục áp dụng pháp luật về công ty cổ phần, cái được gợi ý áp dụng ở đây chỉ dừng lại ở mức độ “mô hình”, còn từng chi tiết trong mô hình này thì trường đại học tư thục hoàn toàn có quyền tự điều chỉnh cho mình thông qua ban hành quy chế tổ chức và hoạt động. Như vậy, một mặt Luật Giáo dục đại học cần có những quy định ràng buộc để hạn chế chuyển nhượng cổ phần tự do, cổ phần trường đại học tư thục đương nhiên vẫn được phép chuyển nhượng nhưng phải gắn với những ràng buộc để tạo ổn định, ví dụ như ràng buộc cổ phần phải được chào bán trước cho chính nhà trường, cho các cổ đông khác của nhà trường, hay ưu tiên cho cán bộ cơ hữu nhà trường, phải thông báo công khai hoặc đăng ký chào báo tại một cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục… tương tự như trong mô hình chuyển nhượng vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Mặt khác, không cần phải chờ luật thay đổi, các trường đại học tư thục có thể tự điều chỉnh quy định về quản lý chuyển nhượng cổ phần thông qua ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường. Thứ tư, trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay và biến đổi giáo dục hiện nay, mô hình trường đại học tư thục vị lợi nhuận đã hình thành phát triển và khẳng định vị thế quan trọng của mình, đặc biệt là ở các nước Đông Á. Theo đó, nhà nước cũng cần mạnh dạn thừa nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân sự tồn tại của trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận, có quá trình tổ chức và hoạt động như là doanh nghiệp, chẳng hạn như một công ty cổ phần đặc thù, nhằm khẳng định địa vị pháp lý và đa dạng hóa các loại hình giáo dục, góp phần phát triển hệ thống giáo dục ngày càng vững mạnh. Đặc thù dễ thấy nhất là ở thành phần hội đồng trường. Trong
66
khi mục đích chính của s hin diện thành viên đc lp trong hội đồng qun tr công
ty c phần là để góp phn bo v c đông, đặc bit là c đông thiểu s, ca công ty
c phn khi những nguy cơ lạm quyn t đội ngũ điều hành. Ngược li, thành viên
t các bên liên quan ca hội đồng trường trong trường đại học tư thục không phi là
để góp phn bo v nhà đầu tư, trái lại là để bo v các bên liên quan (gm
ging viên, nhân viên, sinh viên thm chí cộng đồng giáo dc, hi nói
chung) khi nhng can thip thiếu tính giáo dc ca những nhà đầu tư; tương đồng
với thành viên người lao động tham gia vào hội đồng tng trên trong hình
qun tr công ty c phần điển hình theo cu trúc hai tng Đức. Như vậy, trong quá
trình hoàn thin pháp lut v qun tr đại hc qun tr đại học trong trường đại
học thục theo hình công ty c phn Vit Nam, th xem xét phi hp
nhng đặc điểm phù hp t hình công ty c phn theo pháp lut Vit Nam
mô hình qun tr công ty c phần điển hình theo cu trúc hai tng Đức.
Th năm, v địa v pháp ca hiệu trưởng trong qun tr trường đại học
thc theo mô hình công ty c phn Vit Nam, Lut giáo dc đi học 2018 đã có sự
điều chnh cho bám sát vi thc tin, hiệu trưởng trường đại học thục không
đương nhiên người đại din pháp lut của trường; thay o đó, người đại din
theo pháp lut của trường đại học tư thục thmột người khác nếu như có quy
định trong quy chế t chc hoạt động của trường đại học thục, d như
ch tch hội đồng trường. Tuy nhiên, thc tin không hn luôn luôn hp lý. Hiu
trưng một trường đi hc, dù là hiệu trưởng làm thuê, cũng giữ vai trò quan trng
rt khác với giám đốc làm thuê trong công ty TNHH hay công ty c phn. Vì vy,
hiệu trưởng trường đại hc không phải là đại din pháp luật đôi khi rất “hợp ý ca
ông chủ” trường đại học tư tục, nhưng không hẳn đã hợp cho s phát trin n
định của cơ sở giáo dc, cho s hiu qu trong qun lý công việc thường này. Chưa
kể, người ký bng tt nghiệp để “phân phối” hàng ngàn sinh viên vào thị trưng lao
động li không phải người đại din pháp lut của trường thì tính chính danh đã
không được đảm bảo. Do đó, đề xut sửa đổi Lut giáo dục đại hc 2018 theo
hướng hiệu trưởng vẫn người đại diên theo pháp lut mt cách đương nhiên,
66 khi mục đích chính của sự hiện diện thành viên độc lập trong hội đồng quản trị công ty cổ phần là để góp phần bảo vệ cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, của công ty cổ phần khỏi những nguy cơ lạm quyền từ đội ngũ điều hành. Ngược lại, thành viên từ các bên liên quan của hội đồng trường trong trường đại học tư thục không phải là để góp phần bảo vệ nhà đầu tư, mà trái lại là để bảo vệ các bên liên quan (gồm giảng viên, nhân viên, sinh viên và thậm chí là cộng đồng giáo dục, xã hội nói chung) khỏi những can thiệp thiếu tính giáo dục của những nhà đầu tư; tương đồng với thành viên người lao động tham gia vào hội đồng ở tầng trên trong mô hình quản trị công ty cổ phần điển hình theo cấu trúc hai tầng ở Đức. Như vậy, trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học và quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, có thể xem xét phối hợp những đặc điểm phù hợp từ mô hình công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và mô hình quản trị công ty cổ phần điển hình theo cấu trúc hai tầng ở Đức. Thứ năm, về địa vị pháp lý của hiệu trưởng trong quản trị trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, Luật giáo dục đại học 2018 đã có sự điều chỉnh cho bám sát với thực tiễn, hiệu trưởng trường đại học tư thục không đương nhiên là người đại diện pháp luật của trường; thay vào đó, người đại diện theo pháp luật của trường đại học tư thục có thể là một người khác nếu như có quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục, ví dụ như là chủ tịch hội đồng trường. Tuy nhiên, thực tiễn không hẳn luôn luôn hợp lý. Hiệu trưởng một trường đại học, dù là hiệu trưởng làm thuê, cũng giữ vai trò quan trọng rất khác với giám đốc làm thuê trong công ty TNHH hay công ty cổ phần. Vì vậy, hiệu trưởng trường đại học không phải là đại diện pháp luật đôi khi rất “hợp ý của ông chủ” trường đại học tư tục, nhưng không hẳn đã hợp lý cho sự phát triển ổn định của cơ sở giáo dục, cho sự hiệu quả trong quản lý công việc thường này. Chưa kể, người ký bằng tốt nghiệp để “phân phối” hàng ngàn sinh viên vào thị trường lao động lại không phải là người đại diện pháp luật của trường thì tính chính danh đã không được đảm bảo. Do đó, đề xuất sửa đổi Luật giáo dục đại học 2018 theo hướng hiệu trưởng vẫn là người đại diên theo pháp luật một cách đương nhiên,
67
nhưng trường đại học thục th quyết định thêm mt hoặc hai người đại din
pháp luật khác để giao cho Ch tch hội đồng trường. Điều y tham kho t quy
định mt công ty c phn theo Lut Doanh nghip 2014 th nhiều người đại
din theo pháp lut.
Th sáu, v mi quan h Hiệu trưởng Hội đồng trường trong các trường
đại học tư thc hiện nay, để Hiệu trưởng Hội đồng trường phát huy được đúng
thm quyn ca mình trong qun tr đại hc cấp độ t chc, cn có thêm nhng quy
định v chế độ báo cáo gii trình ca Hiệu trưởng vi Hi đồng trường. Vì hội đồng
trưng ti Việt Nam chưa thực s phát huy hiu qu, nên vic báo cáo gii trình ca
các Hiệu trưởng ti nhiều trường cũng chưa có thiết thc. Vic này dn tới khó đánh
giá được hiu qu làm vic ca các Hiệu trưởng. Pháp lut giáo dục đại hc cn có
cơ chế thuận tiên hơn để trường đại hc la chn hiệu trưởng xứng đáng và những
quy trình kh thi đ bãi nhiệm khi không còn được tín nhim.
Th by, nhà nước cn có chính sách c th để chia s với trường đại học
thc và v tài chính đất đai… đặc bit là vi trường đại học tư thục hoạt động
phi li nhun. Suy cho cùng, một trường đại học thục, dù li nhun hay
không vì li nhun, thì bn cht vn là mt giáo dc không th ging, không phi là
một sở kinh doanh thun y, không th v lợi hoàn toàn như một doanh
nghip. Vì vy, nhng khon tín dụng ưu đãi và chính sách đất đai riêng biệt là hp
lý và cn thiết. Rt tiếc, thc tế Nhà nước chưa có một khon nào như thế cho các
trường đại học tư thục, nên các trường đại học tư thục phải huy động vn theo tha
thun cao hch toán lãi sut vào chi phí, thêm gánh nặng cho trường, làm tăng
cho hc phí ca sinh viên, làm gim tính cnh tranh ca trường đại hc tư thc.
Th tám, cn có chính sách hc phí và hc bng công bng cho sinh viên các
trường đại học tư thục, nếu không, các trường đại học tư thục vốn sinh sau đẻ mun
đã đi sau vch xut phát, li phi gánh thêm các thua thit trong quá trình hot
động. Có th nói sinh viên ph huynh trong các trường đại học tư thục là nhng
nhng thành phn chu thiệt đơn thiệt kép t chính sách hc phí hc bng bt
67 nhưng trường đại học tư thục có thể quyết định thêm một hoặc hai người đại diện pháp luật khác để giao cho Chủ tịch hội đồng trường. Điều này tham khảo từ quy định một công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Thứ sáu, về mối quan hệ Hiệu trưởng và Hội đồng trường trong các trường đại học tư thục hiện nay, để Hiệu trưởng và Hội đồng trường phát huy được đúng thẩm quyền của mình trong quản trị đại học cấp độ tổ chức, cần có thêm những quy định về chế độ báo cáo giải trình của Hiệu trưởng với Hội đồng trường. Vì hội đồng trường tại Việt Nam chưa thực sự phát huy hiệu quả, nên việc báo cáo giải trình của các Hiệu trưởng tại nhiều trường cũng chưa có thiết thực. Việc này dẫn tới khó đánh giá được hiệu quả làm việc của các Hiệu trưởng. Pháp luật giáo dục đại học cần có cơ chế thuận tiên hơn để trường đại học lựa chọn hiệu trưởng xứng đáng và những quy trình khả thi để bãi nhiệm khi không còn được tín nhiệm. Thứ bảy, nhà nước cần có chính sách cụ thể để chia sẽ với trường đại học tư thục và về tài chính và đất đai… đặc biệt là với trường đại học tư thục hoạt động vì phi lợi nhuận. Suy cho cùng, một trường đại học tư thục, dù là vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận, thì bản chất vẫn là một giáo dục không thể giống, không phải là một cơ sở kinh doanh thuần túy, và không thể vị lợi hoàn toàn như một doanh nghiệp. Vì vậy, những khoản tín dụng ưu đãi và chính sách đất đai riêng biệt là hợp lý và cần thiết. Rất tiếc, thực tế Nhà nước chưa có một khoản nào như thế cho các trường đại học tư thục, nên các trường đại học tư thục phải huy động vốn theo thỏa thuận cao và hạch toán lãi suất vào chi phí, thêm gánh nặng cho trường, làm tăng cho học phí của sinh viên, làm giảm tính cạnh tranh của trường đại học tư thục. Thứ tám, cần có chính sách học phí và học bổng công bằng cho sinh viên các trường đại học tư thục, nếu không, các trường đại học tư thục vốn sinh sau đẻ muộn đã đi sau ở vạch xuất phát, lại phải gánh thêm các thua thiệt trong quá trình hoạt động. Có thể nói sinh viên và phụ huynh trong các trường đại học tư thục là những những thành phần chịu thiệt đơn thiệt kép từ chính sách học phí và học bổng bất
68
bình đẳng giữa sinh viên các trường công và tư. Sinh viên trường tư phải đóng học
phí cao chi phí đào tạo cho sinh viên trường tư không được cp bù t ngân sách
nhà nước; sinh viên trưng công hc gii s được hưởng hc bng t ngân sách nhà
nước, còn sinh viên trường học giỏi đến mấy cũng chỉ th trông ch vào s
rng rãi của “ông chủ” trường đại học tư thục, mà nếu thì v bn cht hc bng
t ông chủ” trưng thc ra là cũng chính là từ hc phí ca sinh viên to nên. Trong
khi đó, v mặt đóng góp cho “đất nước” thì phụ huynh sinh viên trường công
ph huynh sinh viên trường tư thì đóng thuế như nhau, t thuế giá tr gia tăng, thuế
thu nhp nhân, thuế tiêu th đặc biệt… đến thêm nhiu loi thuế khác nếu như
ph huynh đó làm ăn kinh doanh. Vậy mà, nhng khon thuế đó của các ph
huynh sinh viên (gm c trường công và tư) lại ch được phân b cho ngân sách đào
tạo sinh viên trường công; do đó, phi rt thông cm khi ph huynh sinh viên
trường đại học tư thc tht lên thc mc: “Con tôi có tội gì?”. Vì vy, pháp lut ban
hành phi da trên tinh thn dù trường công và trường tư có khác nhau, nhưng sinh
viên trường công và sinh viên trường tư thì như nhau, nên mi chính sách v cp bù
ngân sách đào tạo, v hc bng, v vay vốn đóng hc phí phi áp dng công bng
như nhau cho sinh viên các trường đại hc công lập cũng như thc.
Th chín, chính sách phát triển đội ngũ giảng viên là mt bt công khác cn
sửa đổi để thu ngn khong cách bất bình đẳng trong cuc cnh tranh vốn đã không
cân sc giữa trường đại học tư thục với trường đại hc công lp. Hu như mọi ngân
sách phát triển và đào tạo giảng viên đều ch dành cho giảng viên trường công.
dù cho nếu đối tượng th hiện trên văn bản là gm c giảng viên trường tư thì trong
thc tin giảng viên trường tư vẫn khó tiếp cận hơn do văn hóa đường công văn, do
định kiến phân biệt công của người phê duyt h sơ. Thậm chí nếu vài sut
hc bng t nước ngoài gi v cho các bộ, ngành thì công văn phân phối cũng theo
thói quen mà công trước tư sau. Vì vậy, trên cơ sở quy hoch phát trin giáo dục đại
học, nhà nước cn xây dng quy hoch tng th dài hn để phát triển đội ngũ
ging viên cho toàn h thng giáo dục đại hc nhn mnh không phân bit công
tư. Thm chí, hin nay lực lượng đội ngũ giảng viên cơ hu các trường đại học tư
68 bình đẳng giữa sinh viên các trường công và tư. Sinh viên trường tư phải đóng học phí cao vì chi phí đào tạo cho sinh viên trường tư không được cấp bù từ ngân sách nhà nước; sinh viên trường công học giỏi sẽ được hưởng học bổng từ ngân sách nhà nước, còn sinh viên trường tư học giỏi đến mấy cũng chỉ có thể trông chờ vào sự rộng rãi của “ông chủ” trường đại học tư thục, mà nếu có thì về bản chất học bổng từ “ông chủ” trường thực ra là cũng chính là từ học phí của sinh viên tạo nên. Trong khi đó, về mặt đóng góp cho “đất nước” thì phụ huynh sinh viên trường công và phụ huynh sinh viên trường tư thì đóng thuế như nhau, từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt… đến thêm nhiều loại thuế khác nếu như phụ huynh đó có làm ăn kinh doanh. Vậy mà, những khoản thuế đó của các phụ huynh sinh viên (gồm cả trường công và tư) lại chỉ được phân bổ cho ngân sách đào tạo sinh viên trường công; do đó, phải rất thông cảm khi phụ huynh sinh viên trường đại học tư thục thốt lên thắc mắc: “Con tôi có tội gì?”. Vì vậy, pháp luật ban hành phải dựa trên tinh thần dù trường công và trường tư có khác nhau, nhưng sinh viên trường công và sinh viên trường tư thì như nhau, nên mọi chính sách về cấp bù ngân sách đào tạo, về học bổng, về vay vốn đóng học phí phải áp dụng công bằng như nhau cho sinh viên các trường đại học công lập cũng như tư thục. Thứ chín, chính sách phát triển đội ngũ giảng viên là một bất công khác cần sửa đổi để thu ngắn khoảng cách bất bình đẳng trong cuộc cạnh tranh vốn đã không cân sức giữa trường đại học tư thục với trường đại học công lập. Hầu như mọi ngân sách phát triển và đào tạo giảng viên đều chỉ dành cho giảng viên trường công. Và dù cho nếu đối tượng thể hiện trên văn bản là gồm cả giảng viên trường tư thì trong thực tiễn giảng viên trường tư vẫn khó tiếp cận hơn do văn hóa đường công văn, do định kiến phân biệt công tư của người phê duyệt hồ sơ. Thậm chí nếu có vài suất học bổng từ nước ngoài gửi về cho các bộ, ngành thì công văn phân phối cũng theo thói quen mà công trước tư sau. Vì vậy, trên cơ sở quy hoạch phát triển giáo dục đại học, nhà nước cần xây dựng quy hoạch tổng thể và dài hạn để phát triển đội ngũ giảng viên cho toàn hệ thống giáo dục đại học và nhấn mạnh không phân biệt công tư. Thậm chí, hiện nay lực lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu ở các trường đại học tư
69
thc khá ít so với các trường đại hc công lp, chính sách h tr đào tạo ging viên
cần xét đến s mất cân đối mà cân nhc nhng chính sách riêng cho trường đại hc
tư thục, góp phn thu hp khong cách bất bình đẳng.
Tiu kết chương 3
Trong chương này, luận văn đã bin lun v s cn thiết hoàn thin pháp lut
v qun tr đại học trong trường đại học thục theo hình công ty c phn
Vit Nam, nhằm đáp ng các yêu cu: (1) ci thin v thế của trường đại học
thc so vi thc tế hin nay; (2) tăng cường hiu qu quản nhà nước bng pháp
luật đối vi các trường đại học tư thục Vit Nam; (3) ci cách nn hành chính nhà
nước trong quản đối với các trường đại học thục Vit Nam; (4) đổi mới
bn và toàn din giáo dục đại hc Vit Nam; (5) hi nhp ca pháp lut giáo dục đại
hc Vit Nam vi khu vc thế giới, cũng như nhu cầu hi nhp của các trưng
đại học tư thc theo mô hình công ty c phn Vit Nam.
Hoàn thin pháp lut v qun tr đại học trong trường đại học thục theo
hình công ty c phn Vit Nam cũng phải dựa trên các quan đim: (1) phi
da trên th chế hoá các quan điểm, đường li chính sách của Đảng và Nhà nước v
phát trin giáo dục đại hc; (2) phi c th hoá phát triển các quy định v giáo
dục đại hc trong Lut giáo dục đại hc nói riêng h thng pháp lut Vit Nam
hin hành nói chung; (3) phải đáp ứng nhu cu thc tin t chc và hoạt động giáo
dục đại hc trong thi k đổi mi và hi nhp quc tế; (4) phi gii quyết được nhu
cu nâng cao hiu qu qun tr trường đại học thục góp phần ngăn ngừa các
bt n, tranh chp trong qun tr trường đại học tư thục Vit Nam hin nay.
Trên sở đó, luận văn đã đ xut phân tích các gii pháp hoàn thin
pháp lut v qun tr đại học trong trường đại học thục theo hình công ty c
phn Vit Nam, bao gm: (1) hoàn chnh lại khung pháp lý trong đó có luật, ngh
định, thông phù hợp vi tình hình thc tế của các trường đại hc thục đang
hot động và điều hành theo mô hình công ty c phn; (2) sửa đổi Lut Giáo dc đi
69 thục khá ít so với các trường đại học công lập, chính sách hỗ trợ đào tạo giảng viên cần xét đến sự mất cân đối mà cân nhắc những chính sách riêng cho trường đại học tư thục, góp phần thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng. Tiểu kết chương 3 Trong chương này, luận văn đã biện luận về sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, là nhằm đáp ứng các yêu cầu: (1) cải thiện vị thế của trường đại học tư thục so với thực tế hiện nay; (2) tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các trường đại học tư thục ở Việt Nam; (3) cải cách nền hành chính nhà nước trong quản lý đối với các trường đại học tư thục ở Việt Nam; (4) đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam; (5) hội nhập của pháp luật giáo dục đại học Việt Nam với khu vực và thế giới, cũng như nhu cầu hội nhập của các trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam. Hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam cũng phải dựa trên các quan điểm: (1) phải dựa trên thể chế hoá các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục đại học; (2) phải cụ thể hoá và phát triển các quy định về giáo dục đại học trong Luật giáo dục đại học nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành nói chung; (3) phải đáp ứng nhu cầu thực tiễn tổ chức và hoạt động giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; (4) phải giải quyết được nhu cầu nâng cao hiệu quả quản trị trường đại học tư thục và góp phần ngăn ngừa các bất ổn, tranh chấp trong quản trị trường đại học tư thục ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất và phân tích các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, bao gồm: (1) hoàn chỉnh lại khung pháp lý trong đó có luật, nghị định, thông tư phù hợp với tình hình thực tế của các trường đại học tư thục đang hoạt động và điều hành theo mô hình công ty cổ phần; (2) sửa đổi Luật Giáo dục đại
70
hc 2018 cho phù hp vi thc tin việc đầu quản tr trường đại học tư thục
đã, đang, sẽ phải được quyn s dng nhiu hình thc khác nhau phù hp vi
mi d án đầu tư thành lập và phát triển trường đại học tư thục; (3) nên có quy định
ràng buộc để hn chế chuyển nhượng c phn t do đến mc mt kim soát thành
phn ch s hữu trưng; (4) mnh dn tha nhn trong h thng giáo dc quc dân
s tn ti của trường đại học tư thục hoạt động vì li nhun, có quá trình t chc và
hoạt động n doanh nghiệp; (5) đề xut sửa đổi Lut giáo dục đại hc theo
hướng hiệu trưởng vẫn người đại diên theo pháp lut một cách đương nhiên,
nhưng trường đại học thục th quyết định thêm mt hoặc hai người đại din
pháp luật khác để giao cho Ch tch hội đồng trường, như mô hình công ty cổ phn
theo Lut Doanh nghip 2014. Bên cạnh đó các đề xut v mi quan h Hiu
trưng Hội đồng trường trong các trường đại học thục; v s cn thiết
chính sách c th để chia s với trường đại học tư thục và v tài chính và đất đai…;
v chính sách hc phí hc bng công bằng cho sinh viên các trường đại học
thc; v sửa đổi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bt công hin hu để thu
ngn khong cách bất bình đẳng trong cuc cnh tranh vốn đã không cân sức gia
trường đại học tư thục vi tờng đại hc công lp.
70 học 2018 cho phù hợp với thực tiễn việc đầu tư và quản trị trường đại học tư thục đã, đang, và sẽ phải được quyền sử dụng nhiều hình thức khác nhau phù hợp với mỗi dự án đầu tư thành lập và phát triển trường đại học tư thục; (3) nên có quy định ràng buộc để hạn chế chuyển nhượng cổ phần tự do đến mức mất kiểm soát thành phần chủ sở hữu trường; (4) mạnh dạn thừa nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân sự tồn tại của trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận, có quá trình tổ chức và hoạt động như là doanh nghiệp; (5) đề xuất sửa đổi Luật giáo dục đại học theo hướng hiệu trưởng dù vẫn là người đại diên theo pháp luật một cách đương nhiên, nhưng trường đại học tư thục có thể quyết định thêm một hoặc hai người đại diện pháp luật khác để giao cho Chủ tịch hội đồng trường, như mô hình công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014. Bên cạnh đó là các đề xuất về mối quan hệ Hiệu trưởng và Hội đồng trường trong các trường đại học tư thục; về sự cần thiết có chính sách cụ thể để chia sẽ với trường đại học tư thục và về tài chính và đất đai…; về chính sách học phí và học bổng công bằng cho sinh viên các trường đại học tư thục; về sửa đổi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bất công hiện hữu để thu ngắn khoảng cách bất bình đẳng trong cuộc cạnh tranh vốn đã không cân sức giữa trường đại học tư thục với trường đại học công lập.
71
KT LUN
Luận văn đã nghiên cứu, tng hp, phân tích rút ra mt s kết lun liên
quan đến nhng vấn đề lý lun và pháp lut v qun tr đại học trong các trường đại
học tư thục, cũng như những vấn đề lý lun và pháp lut v mô hình qun tr công
ty c phn. T đó, rút ra đưc, và kết ni vi nhng nhng vấn đề lun và pháp
lut v qun tr đại học trong các trường đại học tư thục theo mô hình qun tr công
ty c phn. V qun tr đại hc, ba hình qun tr đại hc trên thế giới cũng
được tng kết như là các cơ sở thc tin quan trng, bao gm mô hình qun tr đại
hc da vào gii khoa học được tìm thy Anh, Đức…; hình quản tr đại hc
dựa vào nhà nước ph biến Pháp, Nga, Th Nhĩ Kỳ, Trung Quc; hình
qun tr đại hc da vào th trưng d dàng tìm thy Hoa K, Canada, Australia
mt s nước khác. V hình qun tr công ty c phn, không ch các
hình qun tr công ty c phn theo pháp lut Vit Nam là cơ sở để áp dng cho qun
tr trường đại học thục, mà còn phải quan tâm đến các hình qun tr công ty
c phn theo pháp lut mt s nước khác.
Thc trng pháp lut Vit Nam v qun tr đại học trong các trường đại hc
tư thục cũng đã được tng hợp thông qua cơ cu t chc và qun tr đại hc đối vi
trường đại học tư thục theo pháp lut Vit Nam t năm 2003 đến nay thông qua các
thi k hiu lc của các văn bản, th hin mt s điểm như sự thng nht tên gọi
quan qun tr của trường đại học “hội đồng trường”, thay “hội đồng qun
trị” như trước đó; hay s khác nhau trong trường hợp trường đại học thục
thuc s hu duy nht bi một nhà đầu với trường hợp trường đại học thục
thuộc đồng s hu bi nhiều nhà đầu ; nhà đầu tư là một cp qun tr độc lp
trong mô hình qun tr đại học đối với các trường đại học thục vi thiết chế ch
s hu hoc hi ngh nhà đầu tư với nhng quyn hn và trách nhiệm rõ ràng được
b sung. Để làm thêm, luận văn cũng thực hin mt s so sánh gia hội đồng
trưng trong mô hình qun tr trường đại học tư thục vi các mô hình qun tr công
71 KẾT LUẬN Luận văn đã nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và rút ra một số kết luận liên quan đến những vấn đề lý luận và pháp luật về quản trị đại học trong các trường đại học tư thục, cũng như những vấn đề lý luận và pháp luật về mô hình quản trị công ty cổ phần. Từ đó, rút ra được, và kết nối với những những vấn đề lý luận và pháp luật về quản trị đại học trong các trường đại học tư thục theo mô hình quản trị công ty cổ phần. Về quản trị đại học, có ba mô hình quản trị đại học trên thế giới cũng được tổng kết như là các cơ sở thực tiễn quan trọng, bao gồm mô hình quản trị đại học dựa vào giới khoa học được tìm thấy ở Anh, Đức…; mô hình quản trị đại học dựa vào nhà nước phổ biến ở Pháp, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc; và mô hình quản trị đại học dựa vào thị trường dễ dàng tìm thấy ở Hoa Kỳ, Canada, Australia và một số nước khác. Về mô hình quản trị công ty cổ phần, không chỉ có các mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam là cơ sở để áp dụng cho quản trị trường đại học tư thục, mà còn phải quan tâm đến các mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật một số nước khác. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản trị đại học trong các trường đại học tư thục cũng đã được tổng hợp thông qua cơ cấu tổ chức và quản trị đại học đối với trường đại học tư thục theo pháp luật Việt Nam từ năm 2003 đến nay thông qua các thời kỳ hiệu lực của các văn bản, thể hiện một số điểm như sự thống nhất tên gọi cơ quan quản trị của trường đại học là “hội đồng trường”, thay vì là “hội đồng quản trị” như trước đó; hay có sự khác nhau trong trường hợp trường đại học tư thục thuộc sở hữu duy nhất bởi một nhà đầu tư với trường hợp trường đại học tư thục thuộc đồng sở hữu bởi nhiều nhà đầu tư; nhà đầu tư là một cấp quản trị độc lập trong mô hình quản trị đại học đối với các trường đại học tư thục với thiết chế chủ sở hữu hoặc hội nghị nhà đầu tư với những quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng được bổ sung. Để làm rõ thêm, luận văn cũng thực hiện một số so sánh giữa hội đồng trường trong mô hình quản trị trường đại học tư thục với các mô hình quản trị công
72
ty, giữa địa v pháp lý ca hiệu trưởng trong mô hình qun tr trường đại học tư thục
vi các mô hình qun tr công ty, cũng như mt s đặc trưng trong mô hình qun tr
giữa trường đại học tư thc so sánh với trường đại học thục hoạt động không vì
li nhun.
Qua phân tích điều kin kinh tế - hi s tác động, luận văn cũng đã
tng hp phân tích thc tin thi hành pháp lut v qun tr đại hc trong các
trường đại học tư thục Vit Nam hin nay, bao gm khái quát chung v thc tin
qun tr đại hc Việt Nam, sau đó mới đi sâu vào điểm cu mt s trưng hp
thc tin qun tr đại học trong trường đại học tư thc theo mô hình công ty c phn
Việt Nam. Các trường được la chn kho sát và báo cáo sau đây đi din cho h
thống các trường đại học tư thục ba min Bc, Trung, Nam bao gồm: Trường Đai
hc Kinh doanh Công ngh Ni (min Bắc), Trường Đai học Thái Bình
Dương (miền Trung), và Trường Đai học Hoa Sen (min Nam). Các kết luận cơ bản
qua mt s trưng hp c th này bao gm nhận định qun tr đại hc hiu qu
không đơn thuần ch cn mt k thuật pháp lý đủ tt, mà còn rt cn mt ngh thut
qun tr và chọn người qun tr phù hp với lĩnh vực kinh doanh giáo dc. Bên cnh
vic tuân th pháp lut v giáo dục đại học, trường còn ch động vn dng các
quy định ca pháp lut v công ty c phn theo lut doanh nghiệp để t chc qun
tr nhà trường. Tuy nhiên, cũng trường hp, không những cấu qun tr theo
hình công ty c phần được th hin mt cách nét, th trưng chuyn
nhượng c phn giữa các nhà đầu tư cũng đã được vn dng pháp lut doanh nghip
v công ty c phn mt cách quá triệt để và khô cứng đến mc gây bt li cho hiu
qu qun tr đại hc.
Trên cơ sở bin lun v s cn thiết hoàn thin pháp lut v qun tr đại hc
trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty c phn Vit Nam, cũng như
phân tích thng nhất các quan điểm v vấn đề này, luận văn đã đề xut và phân tích
các gii pháp hoàn thin pháp lut v qun tr đại học trong trường đại học thục
theo mô hình công ty c phn Vit Nam, bao gm: (1) hoàn chnh li khung pháp
lý trong đó có luật, ngh định, thông tư phù hợp vi tình hình thc tế của các trường
72 ty, giữa địa vị pháp lý của hiệu trưởng trong mô hình quản trị trường đại học tư thục với các mô hình quản trị công ty, cũng như một số đặc trưng trong mô hình quản trị giữa trường đại học tư thục so sánh với trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Qua phân tích điều kiện kinh tế - xã hội và sự tác động, luận văn cũng đã tổng hợp và phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về quản trị đại học trong các trường đại học tư thục ở Việt Nam hiện nay, bao gồm khái quát chung về thực tiễn quản trị đại học ở Việt Nam, sau đó mới đi sâu vào điểm cứu một số trường hợp thực tiễn quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam. Các trường được lựa chọn khảo sát và báo cáo sau đây đại diện cho hệ thống các trường đại học tư thục ở ba miền Bắc, Trung, Nam bao gồm: Trường Đai học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (miền Bắc), Trường Đai học Thái Bình Dương (miền Trung), và Trường Đai học Hoa Sen (miền Nam). Các kết luận cơ bản qua một số trường hợp cụ thể này bao gồm nhận định quản trị đại học hiệu quả không đơn thuần chỉ cần một kỹ thuật pháp lý đủ tốt, mà còn rất cần một nghệ thuật quản trị và chọn người quản trị phù hợp với lĩnh vực kinh doanh giáo dục. Bên cạnh việc tuân thủ pháp luật về giáo dục đại học, có trường còn chủ động vận dụng các quy định của pháp luật về công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp để tổ chức quản trị nhà trường. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, không những cơ cấu quản trị theo mô hình công ty cổ phần được thể hiện một cách rõ nét, mà thị trường chuyển nhượng cổ phần giữa các nhà đầu tư cũng đã được vận dụng pháp luật doanh nghiệp về công ty cổ phần một cách quá triệt để và khô cứng đến mức gây bất lợi cho hiệu quả quản trị đại học. Trên cơ sở biện luận về sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, cũng như phân tích thống nhất các quan điểm về vấn đề này, luận văn đã đề xuất và phân tích các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học trong trường đại học tư thục theo mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam, bao gồm: (1) hoàn chỉnh lại khung pháp lý trong đó có luật, nghị định, thông tư phù hợp với tình hình thực tế của các trường
73
đại học tư thục đang hoạt động và điều hành theo mô hình công ty c phn; (2) sa
đổi Lut Giáo dục đại hc 2018 cho phù hp vi thc tin việc đầu qun tr
trường đại học thục đã, đang, và sẽ phải được quyn s dng nhiu hình thc
khác nhau phù hp vi mi d án đầu thành lập phát trin trường đại học
thục; (3) nên quy định ràng buộc để hn chế chuyển nhưng c phn t do đến
mc mt kim soát thành phn ch s hữu trường; (4) mnh dn tha nhn trong h
thng giáo dc quc dân s tn ti của trường đại học thục hoạt động li
nhun, có quá trình t chc và hoạt động như doanh nghiệp; (5) đề xut sửa đổi
Lut giáo dục đại học theo hướng hiệu trưởng vẫn người đại diên theo pháp
lut một cách đương nhiên, nhưng trường đại học thục th quyết định thêm
mt hoc hai người đại din pháp luật khác đ giao cho Ch tch hội đồng trường,
như mô hình công ty cổ phn theo Lut Doanh nghip 2014. Bên cạnh đó là các đề
xut v mi quan h Hiệu trưởng và Hội đồng trường trong các trường đại học
thc; v s cn thiết có chính sách c th để chia s với trường đại học tư thục và v
tài chính đất đai…; về chính sách hc phí hc bng công bng cho sinh viên
các trường đại học tư thục; v sửa đổi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bt
công hin hữu để thu ngn khong cách bất bình đẳng trong cuc cnh tranh vốn đã
không cân sc gia trường đại học tư thục với trường đại hc công lp./.
73 đại học tư thục đang hoạt động và điều hành theo mô hình công ty cổ phần; (2) sửa đổi Luật Giáo dục đại học 2018 cho phù hợp với thực tiễn việc đầu tư và quản trị trường đại học tư thục đã, đang, và sẽ phải được quyền sử dụng nhiều hình thức khác nhau phù hợp với mỗi dự án đầu tư thành lập và phát triển trường đại học tư thục; (3) nên có quy định ràng buộc để hạn chế chuyển nhượng cổ phần tự do đến mức mất kiểm soát thành phần chủ sở hữu trường; (4) mạnh dạn thừa nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân sự tồn tại của trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận, có quá trình tổ chức và hoạt động như là doanh nghiệp; (5) đề xuất sửa đổi Luật giáo dục đại học theo hướng hiệu trưởng dù vẫn là người đại diên theo pháp luật một cách đương nhiên, nhưng trường đại học tư thục có thể quyết định thêm một hoặc hai người đại diện pháp luật khác để giao cho Chủ tịch hội đồng trường, như mô hình công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014. Bên cạnh đó là các đề xuất về mối quan hệ Hiệu trưởng và Hội đồng trường trong các trường đại học tư thục; về sự cần thiết có chính sách cụ thể để chia sẽ với trường đại học tư thục và về tài chính và đất đai…; về chính sách học phí và học bổng công bằng cho sinh viên các trường đại học tư thục; về sửa đổi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bất công hiện hữu để thu ngắn khoảng cách bất bình đẳng trong cuộc cạnh tranh vốn đã không cân sức giữa trường đại học tư thục với trường đại học công lập./.
74
DANH MC TÀI LIU THAM KHO
1. Bùi Thành Dũng (2018), Pháp lut thành lp hoạt động của trường đại
học tư thục theo hình doanh nghip, luận văn thạc s lut hc, Tng Đại
hc Kinh tế Tp. H Chí Minh.
2. Bùi Thùy Loan (2013), Phác tho bc tranh t ch đại hc hin nay, Tp chí
Phát trin và Hi nhp s 3 (13) 71-75.
3. Chính ph nước cng hòa hi ch nghĩa Việt Nam, Ngh quyết s
14/2005/NQ-CP, ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới bản và toàn din
giáo dc đi hc Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.
4. Chuyên mc Giáo dc (2016), Phát triển đại hc ngoài công lp Vit Nam,
Tp chí Tia Sáng ngày 24/03/2016.
5. Dương Quang Châu (2015), Quá trình tư nhân hóa giáo dục đại hc và s phát
trin h thng giáo dục đại học thục Vit Nam, Giáo dục đại hc & chuyên
nghip, Vin giáo dc London.
6. Đảng Cng sn Vit Nam (1998), Ngh quyết Hi ngh TWĐCS Vit Nam ln
th hai (khóa VIII) v định hướng chiến lược phát trin giáo dc Vit Nam
trong thi k công nghip hóa, hiện đại hóa, NXB Chính tr quc gia, Hà Ni.
7. Đảng Cng sn Vit Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biu toàn quc ln th
XI, NXB Chính tr quc gia, Hà Ni.
8. Đặng Th Minh (2014), Chính sách phát triển trường đại học thục Vit
Nam, Lun án tiến sĩ, Học vin Hành chính Quc gia.
9. Đặng Văn Định (2019), Phân tích cơ chế chính sách phát trin giáo dục đại hc
tư thục Vit Nam thi k 1988 2018, Tp chí Giáo dc và Xã hi, Hà Ni
10. Hoàng Công Minh (2018), T chc qun lý công ty c phn theo pháp lut Vit
Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại hc Luật, Đại hc Huế.
11. Hoàng Th Mai (2015), Hoàn thin pháp lut Vit Nam v qun tr công ty c
phn, Luận văn thạc sĩ luật hc, Khoa Lut, Đại hc Quc gia Hà Ni, Hà Ni.
74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bùi Thành Dũng (2018), Pháp luật vê thành lập và hoạt động của trường đại học tư thục theo mô hình doanh nghiệp, luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh. 2. Bùi Thùy Loan (2013), Phác thảo bức tranh tự chủ đại học hiện nay, Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 3 (13) 71-75. 3. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020. 4. Chuyên mục Giáo dục (2016), Phát triển đại học ngoài công lập ở Việt Nam, Tạp chí Tia Sáng ngày 24/03/2016. 5. Dương Quang Châu (2015), Quá trình tư nhân hóa giáo dục đại học và sự phát triển hệ thống giáo dục đại học tư thục Việt Nam, Giáo dục đại học & chuyên nghiệp, Viện giáo dục London. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị TWĐCS Việt Nam lần thứ hai (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Đặng Thị Minh (2014), Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. 9. Đặng Văn Định (2019), Phân tích cơ chế chính sách phát triển giáo dục đại học tư thục Việt Nam thời kỳ 1988 – 2018, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, Hà Nội 10. Hoàng Công Minh (2018), Tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế. 11. Hoàng Thị Mai (2015), Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
75
12. Hùng Trung Nguyên (2018), C thế gii ch Việt Nam có trường đại hc trong
đại hc, Báo Lao Động, Tổng Liên đoàn Lao động Vit Nam, s ra ngày
06/11/2018
13. Hùng Trung Nguyên (2018), Việt Nam, đại học trường đại hc 2 khái
nim khác nhau, Báo Lao Động, Tổng Liên đoàn Lao động Vit Nam, s ra
ngày 06/11/2018
14. Lam Phương (2014), V Đại hc Hoa Sen: Các góc nhìn khác nhau, Thi báo
Kinh tế Sài Gòn, s ngày Th Tư, 6/8/2014
15. Lê Ngc Hùng (2019), Đổi mi qun tr đại hc Vit Nam lý thuyết h thng
và kiến to mô hình hiện đại, chuyên nghip, Tp chí Lý lun Chính tr, s 3.
16. Văn ng (2018), Qun tr CTCP theo hình không ban kim soát
theo LDN2014, Luận văn thạc sĩ lut hc, Hc vin Khoa hc Xã hi, Hà Ni.
17. Mai Đăng Khoa (2016), Đổi mi qun tr đại học theo hướng t ch tại trường
Đại hc Khoa hc hội Nhân văn, ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ, Trường
Đại hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Đi hc Quc gia Hà Ni.
18. Maurice Cozian & Alain Viandier (1998), T chc công ty, Vin Nghiên cu
khoa hc pháp lý, B Tư pháp.
19. Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hu Huy Nht (2013), Qun tr đại hc và mô
hình cho trường đại hc khi kinh tế Vit Nam, Tp chí Phát trin Hi
nhp, s 8 (18) tháng 01-2013.
20. Nguyễn Đăng Minh (2018), Xây dựng hình qun tr đại hc tinh gn ti
Vit Nam, Tp chí Khoa học ĐHQGHN, Tp 34, S 3 (2018) 1-11..
21. Nguyn Th Lan Hương (2009), Mt s so sánh v CTCP theo Lut cnh tranh
Nht Bn và Lut DN Vit Nam, Tp chí Khoa hc ĐHQGHN, s 25.
22. Nguyn Th Mai Lan (2019), Qun tr tài chính trong các trường đại hc trc
thuc B Công thương trong điều kin t ch, lun án tiến sĩ kinh tế, Hc vin
Khoa hc Xã hi, Hà Nội năm 2019.
75 12. Hùng Trung Nguyên (2018), Cả thế giới chỉ Việt Nam có trường đại học trong đại học, Báo Lao Động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, số ra ngày 06/11/2018 13. Hùng Trung Nguyên (2018), Ở Việt Nam, đại học và trường đại học là 2 khái niệm khác nhau, Báo Lao Động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, số ra ngày 06/11/2018 14. Lam Phương (2014), Vụ Đại học Hoa Sen: Các góc nhìn khác nhau, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ngày Thứ Tư, 6/8/2014 15. Lê Ngọc Hùng (2019), Đổi mới quản trị đại học ở Việt Nam lý thuyết hệ thống và kiến tạo mô hình hiện đại, chuyên nghiệp, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 3. 16. Lê Văn Hưng (2018), Quản trị CTCP theo mô hình không có ban kiểm soát theo LDN2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội. 17. Mai Đăng Khoa (2016), Đổi mới quản trị đại học theo hướng tự chủ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. 18. Maurice Cozian & Alain Viandier (1998), Tổ chức công ty, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. 19. Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013), Quản trị đại học và mô hình cho trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 8 (18) tháng 01-2013. 20. Nguyễn Đăng Minh (2018), Xây dựng mô hình quản trị đại học tinh gọn tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 34, Số 3 (2018) 1-11.. 21. Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Một số so sánh về CTCP theo Luật cạnh tranh Nhật Bản và Luật DN Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 25. 22. Nguyễn Thị Mai Lan (2019), Quản trị tài chính trong các trường đại học trực thuộc Bộ Công thương trong điều kiện tự chủ, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 2019.
76
23. Phm Th Lan Phưng (2015), Dch chuyển chế qun tr GDĐH trên toàn
cu và suy ngm v Vit Nam, Tp chí Khoa học Đại học Sư phm Thành ph
H Chí Minh, s 3 (68) 25-36.
24. Phm Th Thanh Hi các cng s (2019), Qun tr đại hc - Kinh nghim
quc tế bài hc cho Vit Nam, VNU Journal of Science: Education
Research, Vol. 35, No. 3 (2019) 32-45.
25. Thái Vân Hà (2019), Phát triển trường đại hc tư thục Vit Nam: Thc trng
và khuyến ngh, Tp chí Tài chính K 1 - Tháng 9/2019
26. Thùy Linh (2018), Trường đại học thục phi doanh nghip, Đài tiếng
nói nhân dân thành ph H Chí Minh, ngày 22/01/2018.
27. Trn Quang Minh, Phm Th Ly Phm Hùng Hip (2015), Khái niệm đi
hc trên thế giới đang thay đổi, Bài trình bày ti Hi thảo Đối thoi giáo dc
toàn cu din ra ti Seoul, Hàn Quc ngày 26/2/2015.
28. Thư Anh (2019), Trường thục có phi doanh nghip, Tp chí Khoa hc
Ph thông, Hà Ni.
76 23. Phạm Thị Lan Phượng (2015), Dịch chuyển cơ chế quản trị GDĐH trên toàn cầu và suy ngẫm về Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 3 (68) 25-36. 24. Phạm Thị Thanh Hải và các cộng sự (2019), Quản trị đại học - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 3 (2019) 32-45. 25. Thái Vân Hà (2019), Phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị, Tạp chí Tài chính Kỳ 1 - Tháng 9/2019 26. Thùy Linh (2018), Trường đại học tư thục có phải là doanh nghiệp, Đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22/01/2018. 27. Trần Quang Minh, Phạm Thị Ly và Phạm Hùng Hiệp (2015), Khái niệm đại học trên thế giới đang thay đổi, Bài trình bày tại Hội thảo Đối thoại giáo dục toàn cầu diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc ngày 26/2/2015. 28. Thư Anh (2019), Trường tư thục có phải là doanh nghiệp, Tạp chí Khoa học Phổ thông, Hà Nội.