Luận văn Thạc sĩ Luật học: Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bìnhtrong điều kiện cải cách hành chính nhà nước

3,050
685
112
(1991-1996) với phương châm Nhà nước nhân dân cùng làm, toàn tỉnh đã huy
động trên 1.300 tỷ đồng, làm 5000 km đường nông thôn, trong đó hơn 3000 km
đường láng nhựa, làm mới 131 cầu dài 1.650m, trọng tải 10-13 tấn. Đường từ tỉnh
đến huyện, đến 285 xã đã thông xe ô từ 5-10 tấn. Hầu hết đường làng, ngõ xóm
đều được lát gạch vật liệu cứng. Tất cả các xóm có điện với 99% số hộ sử dụng
điện; 60% trường học hầu hết các trạm xây dựng kiên cố. 100% xã điện
thoại; trên 60% số hộ dùng nước sạch. Từ bài ca 5 tấn trong chống Mỹ, nay Thái
Bình thường xuyên đạt năng suất lúa 11-12 tấn/ha. 5 năm qua tổng sản lượng lương
thực đạt trên 600 kg/người/năm.
Thái Bình từng là một tỉnh có nạn đói điển hình, đến nay mỗi năm có từ 30-40
vạn tấn lương thực hàng hóa.
Nhiều công trình cơ bản lớn ở Thái Bình đã được hoàn thành như cầu Thái Bình,
cầu Triều Dương, cảng Diêm Điền, cống Lân 2, nhà văn hoá công nhân, nâng cấp sửa
mới các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, cầu Tân Đệ đang thi công và khánh thành vào
đầu năm 2002...
Có thể nói nông thôn Thái Bình - một vùng quê lúa, một thời không xa còn phổ
biến là "đèn dầu, mái rạ, đường lầy", thế mà đến nay có sự thay đổi rất to lớn. Đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Bất cứ ai đến Thái Bình ở mọi
vùng quê trong tỉnh đều có chung đánh giá về những thành tựu rất to lớn và nổi bật. Đã
có người nói cuộc đổi đời thứ 2, gọi Thái Bình là hình ảnh của nông thôn mới xã hội
chủ nghĩa.
Vậy mà nông thôn Thái Bình cũng như nông thôn ở nhiều nơi không yên bình.
Từ tháng 5/1997 đến vừa qua, Thái Bình lại được cả nước biết đến như là một tỉnh có
tình hình phức tạp nhất. Việc khiếu kiện đông người từ 1 xã đã mau chóng lan ra cả
huyện tỉnh. điểm nóng gay gắt dữ dội. Khởi nguồn từ bà con nông dân của 1
xóm, xã đã tổ chức thành từng đoàn đông người lên xã, lên huyện, lên tỉnh đòi dân chủ
công khai, công bằng về phân chia quyền sử dụng đất, về thu chi vốn quỹ hợp tác xã,
ngân sách xã, về thanh toán chi phí xây dựng đường giao thông, trường học, trạm xá...
Sự việc này nhen nhóm từ năm 1994, 1995 và bùng ra vào tháng 10/1996, lan rộng và
(1991-1996) với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, toàn tỉnh đã huy động trên 1.300 tỷ đồng, làm 5000 km đường nông thôn, trong đó có hơn 3000 km đường láng nhựa, làm mới 131 cầu dài 1.650m, trọng tải 10-13 tấn. Đường từ tỉnh đến huyện, đến 285 xã đã thông xe ô tô từ 5-10 tấn. Hầu hết đường làng, ngõ xóm đều được lát gạch và vật liệu cứng. Tất cả các xóm có điện với 99% số hộ sử dụng điện; 60% trường học và hầu hết các trạm xá xây dựng kiên cố. 100% xã có điện thoại; trên 60% số hộ dùng nước sạch. Từ bài ca 5 tấn trong chống Mỹ, nay Thái Bình thường xuyên đạt năng suất lúa 11-12 tấn/ha. 5 năm qua tổng sản lượng lương thực đạt trên 600 kg/người/năm. Thái Bình từng là một tỉnh có nạn đói điển hình, đến nay mỗi năm có từ 30-40 vạn tấn lương thực hàng hóa. Nhiều công trình cơ bản lớn ở Thái Bình đã được hoàn thành như cầu Thái Bình, cầu Triều Dương, cảng Diêm Điền, cống Lân 2, nhà văn hoá công nhân, nâng cấp sửa mới các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, cầu Tân Đệ đang thi công và khánh thành vào đầu năm 2002... Có thể nói nông thôn Thái Bình - một vùng quê lúa, một thời không xa còn phổ biến là "đèn dầu, mái rạ, đường lầy", thế mà đến nay có sự thay đổi rất to lớn. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Bất cứ ai đến Thái Bình ở mọi vùng quê trong tỉnh đều có chung đánh giá về những thành tựu rất to lớn và nổi bật. Đã có người nói cuộc đổi đời thứ 2, gọi Thái Bình là hình ảnh của nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Vậy mà nông thôn Thái Bình cũng như nông thôn ở nhiều nơi không yên bình. Từ tháng 5/1997 đến vừa qua, Thái Bình lại được cả nước biết đến như là một tỉnh có tình hình phức tạp nhất. Việc khiếu kiện đông người từ 1 xã đã mau chóng lan ra cả huyện và tỉnh. Có điểm nóng gay gắt dữ dội. Khởi nguồn từ bà con nông dân của 1 xóm, xã đã tổ chức thành từng đoàn đông người lên xã, lên huyện, lên tỉnh đòi dân chủ công khai, công bằng về phân chia quyền sử dụng đất, về thu chi vốn quỹ hợp tác xã, ngân sách xã, về thanh toán chi phí xây dựng đường giao thông, trường học, trạm xá... Sự việc này nhen nhóm từ năm 1994, 1995 và bùng ra vào tháng 10/1996, lan rộng và
gay gắt từ tháng 5/1997 cho tới tháng 12/1997. Tính đến tháng 12/1997 cả 8/8 huyện,
thị xã của tỉnh đều có khiếu kiện tập thể đông người (trong đó huyện Quỳnh Phụ 36/38
xã; huyện Thái Thụy 46/48 xã; Đông Hưng 41/46 xã; Tiền Hải 32/35 xã; Kiến Xương
31/40 xã; Hưng Hà 16/34 xã; Vũ Thư 29/31 xã; Thị xã 2/13 xã, phường... Toàn tỉnh lúc
này có 233/285 xã phường có vấn đề, chiếm 80% [69, tr.5].
Sự việc bắt đầu từ yêu cầu chính quyền thôn giải quyết khiếu kiện, kiện
lên huyện, tỉnh và Trung ương, từ vài người đi khiếu kiện đến hàng chục, hàng trăm,
nghìn người; từ đề đạt nguyện vọng yêu cầu giải quyết đến dùng áp lực đông người
buộc chính quyền làm theo ý mình; từ yêu cầu thanh tra Nhà nước giải quyết đến
thành lập ban thanh tra nhân dân tự giải quyết, từ tuân thủ pháp luật đến vi phạm
pháp lụât: đập phá công sở, hành hung lực lượng công an, cán bộ kiểm soát từ ngày
9 đến ngày 11/5/1997 tại thị trấn Quỳnh Phụ; bắt giữ 23 cán bộ công an huyện
Quỳnh Phụ, công an tỉnh từ ngày 12 đến ngày 16/11/1997 tại xã Quỳnh Hoa, huyện
Quỳnh Phụ; từ bột phát từng i đến có sự phối hợp giữa các thôn,c xã; từ yêu
cầu về lợi ích kinh tế, có nơi đã mang màu sắc chính trị...
Một vấn đề lớn được đặt ra: tại sao một tỉnh có truyền thống, có phong trào về
nhiều mặt, đạt được những kết quả và thành tựu to lớn, tình hình lại diễn ra phức tạp
như vậy ? Câu hỏi này không chỉ của Thái Bình. Đó cũng là bức xúc của nhiều địa
phương, là mối quan tâm sâu sắc của Trung ương và của cả nước.
Trước hết là do vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc chế độ chính ch, buông
lỏng quảnkinh tế, gây thất thoát ngân sách xã, hợp tác xã, tiền của đóng góp của nhân
dân. Một bộ phận cán bộ từ tỉnh đến cơ sở tham nhũng, thoái hoá biến chất. Thêm vào đó
là tư tưởng chủ quan, nóng vội, huy động quá sức dân: người nông dân Thái nh phải
đóng góp quá sức dân, với bình quân ruộng đất 1 người/sào, mỗi ngày công lấy sản phẩm
từ 1m
2
đất mà phải nộp đến 20-30 khoản thu các loại bằng 1/4 - 1/3 sản lượng (xem phụ
lục 2, 3, 4).
Nhưng quan trọng sâu xa những nguyên nhân về vi phạm dân chủ, tác
phong quan liêu độc đoán xa rời cơ sở và mất dân chủ với nhân dân của một bộ phận có
gay gắt từ tháng 5/1997 cho tới tháng 12/1997. Tính đến tháng 12/1997 cả 8/8 huyện, thị xã của tỉnh đều có khiếu kiện tập thể đông người (trong đó huyện Quỳnh Phụ 36/38 xã; huyện Thái Thụy 46/48 xã; Đông Hưng 41/46 xã; Tiền Hải 32/35 xã; Kiến Xương 31/40 xã; Hưng Hà 16/34 xã; Vũ Thư 29/31 xã; Thị xã 2/13 xã, phường... Toàn tỉnh lúc này có 233/285 xã phường có vấn đề, chiếm 80% [69, tr.5]. Sự việc bắt đầu từ yêu cầu chính quyền thôn xã giải quyết khiếu kiện, kiện lên huyện, tỉnh và Trung ương, từ vài người đi khiếu kiện đến hàng chục, hàng trăm, nghìn người; từ đề đạt nguyện vọng yêu cầu giải quyết đến dùng áp lực đông người buộc chính quyền làm theo ý mình; từ yêu cầu thanh tra Nhà nước giải quyết đến thành lập ban thanh tra nhân dân tự giải quyết, từ tuân thủ pháp luật đến vi phạm pháp lụât: đập phá công sở, hành hung lực lượng công an, cán bộ kiểm soát từ ngày 9 đến ngày 11/5/1997 tại thị trấn Quỳnh Phụ; bắt giữ 23 cán bộ và công an huyện Quỳnh Phụ, công an tỉnh từ ngày 12 đến ngày 16/11/1997 tại xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ; từ bột phát từng nơi đến có sự phối hợp giữa các thôn, các xã; từ yêu cầu về lợi ích kinh tế, có nơi đã mang màu sắc chính trị... Một vấn đề lớn được đặt ra: tại sao một tỉnh có truyền thống, có phong trào về nhiều mặt, đạt được những kết quả và thành tựu to lớn, tình hình lại diễn ra phức tạp như vậy ? Câu hỏi này không chỉ của Thái Bình. Đó cũng là bức xúc của nhiều địa phương, là mối quan tâm sâu sắc của Trung ương và của cả nước. Trước hết là do vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc chế độ chính sách, buông lỏng quản lý kinh tế, gây thất thoát ngân sách xã, hợp tác xã, tiền của đóng góp của nhân dân. Một bộ phận cán bộ từ tỉnh đến cơ sở tham nhũng, thoái hoá biến chất. Thêm vào đó là tư tưởng chủ quan, nóng vội, huy động quá sức dân: người nông dân Thái Bình phải đóng góp quá sức dân, với bình quân ruộng đất 1 người/sào, mỗi ngày công lấy sản phẩm từ 1m 2 đất mà phải nộp đến 20-30 khoản thu các loại bằng 1/4 - 1/3 sản lượng (xem phụ lục 2, 3, 4). Nhưng quan trọng và sâu xa là những nguyên nhân về vi phạm dân chủ, tác phong quan liêu độc đoán xa rời cơ sở và mất dân chủ với nhân dân của một bộ phận có
chức, có quyền, không chấp hành nghiêm một số chủ trương chính sách, lỏng lẻo trong
chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp lụât của Nhà nước.
Chính quyền một số nơi lạm dụng biện pháp xử phạt hành chính, cưỡng chế, phụ
thu tuỳ tiện. Nhiều việc làm lớn liên quan trực tiếp đến dân, tiền của nhân dân đóng góp
đã không được bàn bạc dân chủ, thanh quyết toán kịp thời báo cáo công khai với
nhân dân.
Nếu nghiên cứu tình hình cả tỉnh hoặc từng huyện cũng như xem xét kết luận
thanh tra mỗi sai phạmng đều có cả 2 loại nguyên nhân trên.
Nhưng nếu xem xét sâu hơn cho thấy: thanh tra 242 trên tổng số 282 xã,
phường, thị trấn tập trung vào 4 nội dung cơ bản: đất đai, ngân sách xã và hợp tác xã,
xây dựng cơ bản, chính sách xã hội đã kết luận 242 xã, tổng số tiền do sai phạm phải
thu hồi là 46.087 triệu đồng. Tính bình quân 190 triệu đồng/xã. Số sai phạm về trách
nhiệm phải xử lý là 34.547 triệu đồng, chiếm gần 3/4 tổng số sai phạm. Số tiền tham ô
nhân phải thu hồi 11.540 triệu đồng, chiếm gần 1/4 tổng số sai phạm [19, tr.3].
Nếu so với tổng số vốn đầu xây dựng cơ bản là 1.300 tỷ đồng thì chỉ là một tỷ lệ
nhỏ, nhưng vấn đề lại không chỉ đơn giản như vậy.
Thực tế là rất nhiều xã, theo kết luận thanh tra sai phạm không lớn nhưng giải
quyết lại rất khó khăn. Một số xã tuy sai phạm lớn hơn, tiền của thất thoát nhiều hơn,
nhưng nếu kết luận thẳng thắn, báo cáo rõ ràng, nhận lỗi thành khẩn, không quanh co
đã được đông đảo nhân dân và đảng viên đồng tình, thậm chí còn cho miễn trách nhiệm
bồi hoàn, tình hình nhanh chóng ổn định.
Căn cứ vào những số liệu nêu trên, nếu lại đem so sánh với những vụ án lớn đã
được phanh phui gần đây thiệt hại không bằng, nhưng trong điều kiện một tỉnh nông
nghiệp như Thái Bình, với người nông dân, số tiền ấy được tính bằng bao nhiêu tấn
thóc, phải đổ bao nhiêu mồ hôi công sức mới có được thì sự tham ô lãng phí đó đã trực
tiếp ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Đảng và chính quyền.
Từ thực tiễn trên, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình là phải
sớm ổn định tình hình để phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu đặt ra trong năm 1998
chức, có quyền, không chấp hành nghiêm một số chủ trương chính sách, lỏng lẻo trong chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp lụât của Nhà nước. Chính quyền một số nơi lạm dụng biện pháp xử phạt hành chính, cưỡng chế, phụ thu tuỳ tiện. Nhiều việc làm lớn liên quan trực tiếp đến dân, tiền của nhân dân đóng góp đã không được bàn bạc dân chủ, thanh quyết toán kịp thời và báo cáo công khai với nhân dân. Nếu nghiên cứu tình hình cả tỉnh hoặc từng huyện cũng như xem xét kết luận thanh tra ở mỗi xã có sai phạm cũng đều có cả 2 loại nguyên nhân trên. Nhưng nếu xem xét sâu hơn cho thấy: thanh tra 242 trên tổng số 282 xã, phường, thị trấn tập trung vào 4 nội dung cơ bản: đất đai, ngân sách xã và hợp tác xã, xây dựng cơ bản, chính sách xã hội đã kết luận 242 xã, tổng số tiền do sai phạm phải thu hồi là 46.087 triệu đồng. Tính bình quân 190 triệu đồng/xã. Số sai phạm về trách nhiệm phải xử lý là 34.547 triệu đồng, chiếm gần 3/4 tổng số sai phạm. Số tiền tham ô cá nhân phải thu hồi là 11.540 triệu đồng, chiếm gần 1/4 tổng số sai phạm [19, tr.3]. Nếu so với tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 1.300 tỷ đồng thì chỉ là một tỷ lệ nhỏ, nhưng vấn đề lại không chỉ đơn giản như vậy. Thực tế là rất nhiều xã, theo kết luận thanh tra sai phạm không lớn nhưng giải quyết lại rất khó khăn. Một số xã tuy sai phạm lớn hơn, tiền của thất thoát nhiều hơn, nhưng nếu kết luận thẳng thắn, báo cáo rõ ràng, nhận lỗi thành khẩn, không quanh co đã được đông đảo nhân dân và đảng viên đồng tình, thậm chí còn cho miễn trách nhiệm bồi hoàn, tình hình nhanh chóng ổn định. Căn cứ vào những số liệu nêu trên, nếu lại đem so sánh với những vụ án lớn đã được phanh phui gần đây thiệt hại không bằng, nhưng trong điều kiện một tỉnh nông nghiệp như Thái Bình, với người nông dân, số tiền ấy được tính bằng bao nhiêu tấn thóc, phải đổ bao nhiêu mồ hôi công sức mới có được thì sự tham ô lãng phí đó đã trực tiếp ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với Đảng và chính quyền. Từ thực tiễn trên, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình là phải sớm ổn định tình hình để phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu đặt ra trong năm 1998
phải ổn định được tình hình, giải quyết nghiêm túc có lý, có tình các vấn đề khiếu kiện
chính đáng của nhân dân. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về mọi mặt; củng cố
kiện toàn các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân; sắp xếp lại một bước
đội ngũ cán bộ. Tập trung sức đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế -
hội để không tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực; từng bước nâng cao đời sống
vật chất tinh thần cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
[57, tr.15].
Để thực hiện mục tiêu trên, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện một số chủ trương giải pháp chủ yếu. Việc thực hiện các giải pháp đó
chính là yêu cầu bức xúc đổi mới tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói
chung và chính quyền cấp xã nói riêng.
Ngày 4/7/1998 sau nửa năm thực hiện Nghị quyết 06 của Ban chấp hành Đảng
bộ tỉnh, đã sơ kết công tác đó về những giải pháp nêu trên nhằm ổn định tình hình trong
tỉnh cho thấy:
"Do được sự chỉ đạo của Bộ chính trị, Chính phủ, sự giúp đỡ của các Bộ, ban
ngành Trung ương, trực tiếp là tổ công tác của Bộ chính trị cộng với sự nỗ lực của các
cấp, các ngành trong tỉnh đã tạo được những chuyển biến rất tích cực, góp phần ổn định
tình hình. Việc khiếu kiện của nhân dân đang từng bước được xem xét giải quyết, tổ
chức Đảng từng bước được củng cố. `Tình hình chung đã và đang đi vào thế ổn định"
(báo cáo sơ kết việc triển khai tổ chức Nghị quyết 06 - số 55/BC-TU ngày 4/7/1998).
Với đặc điểm tình hình trên, việc đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính
trị ở cơ sở nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng là cần thiết, cấp bách.
2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động của chính quyền cấp tỉnh Thái
Bình
2.2.1. Thực trạng về tổ chức
2.2.1.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh Thái Bình
hiện nay
phải ổn định được tình hình, giải quyết nghiêm túc có lý, có tình các vấn đề khiếu kiện chính đáng của nhân dân. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về mọi mặt; củng cố kiện toàn các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân; sắp xếp lại một bước đội ngũ cán bộ. Tập trung sức đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để không tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực; từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội [57, tr.15]. Để thực hiện mục tiêu trên, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số chủ trương giải pháp chủ yếu. Việc thực hiện các giải pháp đó chính là yêu cầu bức xúc đổi mới tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng. Ngày 4/7/1998 sau nửa năm thực hiện Nghị quyết 06 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, đã sơ kết công tác đó về những giải pháp nêu trên nhằm ổn định tình hình trong tỉnh cho thấy: "Do được sự chỉ đạo của Bộ chính trị, Chính phủ, sự giúp đỡ của các Bộ, ban ngành Trung ương, trực tiếp là tổ công tác của Bộ chính trị cộng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong tỉnh đã tạo được những chuyển biến rất tích cực, góp phần ổn định tình hình. Việc khiếu kiện của nhân dân đang từng bước được xem xét giải quyết, tổ chức Đảng từng bước được củng cố. `Tình hình chung đã và đang đi vào thế ổn định" (báo cáo sơ kết việc triển khai tổ chức Nghị quyết 06 - số 55/BC-TU ngày 4/7/1998). Với đặc điểm tình hình trên, việc đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng là cần thiết, cấp bách. 2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã tỉnh Thái Bình 2.2.1. Thực trạng về tổ chức 2.2.1.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã tỉnh Thái Bình hiện nay
Thái Bình có 7 huyện, 1 thị xã, được chia thành 285 đơn vị hành chính cấp
sở. Bao gồm 272 xã; 6 phường và 7 thị trấn.
Phần lớn các trong tỉnh đều trên 10 nn dân. Tn tỉnh 2710m.
Chính quyền cấp xã của tỉnh được tổ chức lại nhiều lần theo sự thay đổi của luật
tổ chức HĐND và UBND và những quyết định của Chính phủ để phù hợp với mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, đặc
biệt là thay đổi cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, giữ vai trò chi phối rất nhiều
đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
Từ sau đại hội VII của Đảng và đại hội lần thứ XIV của Tỉnh Đảng bộ Thái Bình
(1991) với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền
kinh tế nông nghiệp của Thái Bình sự chuyển biến rõ rệt, thực hiện giao đất cho
người nông dân, lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất cơ bản, sức lao động được giải
phóng. Bộ máy quản lý hợp tác xã chỉ làm khâu dịch vụ đầu vào như cung ứng tư liệu
sản xuất, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi, thuốc trừ sâu, thuỷ nông và dịch vụ đầu
ra như chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Việc lựa chọn cấu sản xuất do hộ gia đình
quyết định. Đây cũng là thời kỳ mà nhiều tiêu cực của những năm trước trong ban quản
hợp tác xã được bộc lộ như trình độ quản yếu kém, chi xuất sử dụng công quỹ
không ràng, không công khai, tham nhũng... Phân chia đất đai không hợp lý, đổi
ruộng xấu, ruộng xa lấy ruộng tốt, ruộng gần. Quỹ đất dự phòng để lại sử dụng cho
mục đích công ích của xã quá quy định của pháp luật từ 2-12%. Đất bình quân chia cho
hộ nông dân thấp. Tình trạng tranh chấp đất đai diễn ra gay gắt, nhiều nơi và nhiều vụ
việc rất khó giải quyết. Thời kỳ này bộ máy của xã được tổ chức sắp xếp lại cho phù
hợp theo hướng tăng cường chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, xoá bỏ việc
can thiệp cụ thể vào khâu điều hành sản xuất kinh doanh. Mô hình xóm được củng cố,
trưởng xóm được xã uỷ quyền làm một số nhiệm vụ như thu thuế nông nghiệp, thuế sát
sinh, thu các khoản lệ phí do cấp trên quy định, thu các khoản đóng góp làm đường
giao thông. Xóm thực sự là cánh tay vươn dài của UBND xã, tiếp cận với người dân
trong việc thay mặt chính quyền xã làm công tác an ninh trật tự, hoà giải các tranh chấp
Thái Bình có 7 huyện, 1 thị xã, được chia thành 285 đơn vị hành chính cấp cơ sở. Bao gồm 272 xã; 6 phường và 7 thị trấn. Phần lớn các xã trong tỉnh đều có trên 10 ngàn dân. Toàn tỉnh có 2710 xóm. Chính quyền cấp xã của tỉnh được tổ chức lại nhiều lần theo sự thay đổi của luật tổ chức HĐND và UBND và những quyết định của Chính phủ để phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, đặc biệt là thay đổi cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, giữ vai trò chi phối rất nhiều đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở. Từ sau đại hội VII của Đảng và đại hội lần thứ XIV của Tỉnh Đảng bộ Thái Bình (1991) với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế nông nghiệp của Thái Bình có sự chuyển biến rõ rệt, thực hiện giao đất cho người nông dân, lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất cơ bản, sức lao động được giải phóng. Bộ máy quản lý hợp tác xã chỉ làm khâu dịch vụ đầu vào như cung ứng tư liệu sản xuất, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi, thuốc trừ sâu, thuỷ nông và dịch vụ đầu ra như chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Việc lựa chọn cơ cấu sản xuất là do hộ gia đình quyết định. Đây cũng là thời kỳ mà nhiều tiêu cực của những năm trước trong ban quản lý hợp tác xã được bộc lộ như trình độ quản lý yếu kém, chi xuất sử dụng công quỹ không rõ ràng, không công khai, tham nhũng... Phân chia đất đai không hợp lý, đổi ruộng xấu, ruộng xa lấy ruộng tốt, ruộng gần. Quỹ đất dự phòng để lại sử dụng cho mục đích công ích của xã quá quy định của pháp luật từ 2-12%. Đất bình quân chia cho hộ nông dân thấp. Tình trạng tranh chấp đất đai diễn ra gay gắt, nhiều nơi và nhiều vụ việc rất khó giải quyết. Thời kỳ này bộ máy của xã được tổ chức sắp xếp lại cho phù hợp theo hướng tăng cường chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, xoá bỏ việc can thiệp cụ thể vào khâu điều hành sản xuất kinh doanh. Mô hình xóm được củng cố, trưởng xóm được xã uỷ quyền làm một số nhiệm vụ như thu thuế nông nghiệp, thuế sát sinh, thu các khoản lệ phí do cấp trên quy định, thu các khoản đóng góp làm đường giao thông. Xóm thực sự là cánh tay vươn dài của UBND xã, tiếp cận với người dân trong việc thay mặt chính quyền xã làm công tác an ninh trật tự, hoà giải các tranh chấp
dân sự, hôn nhân gia đình, đôn đốc các phong trào, phổ biến đường lối chính sách pháp luật,
giữ mối liên hệ với các chi đoàn, chi hội quần chúng.
Nghị định 46/CP của Chính phủ quy định tuỳ theo quy mô dân số để bố trí số
lượng cán bộ Đảng, HĐND, UBND (từ 8 đến 11 người). Theo quy định này số lượng
cán bộ xã ở Thái Bình giảm 50% so với trước đây, giảm chi khá lớn đối với ngân sách xã.
Theo Nghị định này, sinh hoạt phí đối với cán bộ xã chỉ có 3 mức: Bí thư Đảng uỷ và chủ
tịch UBND mức 160.000đ/tháng; phó bí thư, phó chủ tịch UBND mức 140.000đ/tháng;
các chức danh khác 120.000đ/tháng. Cán bộ nghỉ công tác hưởng trợ cấp hàng tháng
trước đây, nay chỉ có 2 mức phụ cấp: Bí thư, chủ tịch UBND 40.000đ/tháng; các chức
danh khác 30.000đ/tháng. Nghị định 40/CPcủa Chính phủ quy định như vậy là chưa sát
thực tế, mức phụ cấp quá thấp, không tương xứng nhiệm vụ.
Nghị định quy định cán bộ xã thuộc các đối tượng theo quy định khi nghỉ việc
chỉ được xét hưởng chế độ trợ cấp 1 lần nếu có thời gian công tác ở xã liên tục từ 10
năm trở lên và không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên, không còn chế độ trợ cấp hàng
tháng như trước đây nữa.
Những quy định trên đây tác động rất lớn đến tâm tư tình cảm của cán bộ cấp xã
Thái Bình. Họ mặc cảm, cho rằng bị phân biệt đối xử không được bình đẳng như cán
bộ cấp tỉnh, cấp huyện. Chính những quy định chưa sát hợp đó làm cho Nghị định
tính khả thi thấp, việc tổ chức triển khai thực hiện gặp nhiều vướng mắc, khó khăn,
kém hiệu quả. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự thiếu
yên tâm, kém phấn khởi công tác đối với cán bộ xã. Là nguyên cớ để nhiều cán bộ
kém phẩn chất, lợi dụng chức quyền, lợi dụng chế thị trường để trục lợi nhân.
Những cán bộ xã liêm khiết mà nghỉ công tác trong giai đoạn này thì chịu thiệt thòi về
chế độ. Vì vậy sau 2 năm ban hành, thấy được sự bức xúc từ thực tế khách quan, Chỉnh
phủ đã ban hành Nghị định 50/CP ngày 26/7/1995 để thay thế Nghị định 46/CP.
Nghị định 50/CP của Chính phủ ban hành nhằm từng bước thực hiện Nghị quyết TW
8 khoá VII: kiện toàn chính quyền cấp xã, giải quyết vấn đề ngân sách và từng bước chuyên
nghiệp hoá một số vị trí côngc ở xã. Đồng thời cải thiện một bước đời sống cán bộ xã phù
hợp với điều kiện kinh tế đất nước.
dân sự, hôn nhân gia đình, đôn đốc các phong trào, phổ biến đường lối chính sách pháp luật, giữ mối liên hệ với các chi đoàn, chi hội quần chúng. Nghị định 46/CP của Chính phủ quy định tuỳ theo quy mô dân số để bố trí số lượng cán bộ Đảng, HĐND, UBND (từ 8 đến 11 người). Theo quy định này số lượng cán bộ xã ở Thái Bình giảm 50% so với trước đây, giảm chi khá lớn đối với ngân sách xã. Theo Nghị định này, sinh hoạt phí đối với cán bộ xã chỉ có 3 mức: Bí thư Đảng uỷ và chủ tịch UBND mức 160.000đ/tháng; phó bí thư, phó chủ tịch UBND mức 140.000đ/tháng; các chức danh khác 120.000đ/tháng. Cán bộ nghỉ công tác hưởng trợ cấp hàng tháng trước đây, nay chỉ có 2 mức phụ cấp: Bí thư, chủ tịch UBND 40.000đ/tháng; các chức danh khác 30.000đ/tháng. Nghị định 40/CPcủa Chính phủ quy định như vậy là chưa sát thực tế, mức phụ cấp quá thấp, không tương xứng nhiệm vụ. Nghị định quy định cán bộ xã thuộc các đối tượng theo quy định khi nghỉ việc chỉ được xét hưởng chế độ trợ cấp 1 lần nếu có thời gian công tác ở xã liên tục từ 10 năm trở lên và không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên, không còn chế độ trợ cấp hàng tháng như trước đây nữa. Những quy định trên đây tác động rất lớn đến tâm tư tình cảm của cán bộ cấp xã Thái Bình. Họ mặc cảm, cho rằng bị phân biệt đối xử không được bình đẳng như cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện. Chính những quy định chưa sát hợp đó làm cho Nghị định có tính khả thi thấp, việc tổ chức triển khai thực hiện gặp nhiều vướng mắc, khó khăn, kém hiệu quả. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự thiếu yên tâm, kém phấn khởi công tác đối với cán bộ xã. Là nguyên cớ để nhiều cán bộ xã kém phẩn chất, lợi dụng chức quyền, lợi dụng cơ chế thị trường để trục lợi cá nhân. Những cán bộ xã liêm khiết mà nghỉ công tác trong giai đoạn này thì chịu thiệt thòi về chế độ. Vì vậy sau 2 năm ban hành, thấy được sự bức xúc từ thực tế khách quan, Chỉnh phủ đã ban hành Nghị định 50/CP ngày 26/7/1995 để thay thế Nghị định 46/CP. Nghị định 50/CP của Chính phủ ban hành nhằm từng bước thực hiện Nghị quyết TW 8 khoá VII: kiện toàn chính quyền cấp xã, giải quyết vấn đề ngân sách và từng bước chuyên nghiệp hoá một số vị trí công tác ở xã. Đồng thời cải thiện một bước đời sống cán bộ xã phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước.
Về số lượng và đối tượng cán bộ xã hưởng sinh hoạt phí được tăng thêm so với
Nghị định 46/CP (từ 17 - 25 cán bộ Đảng, chính quyền, quy định rõ 4 cán bộ chuyên
môn của UBND và cấp trưởng của 5 đoàn thể). Quy định này phù hợp với thực tế hơn
so với Nghị định 46/CP.
Về chế độ sinh hoạt phí được phân thành 4 mức theo các chức danh cán bộ và đã
được nâng cao hơn so với trước. Cán bộ xã được hưởng phụ cấp tái cử cùng một chức
vụ sau 5 năm công tác. Tuy các quy định này đã thể hiện sự cải tiến một bước so với
Nghị định 46/CP, song mức sinh hoạt phí so với mặt bằng chung thì vẫn còn thấp, chưa
đáp ứng nguyện vọng cán bộ xã, chế độ phụ cấp tái cử quy định "cứng" hơn so với chế
độ tái cử ở các cấp khác.
Cán bộ y tế cùng với trạm y tế xã vốn trước đây được coi là một bộ phận không
thể tách rời của cấp sở, chịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ, UBND cùng cấp. Khi
thông 97/TTLB/TCCB CP-TC hướng dẫn thực hiện Nghị định 50/CP thì cán bộ
chuyên môn y tế, mầm non, thuế công tác tại xã không thuộc đối tượng điều chỉnh của
Nghị định 50/CP, y tế phải chịu sự quản lý song trùng thực chất đang rơi vào
tình cảnh chung chiêng của sự quản giữa ngành cấp; giữa trung tâm y tế cấp
huyện (quản lý về cơ sở vật chất, nhân sự, tiền lương và chuyên môn) và UBND cấp xã
(quản lý về kế hoạch). Vấn đề giáo viên mầm non ở xã còn nhiều tồn tại bất cập. Cùng
là giáo viên, cùng số giờ lên lớp và cùng trình độ nhưng chế độ giáo viên mầm non
phường (đô thị) khác ở khu vực xã (nông thôn).
Tương tự như Nghị định 46/CP, Nghị định 50/CP quy định chế độ sinh hoạt p
của cán bộ xã đương chức, trợ cấp hàng tháng của cán bộ xã nghỉ chế độ theo Quyết
định 130/CP và Quyết định 111/HĐBT do ngân sách xã chi trả, nếu thiếu thì ngân sách
cấp trên hỗ trợ. Cán bộ xã thuộc diện đối tượng được Nhà nước quy định nếu có ít nhất
5 năm công tác liên tục và không bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên, khi nghỉ công
tác cũng chỉ được xét trợ cấp 1 lần, không hưởng trợ cấp hàng tháng. Đây cũng chính là
2 vấn đề tồn tại đáng quan tâm tháo gỡ.
Thứ nhất, ngân sách cấp xã không tự cân đối được. Mặt khác cấp huyện và tỉnh
cũng chưa đủ khả năng cân đối được ngân sách dẫn đến tình trạng nợ đọng sinh hoạt
Về số lượng và đối tượng cán bộ xã hưởng sinh hoạt phí được tăng thêm so với Nghị định 46/CP (từ 17 - 25 cán bộ Đảng, chính quyền, quy định rõ 4 cán bộ chuyên môn của UBND và cấp trưởng của 5 đoàn thể). Quy định này phù hợp với thực tế hơn so với Nghị định 46/CP. Về chế độ sinh hoạt phí được phân thành 4 mức theo các chức danh cán bộ và đã được nâng cao hơn so với trước. Cán bộ xã được hưởng phụ cấp tái cử cùng một chức vụ sau 5 năm công tác. Tuy các quy định này đã thể hiện sự cải tiến một bước so với Nghị định 46/CP, song mức sinh hoạt phí so với mặt bằng chung thì vẫn còn thấp, chưa đáp ứng nguyện vọng cán bộ xã, chế độ phụ cấp tái cử quy định "cứng" hơn so với chế độ tái cử ở các cấp khác. Cán bộ y tế cùng với trạm y tế xã vốn trước đây được coi là một bộ phận không thể tách rời của cấp cơ sở, chịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ, UBND cùng cấp. Khi có thông tư 97/TTLB/TCCB CP-TC hướng dẫn thực hiện Nghị định 50/CP thì cán bộ chuyên môn y tế, mầm non, thuế công tác tại xã không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định 50/CP, y tế xã phải chịu sự quản lý song trùng mà thực chất đang rơi vào tình cảnh chung chiêng của sự quản lý giữa ngành và cấp; giữa trung tâm y tế cấp huyện (quản lý về cơ sở vật chất, nhân sự, tiền lương và chuyên môn) và UBND cấp xã (quản lý về kế hoạch). Vấn đề giáo viên mầm non ở xã còn nhiều tồn tại bất cập. Cùng là giáo viên, cùng số giờ lên lớp và cùng trình độ nhưng chế độ giáo viên mầm non ở phường (đô thị) khác ở khu vực xã (nông thôn). Tương tự như Nghị định 46/CP, Nghị định 50/CP quy định chế độ sinh hoạt phí của cán bộ xã đương chức, trợ cấp hàng tháng của cán bộ xã nghỉ chế độ theo Quyết định 130/CP và Quyết định 111/HĐBT do ngân sách xã chi trả, nếu thiếu thì ngân sách cấp trên hỗ trợ. Cán bộ xã thuộc diện đối tượng được Nhà nước quy định nếu có ít nhất 5 năm công tác liên tục và không bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên, khi nghỉ công tác cũng chỉ được xét trợ cấp 1 lần, không hưởng trợ cấp hàng tháng. Đây cũng chính là 2 vấn đề tồn tại đáng quan tâm tháo gỡ. Thứ nhất, ngân sách cấp xã không tự cân đối được. Mặt khác cấp huyện và tỉnh cũng chưa đủ khả năng cân đối được ngân sách dẫn đến tình trạng nợ đọng sinh hoạt
phí và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã ở nhiều nơi trong tỉnh, gây tác động thiếu
an tâm công tác đối với cán bộ xã. Dẫn đếnnh trạng xu hướng đùn đẩy việc của cán bộ
cho xóm, tổ dân phố làm.
Thứ hai, chủ trương của Chính phủ không quy định chế độ "già yếu nghỉ việc"
được hưởng trợ cấp hàng tháng như trước khi thi hành Nghị định 46/CP. Đối với cán bộ
xã thuộc các đối tượng theo quy định của Nhà nước khi nghỉ việc chỉ được hưởng chế
độ trợ cấp 1 lần, nhằm tạo khả năng tự điều tiết đối với ngân sách xã. Giảm bớt đối
tượng cán bộ hưởng trợ cấp thường xuyên khi nghỉ việc, bớt gánh nặng đối với ngân
sách xã. Song với quy định này, cán bộ xã cho rằng họ chưa được hưởng sự công bằng
về chế độ chính sách như cán bộ các cấp khác, tâm lý thiếu phấn khởi khi đương chức
cũng như khi nghỉ công tác. Mặt khác chế độ như vậy cũng là một trở lực, không tạo
được sức cuốn hút đối với tầng lớp trẻ được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn
tham gia công tác và gắn bó với cấp cơ sở, nhất là ở nông thôn, xu hướng thoát ly địa
phương khá phổ biến.
thể nhận thấy chủ trương của Chính phủ trong quá trình ban hành 2 Nghị
định 46/CP và 50/CP nhằm tinh giảm, gọn nhẹ bộ máy cấp tiết kiệm chi ngân
sách đối với cấp xã là hết sức rõ ràng. Nhưng thắt chặt cả về biên chế cán bộ, về mức
sinh hoạt phí và chế độ chính sách là chưa phù hợp với thực tiễn và đặc thù của nước
ta; chưa thấy được vai trò quan trọng và to lớn của cán bộ cấp cơ sở. Việc hoạch định
chế độ chính sách đối với cán bộ xã thiếu tính toàn diện và sự nghiên cứu đồng bộ nên
các chế độ chính sách ban hành chưa có tính khả thi cao, thiếu sự ổn định, chưa tương
xứng với vai trò to lớn của cấp cơ sở. Chính phủ đã điều chỉnh và sửa đổi theo Nghị
định 09/CP ngày 23/1/1998. Nghị định 09/CP/1998 quy định chế độ sinh hoạt phí đối
với cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) như sau:
"- Xã dưới 10 ngàn dân có từ 17 đến 19 cán bộ
- Xã từ 10 ngàn đến 20 ngàn dân có từ 19 đến 21 cán bộ
- Xã trên 20 ngàn dân, cứ thêm 3000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không quá 25 cán
bộ". Chính phủ đã giao cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ quy
định nói trên và đặc điểm tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương để
phí và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã ở nhiều nơi trong tỉnh, gây tác động thiếu an tâm công tác đối với cán bộ xã. Dẫn đến tình trạng có xu hướng đùn đẩy việc của cán bộ xã cho xóm, tổ dân phố làm. Thứ hai, chủ trương của Chính phủ không quy định chế độ "già yếu nghỉ việc" được hưởng trợ cấp hàng tháng như trước khi thi hành Nghị định 46/CP. Đối với cán bộ xã thuộc các đối tượng theo quy định của Nhà nước khi nghỉ việc chỉ được hưởng chế độ trợ cấp 1 lần, nhằm tạo khả năng tự điều tiết đối với ngân sách xã. Giảm bớt đối tượng cán bộ hưởng trợ cấp thường xuyên khi nghỉ việc, bớt gánh nặng đối với ngân sách xã. Song với quy định này, cán bộ xã cho rằng họ chưa được hưởng sự công bằng về chế độ chính sách như cán bộ các cấp khác, tâm lý thiếu phấn khởi khi đương chức cũng như khi nghỉ công tác. Mặt khác chế độ như vậy cũng là một trở lực, không tạo được sức cuốn hút đối với tầng lớp trẻ được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn tham gia công tác và gắn bó với cấp cơ sở, nhất là ở nông thôn, xu hướng thoát ly địa phương khá phổ biến. Có thể nhận thấy chủ trương của Chính phủ trong quá trình ban hành 2 Nghị định 46/CP và 50/CP nhằm tinh giảm, gọn nhẹ bộ máy cấp xã và tiết kiệm chi ngân sách đối với cấp xã là hết sức rõ ràng. Nhưng thắt chặt cả về biên chế cán bộ, về mức sinh hoạt phí và chế độ chính sách là chưa phù hợp với thực tiễn và đặc thù của nước ta; chưa thấy được vai trò quan trọng và to lớn của cán bộ cấp cơ sở. Việc hoạch định chế độ chính sách đối với cán bộ xã thiếu tính toàn diện và sự nghiên cứu đồng bộ nên các chế độ chính sách ban hành chưa có tính khả thi cao, thiếu sự ổn định, chưa tương xứng với vai trò to lớn của cấp cơ sở. Chính phủ đã điều chỉnh và sửa đổi theo Nghị định 09/CP ngày 23/1/1998. Nghị định 09/CP/1998 quy định chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) như sau: "- Xã dưới 10 ngàn dân có từ 17 đến 19 cán bộ - Xã từ 10 ngàn đến 20 ngàn dân có từ 19 đến 21 cán bộ - Xã trên 20 ngàn dân, cứ thêm 3000 dân thêm 1 cán bộ, tối đa không quá 25 cán bộ". Chính phủ đã giao cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ quy định nói trên và đặc điểm tình hình, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương để
quy định cán bộ cụ thể phù hợp với từng loại xã, trong đó có 4 chức danh chuyên môn:
Địa chính, tư pháp, tài chính - kế toán, văn phòng UBND xã.
Thực hiện chủ trương trên, ngày 26/10/1998, UBND tỉnh Thái Bình đã có quyết
định số 607/1998/QĐ-UB bố trí cán bộ chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã,
phường, thị trấn của tỉnh như sau:
Xã dưới 10 ngàn dân bố trí 19 cán bộ gồm:
1- Bí thư Đảng uỷ kiêm chủ tịch HĐND xã
2- Phó bí thư Đảng uỷ xã
3- Phó chủ tịch HĐND xã
4- Chủ tịch UBND xã
5- Phó chủ tịch UBND xã phụ trách khối nội chính trực tiếp làm trưởng công an
và phụ trách công tác tư pháp.
6- Uỷ viên UBND xã phụ trách khối văn hoá xã hội trực tiếp làm cán bộ văn hóa
thông tin, thể thao.
7- Uỷ viên UBND xã phụ trách quân sự, trực tiếp làm xã đội trưởng.
8- Uỷ vn UBND phụ trách tài chính, trực tiếp làm trưởng ban tài chính.
9- Uỷ viên UBND xã làm công tác lao động, thương binh xã hội và bảo hiểm xã
hội.
10- Uỷ viên UBND xã làm phó công an xã.
11- Cán bộ địa chính (chuyên môn) và công tác giao thông thuỷ lợi, xây dựng cơ
bản, thủ công nghiệp, điện lực.
12- Cán bộ tài chính - kế toán (chuyên môn)
13- Cán bộ tư pháp, hộ tịch (chuyên môn)
14- Cán bộ văn phòng Đảng uỷ, văn phòng HĐND, UBND và thống kê tổng hợp
(chuyên môn).
quy định cán bộ cụ thể phù hợp với từng loại xã, trong đó có 4 chức danh chuyên môn: Địa chính, tư pháp, tài chính - kế toán, văn phòng UBND xã. Thực hiện chủ trương trên, ngày 26/10/1998, UBND tỉnh Thái Bình đã có quyết định số 607/1998/QĐ-UB bố trí cán bộ và chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn của tỉnh như sau: Xã dưới 10 ngàn dân bố trí 19 cán bộ gồm: 1- Bí thư Đảng uỷ kiêm chủ tịch HĐND xã 2- Phó bí thư Đảng uỷ xã 3- Phó chủ tịch HĐND xã 4- Chủ tịch UBND xã 5- Phó chủ tịch UBND xã phụ trách khối nội chính trực tiếp làm trưởng công an và phụ trách công tác tư pháp. 6- Uỷ viên UBND xã phụ trách khối văn hoá xã hội trực tiếp làm cán bộ văn hóa thông tin, thể thao. 7- Uỷ viên UBND xã phụ trách quân sự, trực tiếp làm xã đội trưởng. 8- Uỷ viên UBND xã phụ trách tài chính, trực tiếp làm trưởng ban tài chính. 9- Uỷ viên UBND xã làm công tác lao động, thương binh xã hội và bảo hiểm xã hội. 10- Uỷ viên UBND xã làm phó công an xã. 11- Cán bộ địa chính (chuyên môn) và công tác giao thông thuỷ lợi, xây dựng cơ bản, thủ công nghiệp, điện lực. 12- Cán bộ tài chính - kế toán (chuyên môn) 13- Cán bộ tư pháp, hộ tịch (chuyên môn) 14- Cán bộ văn phòng Đảng uỷ, văn phòng HĐND, UBND và thống kê tổng hợp (chuyên môn).
15- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã
16- Chủ tịch hội phụ nữ xã
17- Chủ tịch hội nông dân xã
18- Chủ tịch hội cựu chiến binh xã
19- Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Xã có từ 10 ngàn dân trở lên... có thêm 2 cán bộ: 1 cán bộ làm công tác thông
tin, văn hoá, thể thao; 1 cán bộ làm công tác giao thông thuỷ lợi, xây dựng cơ bản, điện
lực, thủ công nghiệp.
Quyết định trên cũng quy định 19 chức danh cán bộ phường với những phường
ới 10 ngànn và 21 chức danh với phường trên 10 ngàn dân.
Cơ chế tổ chức bộ máy của xã như trên có ưu điểm là đã bỏ được cấp trung gian
các ban chuyên môn, các thành viên UBND xã trực tiếp phụ trách giải quyết công
việc với xóm trưởng và người dân. Do sát dân, gần dân nên công việc nhanh nhạy, hiệu
lực hiệu quả rõ hơn, giảm bớt quan liêu xa rời quần chúng. Do tổ chức xóm được củng
cố, xóm trưởng giúp UBND giải quyết một số công việc hành chính, vừa quy tụ
được các chi hội đoàn thể quần chúng, tạo ra sức tổng hợp khi đưa các chủ trương
chính sách vào quần chúng.
- Mức sinh hoạt phí của cán bộ xã và mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ
đã nghỉ việc theo quyết định 130/CP và quyết định 111/HĐBT trước đây được điều
chỉnh rõ rệt, nhìn chung có sự hợp lý hơn trước. Chế độ sinh hoạt phí của cán bộ xã và
trợ cấp hàng tháng được ngân sách Nhà nước bảo đảm chi trả qua hệ thống kho bạc,
khắc phục tình trạng nợ đọng triền miên diễn ra ở nhiều xã trước đây.
Bốn chức danh cán bộ chuyên môn của UBND xã được tiếp tục khẳng định mục
tiêu chuyên môn hoá, ổn định lâu dài bằng việc có những quy định chặt chẽ trong tuyển
dụng, quản lý, sử dụng và chế độ sinh hoạt phí được vận dụng theo ngạch, bậc lương
của cán bộ khu vực hành chính có cùng trình độ chuyên môn đào tạo và cùng được xét
nâng mức sinh hoạt phí cứ sau 5 năm công tác.
15- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã 16- Chủ tịch hội phụ nữ xã 17- Chủ tịch hội nông dân xã 18- Chủ tịch hội cựu chiến binh xã 19- Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Xã có từ 10 ngàn dân trở lên... có thêm 2 cán bộ: 1 cán bộ làm công tác thông tin, văn hoá, thể thao; 1 cán bộ làm công tác giao thông thuỷ lợi, xây dựng cơ bản, điện lực, thủ công nghiệp. Quyết định trên cũng quy định 19 chức danh cán bộ phường với những phường dưới 10 ngàn dân và 21 chức danh với phường trên 10 ngàn dân. Cơ chế tổ chức bộ máy của xã như trên có ưu điểm là đã bỏ được cấp trung gian là các ban chuyên môn, các thành viên UBND xã trực tiếp phụ trách giải quyết công việc với xóm trưởng và người dân. Do sát dân, gần dân nên công việc nhanh nhạy, hiệu lực hiệu quả rõ hơn, giảm bớt quan liêu xa rời quần chúng. Do tổ chức xóm được củng cố, xóm trưởng giúp UBND xã giải quyết một số công việc hành chính, vừa quy tụ được các chi hội đoàn thể quần chúng, tạo ra sức tổng hợp khi đưa các chủ trương chính sách vào quần chúng. - Mức sinh hoạt phí của cán bộ xã và mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo quyết định 130/CP và quyết định 111/HĐBT trước đây được điều chỉnh rõ rệt, nhìn chung có sự hợp lý hơn trước. Chế độ sinh hoạt phí của cán bộ xã và trợ cấp hàng tháng được ngân sách Nhà nước bảo đảm chi trả qua hệ thống kho bạc, khắc phục tình trạng nợ đọng triền miên diễn ra ở nhiều xã trước đây. Bốn chức danh cán bộ chuyên môn của UBND xã được tiếp tục khẳng định mục tiêu chuyên môn hoá, ổn định lâu dài bằng việc có những quy định chặt chẽ trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng và chế độ sinh hoạt phí được vận dụng theo ngạch, bậc lương của cán bộ khu vực hành chính có cùng trình độ chuyên môn đào tạo và cùng được xét nâng mức sinh hoạt phí cứ sau 5 năm công tác.