Luận văn Thạc sĩ Luật học: Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam

5,110
358
96
64
kinh nghiệm của pháp luật quốc tế và của các nước chưa được thực hiện hiệu
quả do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, xã hội và dân quan trọng
nhất là trình độ kinh tế - xã hội của nước ta vẫn chưa theo kịp với các nước
trên thế giới.
Cùng với việc chỉ ra các hạn chế của luật pháp đã nêu ở trên, việc thực
thi nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về TNLĐ, BNN điều kiện
quan trọng nhằm phòng ngừa và giảm thiểu TNLĐ, BNN. Qua phân tích
trên thể thấy, việc thực thi các quy định này trên thực tế vẫn còn thiếu
nghiêm túc, đặc biệt việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐ- yếu tố tiên
quyết ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình TNLĐ, BNN xảy ra. Nguyên nhân là
do nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động và người lao động trong
việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ cũng như việc buông lỏng quản lý
nhà nước trong lĩnh vực này, dẫn đến cơ chế quản lý TNLĐ, BNN còn thiếu
hiệu quả, công tác tuyên truyền pháp luật về ATVSLĐ chưa được thực hiện
tốt. Chính những kẽ hở trong quy định của pháp luật và sự yếu kém trong
việc thực hiện chế độ TNLĐ, BNN trên thực tế mà số vụ TNLĐ và BNN xảy
ra ngày càng nhiều, con số bị thương nặng và tử vong vẫn ở mức cao.
Chính vậy, việc phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về
TNLĐ, BNN và việc thực thi các quy định đó trên thực tế có một ý nghĩa vô
cùng quan trọng, nhằm khắc phục những vấn đề còn yếu, thiếu trong quy định
pháp luật, chỉ ra những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của việc thực thi chế
độ TNLĐ, BNN, nâng cao ý thức của người lao động, người sử dụng lao
động, các cơ quan hữu quan và toàn xã hội về vai trò của công tác an toàn vệ
sinh lao động và bảo hộ lao động, từ đó tiến tới giảm thiểu TNLĐ, BNN, góp
phần bảo đảm an toàn xã hội.
64 kinh nghiệm của pháp luật quốc tế và của các nước chưa được thực hiện hiệu quả do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, xã hội và dân cư mà quan trọng nhất là trình độ kinh tế - xã hội của nước ta vẫn chưa theo kịp với các nước trên thế giới. Cùng với việc chỉ ra các hạn chế của luật pháp đã nêu ở trên, việc thực thi nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về TNLĐ, BNN là điều kiện quan trọng nhằm phòng ngừa và giảm thiểu TNLĐ, BNN. Qua phân tích ở trên có thể thấy, việc thực thi các quy định này trên thực tế vẫn còn thiếu nghiêm túc, đặc biệt là việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐ- yếu tố tiên quyết ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình TNLĐ, BNN xảy ra. Nguyên nhân là do nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động và người lao động trong việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ cũng như việc buông lỏng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, dẫn đến cơ chế quản lý TNLĐ, BNN còn thiếu hiệu quả, công tác tuyên truyền pháp luật về ATVSLĐ chưa được thực hiện tốt. Chính vì những kẽ hở trong quy định của pháp luật và sự yếu kém trong việc thực hiện chế độ TNLĐ, BNN trên thực tế mà số vụ TNLĐ và BNN xảy ra ngày càng nhiều, con số bị thương nặng và tử vong vẫn ở mức cao. Chính vì vậy, việc phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về TNLĐ, BNN và việc thực thi các quy định đó trên thực tế có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm khắc phục những vấn đề còn yếu, thiếu trong quy định pháp luật, chỉ ra những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của việc thực thi chế độ TNLĐ, BNN, nâng cao ý thức của người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan hữu quan và toàn xã hội về vai trò của công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo hộ lao động, từ đó tiến tới giảm thiểu TNLĐ, BNN, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TAI NẠN
LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Như đã phân tích chương II, chế độ TNLĐ, BNN hiện hành Việt
Nam đang ngày càng được hoàn thiện và phát huy vai trò là cơ sở pháp lý để
giải quyết quyền lợi của người lao động bị TNLĐ, BNN. Tuy nhiên qua thực
tiễn thực hiện, chế độ TNLĐ, BNN đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, gây k
khăn và bất cập đối với người lao động, người sử dụng lao động quan
BHXH. Chính vậy, cần khắc phục những vấn đề còn yếu, thiếu trong quy
định của pháp luật để nâng cao hiệu quả việc thực thi trên thực tế.
3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
Chế độ TNLĐ, BNN hiện nay được quy định trong Bộ luật Lao động
Luật Bảo hiểm xã hội. Quá trình thực hiện chế độ TNLĐ cho thấy mọi
trường hợp bị TNLĐ của người lao động tham gia BHXH bắt buộc gắn với
quá trình lao động (kể cả trường hợp bị tai nạn trên đường đi và về từ nơi
đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và quãng đường hợp lý) đều được
quỹ BHXH chi trả. Nội dung chi trả các khoản trợ cấp nhằm bù đắp một phần
hoặc thay thế thu nhập từ quỹ BHXH khá đầy đủ thông qua chi trả trợ cấp
một lần hoặc trợ cấp hàng tháng. Ngoài ra, bị suy giảm khả năng lao động từ
81% trong một số trường hợp cũng được hưởng trợ cấp người phục vụ; bị tổn
thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp
sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật mà
sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ; người hưởng
trợ cấp TNLĐ hàng tháng mà nghỉ việc thì được hưởng bảo hiểm y tế
người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bị chết do TNLĐ, người nghỉ
nghỉ việc đang hưởng trợ cấp TNLĐ hàng tháng với mức suy giảm khả năng
65 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM Như đã phân tích ở chương II, chế độ TNLĐ, BNN hiện hành ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện và phát huy vai trò là cơ sở pháp lý để giải quyết quyền lợi của người lao động bị TNLĐ, BNN. Tuy nhiên qua thực tiễn thực hiện, chế độ TNLĐ, BNN đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, gây khó khăn và bất cập đối với người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH. Chính vì vậy, cần khắc phục những vấn đề còn yếu, thiếu trong quy định của pháp luật để nâng cao hiệu quả việc thực thi trên thực tế. 3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Chế độ TNLĐ, BNN hiện nay được quy định trong Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Quá trình thực hiện chế độ TNLĐ cho thấy mọi trường hợp bị TNLĐ của người lao động tham gia BHXH bắt buộc gắn với quá trình lao động (kể cả trường hợp bị tai nạn trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và quãng đường hợp lý) đều được quỹ BHXH chi trả. Nội dung chi trả các khoản trợ cấp nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ quỹ BHXH khá đầy đủ thông qua chi trả trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng. Ngoài ra, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trong một số trường hợp cũng được hưởng trợ cấp người phục vụ; bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ; người hưởng trợ cấp TNLĐ hàng tháng mà nghỉ việc thì được hưởng bảo hiểm y tế và người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bị chết do TNLĐ, người nghỉ nghỉ việc đang hưởng trợ cấp TNLĐ hàng tháng với mức suy giảm khả năng
66
lao động 61% trở lên khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất từ quỹ
BHXH. Mức trợ cấp TNLĐ, BNN một lần, hàng tháng từ quỹ BHXH theo
quy định hiện nay đảm bảo tính hợp lý, công bằng, đảm bảo được nguyên tắc
mức hưởng trên cơ sở mức đóng BHXH do vừa tính theo số năm đóng BHXH
tiền lương, tiền công đóng BHXH; vừa tính theo tỷ lệ % suy giảm khả
năng lao động trên cơ sở mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định.
Quy định khi người lao động bị TNLĐ được giám định hoặc được giám
định lại mức suy giảm khả năng lao động sau khi thương tật đã được điều trị
ổn định hoặc thương tật tái phát được giám định tổng hợp mức suy giảm
khả năng lao động khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TN nhiều lần, bị
nhiều BNN đã được thực hiện không còn vướng mắc như trước đây.
Quy định người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác BHLĐ, phòng
ngừa TNLĐ được khen thưởng từ quỹ BHXH, bước đầu khuyến khích để các
đơn vị quan tâm hơn đến công tác an toàn BHLĐ. Việc hình thành quỹ
TNLĐ, BNN là quỹ thành phần của quỹ BHXH được được quản lý thống
nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trên cơ sở tính toán cân đối lâu dài đảm
bảo nguồn kinh phí chi trả trợ cấp TNLĐ, BNN, không ảnh hưởng đến người
sử dụng lao động và người lao động.
Quy định cụ thể về hồ sơ, trách nhiệm, thời hạn giải quyết hưởng chế
độ TNLĐ đơn giản, thuận lợi, dễ dàng, bảo đảm kịp thời, đầy đủ quyền lợi
cho người lao động, áp dụng chương trình công nghệ thông tin thống nhất
trong cả nước để xét duyệt các chế độ bảo hiểm hội trong đó chế độ
TNLĐ, BNN.
Việc quy định quỹ BHXH chi trả trợ cấp TNLĐ, BNN cho người b
TNLĐ, BNN từ sau khi điều trị ổn định, còn trong thời gian điều trị TNLĐ,
BNN thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động nhằm tăng cường trách
66 lao động 61% trở lên khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất từ quỹ BHXH. Mức trợ cấp TNLĐ, BNN một lần, hàng tháng từ quỹ BHXH theo quy định hiện nay đảm bảo tính hợp lý, công bằng, đảm bảo được nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng BHXH do vừa tính theo số năm đóng BHXH và tiền lương, tiền công đóng BHXH; vừa tính theo tỷ lệ % suy giảm khả năng lao động trên cơ sở mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định. Quy định khi người lao động bị TNLĐ được giám định hoặc được giám định lại mức suy giảm khả năng lao động sau khi thương tật đã được điều trị ổn định hoặc thương tật tái phát và được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi vừa bị TNLĐ vừa bị BNN, bị TNLĐ nhiều lần, bị nhiều BNN đã được thực hiện không còn vướng mắc như trước đây. Quy định người sử dụng lao động thực hiện tốt công tác BHLĐ, phòng ngừa TNLĐ được khen thưởng từ quỹ BHXH, bước đầu khuyến khích để các đơn vị quan tâm hơn đến công tác an toàn BHLĐ. Việc hình thành quỹ TNLĐ, BNN là quỹ thành phần của quỹ BHXH và được được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch trên cơ sở tính toán cân đối lâu dài đảm bảo nguồn kinh phí chi trả trợ cấp TNLĐ, BNN, không ảnh hưởng đến người sử dụng lao động và người lao động. Quy định cụ thể về hồ sơ, trách nhiệm, thời hạn giải quyết hưởng chế độ TNLĐ đơn giản, thuận lợi, dễ dàng, bảo đảm kịp thời, đầy đủ quyền lợi cho người lao động, áp dụng chương trình công nghệ thông tin thống nhất trong cả nước để xét duyệt các chế độ bảo hiểm xã hội trong đó có chế độ TNLĐ, BNN. Việc quy định quỹ BHXH chi trả trợ cấp TNLĐ, BNN cho người bị TNLĐ, BNN từ sau khi điều trị ổn định, còn trong thời gian điều trị TNLĐ, BNN thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động nhằm tăng cường trách
67
nhiệm của người sử dụng lao động đối với công tác an toàn, BHLĐ giảm
thiểu TNLĐ, BNN, ngăn chặn việc lạm dụng trong việc thực hiện chế độ
TNLĐ, BNN.
Tuy nhiên, chế độ TNLĐ, BNN hiện nay cũng bộc lộ những hạn chế
nhất định trong thể chế cũng như thực tiễn áp dụng. Như đã phân tích
chương II, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn hạn chế. Các quy
định về đối tượng được hưởng chế độ TNLĐ, chế bồi thường trợ cấp
TNLĐ, BNN vẫn còn chưa đầy đủ. Cách xác định TNLĐ, quy định về tỷ lệ
hưởng trợ cấp TNLĐ BNN chưa hợp lý. chế quản TNLĐ, BNN,
kiểm tra, giám sát; cơ chế giải quyết, xử phạt vi phạm liên quan đến TNLĐ,
BNN vẫn còn tồn tại yếu kém. Công tác tuyên truyền pháp luật về bảo hộ lao
động, ATVSLĐ chưa được thực hiện tốt.
Bên cạnh đó, việc tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ của phần lớn các
doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm túc. Nhiều doanh nghiệp thực hiện các
quy định pháp luật về ATVSLĐ chỉ mang tính chất chống đối, dẫn đến số vụ
TNLĐ và số BNN ngày càng tăng cao.
Để pháp luật về chế độ TNLĐ, BNN phát huy hiệu quả, thực sự là cơ
sở để bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và
cơ quan BHXH, cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực hiện chế độ TNLĐ, BNN.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp ở Việt Nam
Như đã phân tích ở chương II, chế độ TNLĐ, BNN còn nhiều tồn tại do
còn nhiều bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành, đó là các hạn
chế về đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN, mức trợ cấp TNLĐ, BNN, cách
xác định TNLĐ, cơ chế bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN, tỷ lệ hưởng trợ cấp
67 nhiệm của người sử dụng lao động đối với công tác an toàn, BHLĐ giảm thiểu TNLĐ, BNN, ngăn chặn việc lạm dụng trong việc thực hiện chế độ TNLĐ, BNN. Tuy nhiên, chế độ TNLĐ, BNN hiện nay cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong thể chế cũng như thực tiễn áp dụng. Như đã phân tích ở chương II, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn hạn chế. Các quy định về đối tượng được hưởng chế độ TNLĐ, cơ chế bồi thường và trợ cấp TNLĐ, BNN vẫn còn chưa đầy đủ. Cách xác định TNLĐ, quy định về tỷ lệ hưởng trợ cấp TNLĐ và BNN chưa hợp lý. Cơ chế quản lý TNLĐ, BNN, kiểm tra, giám sát; cơ chế giải quyết, xử phạt vi phạm liên quan đến TNLĐ, BNN vẫn còn tồn tại yếu kém. Công tác tuyên truyền pháp luật về bảo hộ lao động, ATVSLĐ chưa được thực hiện tốt. Bên cạnh đó, việc tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm túc. Nhiều doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về ATVSLĐ chỉ mang tính chất chống đối, dẫn đến số vụ TNLĐ và số BNN ngày càng tăng cao. Để pháp luật về chế độ TNLĐ, BNN phát huy hiệu quả, thực sự là cơ sở để bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ TNLĐ, BNN. 3.2. Các giải pháp hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam Như đã phân tích ở chương II, chế độ TNLĐ, BNN còn nhiều tồn tại do còn có nhiều bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành, đó là các hạn chế về đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN, mức trợ cấp TNLĐ, BNN, cách xác định TNLĐ, cơ chế bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNN, tỷ lệ hưởng trợ cấp
68
của chế độ TNLĐ, BNN, chế giải quyết, xử phạt vi phạm liên quan đến
TNLĐ, BNN. Để phát huy mục đích bảo đảm quyền lợi cho người lao động
khi gặp rủi ro trong quá trình lao động, chế độ TNLĐ, BNN cần khắc phục
được những hạn chế hiện tại và hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với điều kiện,
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước.
Như vậy để hạn chế TNLĐ, BNN trên thực tế cần phải hoàn thiện pháp
luật về chế độ TNLĐ, BNN cũng như tăng cường hiệu quả của việc thực thi
pháp luật về TNLĐ, BNN trên thực tế.
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện chế đ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
a. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy định pháp luật về an toàn, vệ
sinh lao động; nghiên cứu xây dựng Luật An toàn vệ sinh lao động
Phòng ngừa TNLĐ, BNN, cải thiện, đảm bảo đời sống cho người lao
động là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam. Hiện nay người lao động phải làm việc trong môi
trường nguy hiểm, độc hại, có nguy mất an toàn cao. Trong đó, TNLĐ,
BNN xu hướng tăng về số lượng mức độ nghiêm trọng, công tác
ATVSLĐ ngày càng trở lên cấp thiết. Vì vậy, việc nhanh chóng xây dựng một
quy chuẩn dưới hình thức Luật An toàn vệ sinh lao động tránh sự bất cập,
chồng chéo, phân tán là một trong những yếu tố then chốt đảm bảo quyền lợi
cho người lao động. Hiện nay nội dung về ATVSLĐ được quy định trong
nhiều văn bản luật của các Bộ, ngành khác nhau. Các văn bản này tuy khá đầy
đủ, nhưng phân tán, tạo ra một hệ thống phức tạp, chồng chéo, gây khó khăn
cho việc thực thi. Việc xây dựng một đạo luật riêng về ATVSLĐ sẽ làm đơn
giản hóa thủ tục hành chính, chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng
lao động, người lao động các đối tượng liên quan nhằm đảm bảo sự phối
hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành… góp phần làm cho khung pháp lý về
68 của chế độ TNLĐ, BNN, cơ chế giải quyết, xử phạt vi phạm liên quan đến TNLĐ, BNN. Để phát huy mục đích bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro trong quá trình lao động, chế độ TNLĐ, BNN cần khắc phục được những hạn chế hiện tại và hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy để hạn chế TNLĐ, BNN trên thực tế cần phải hoàn thiện pháp luật về chế độ TNLĐ, BNN cũng như tăng cường hiệu quả của việc thực thi pháp luật về TNLĐ, BNN trên thực tế. 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp a. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; nghiên cứu xây dựng Luật An toàn vệ sinh lao động Phòng ngừa TNLĐ, BNN, cải thiện, đảm bảo đời sống cho người lao động là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Hiện nay người lao động phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại, có nguy cơ mất an toàn cao. Trong đó, TNLĐ, BNN có xu hướng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng, công tác ATVSLĐ ngày càng trở lên cấp thiết. Vì vậy, việc nhanh chóng xây dựng một quy chuẩn dưới hình thức Luật An toàn vệ sinh lao động tránh sự bất cập, chồng chéo, phân tán là một trong những yếu tố then chốt đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Hiện nay nội dung về ATVSLĐ được quy định trong nhiều văn bản luật của các Bộ, ngành khác nhau. Các văn bản này tuy khá đầy đủ, nhưng phân tán, tạo ra một hệ thống phức tạp, chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực thi. Việc xây dựng một đạo luật riêng về ATVSLĐ sẽ làm đơn giản hóa thủ tục hành chính, chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và các đối tượng liên quan nhằm đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành… góp phần làm cho khung pháp lý về
69
ATVSLĐ của Việt Nam ngày càng trở lên mạnh mẽ hơn, góp phần quan
trọng vào việc phòng ngừa TNLĐ, BNN
Bên cạnh đó cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện xã hội hoá
công tác ATVSLĐ gắn với tăng cường vai trò quản nhà nước đối với các
hoạt động ATVSLĐ; xây dựng ban hành hướng dẫn hệ thống quản
ATVSLĐ; xây dựng chế, chính sách khuyến khích đầu cải thiện điều
kiện lao động, sử dụng công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến nhằm hạn chế ô
nhiễm môi trường lao động, bảo vệ người lao động.
b. Quy định cụ thể các trường hợp tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
Cần có quy định cụ thể, rõ ràng về “thời gian hợp lý” để việc xác định,
giải quyết vụ TNLĐ được thuận lợi, dễ dàng hơn. Vấn đề tai nạn giao thông
xảy ra trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc nhưng do lỗi của
người lao động cần được pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật. Hiện nay
do thiếu cơ sở pháp lý nên vấn đề này rất khó xử lý trên thực tế.
Trường hợp TNLĐ xảy ra trên tuyến đường đi về từ nơi đến nơi
làm việc của người lao động hiện nay xảy ra rất nhiều, trong khi việc xác định
“tuyến đường đi và về từ nơi đến nơi m việc” rất khó chưa được
pháp luật quy định cụ thể về định nghĩa và cách thức xác định. Trên thực tế,
nhiều trường hợp lợi dụng kẽ hở này của pháp luật hiện hành để yêu cầu giải
quyết chế độ. Do đó quỹ TNLĐ, BNN cũng vì thế mà thâm hụt đáng kể. Các
nhà làm luật có thể nghiên cứu theo hướng xác định tuyến đường đi và về này
trên cơ sở khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc.
Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu bổ sung BNN vào danh mục các
bệnh được bảo hiểm. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp người lao động bị
mắc bệnh phát sinh do điều kiện lao động hại của nghề nghiệp, nhưng
69 ATVSLĐ của Việt Nam ngày càng trở lên mạnh mẽ hơn, góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa TNLĐ, BNN Bên cạnh đó cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện xã hội hoá công tác ATVSLĐ gắn với tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các hoạt động ATVSLĐ; xây dựng và ban hành hướng dẫn hệ thống quản lý ATVSLĐ; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư cải thiện điều kiện lao động, sử dụng công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường lao động, bảo vệ người lao động. b. Quy định cụ thể các trường hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Cần có quy định cụ thể, rõ ràng về “thời gian hợp lý” để việc xác định, giải quyết vụ TNLĐ được thuận lợi, dễ dàng hơn. Vấn đề tai nạn giao thông xảy ra trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc nhưng do lỗi của người lao động cần được pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật. Hiện nay do thiếu cơ sở pháp lý nên vấn đề này rất khó xử lý trên thực tế. Trường hợp TNLĐ xảy ra trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc của người lao động hiện nay xảy ra rất nhiều, trong khi việc xác định “tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc” là rất khó và chưa được pháp luật quy định cụ thể về định nghĩa và cách thức xác định. Trên thực tế, nhiều trường hợp lợi dụng kẽ hở này của pháp luật hiện hành để yêu cầu giải quyết chế độ. Do đó quỹ TNLĐ, BNN cũng vì thế mà thâm hụt đáng kể. Các nhà làm luật có thể nghiên cứu theo hướng xác định tuyến đường đi và về này trên cơ sở khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc. Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu bổ sung BNN vào danh mục các bệnh được bảo hiểm. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp người lao động bị mắc bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp, nhưng
70
không được hưởng quyền lợi theo chế độ BNN, những bệnh này không
nằm trong danh mục BNN được pháp luật quy định.
c. Mở rộng đối tượng hưởng chế độ tai nạn lao động
Mở rộng dần các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nói chung, chế độ
TNLĐ, BNN nói riêng, nhằm đảm bảo mọi người lao động đều quyền
hưởng BHXH khi bị giảm hoặc mất thu nhập.
Nhóm đối tượng người lao động làm việc cho người sử dụng lao động
là cá nhân, người lao động ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng và xã viên hợp
tác xã cũng cần được quy định được hưởng chế độ TNLĐ.
Bên cạnh đó, đối tượng người lao động trong trường hợp cho thuê lại
cũng cần được quan tâm. Hiện nay hoạt động cho thuê lại lao động đã được
pháp luật thừa nhận tại khoản 3 Điều 54 Bộ luật Lao động 2012 và chi tiết tại
Nghị định số 55/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, giải quyết như thế nào trong trường
hợp người lao động cho thuê lại bị TNLĐ, BNN thì vẫn chưa được quy định.
Thiết nghĩ, để bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động thuê lại, cần mở
rộng đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN đến đối tượng này.
d. Xác định lỗi để xác định mức bồi thường thiệt hại đối với tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và lợi ích chính đánh của người lao động
bị TNLĐ, BNN, trách nhiệm trước hết thuộc về người sử dụng lao động, dù
họ lỗi hay không lỗi khi để xảy ra TNLĐ, BNN. Tuy nhiên, việc xác
định lỗi để xảy ra TNLĐ vấn đề khá quan trọng, liên quan trực tiếp đến
quyền lợi của người lao động, bởi nếu lỗi để xảy ra TNLĐ do người sử
dụng lao động thì người lao động được hưởng chế độ bồi thường TNLĐ, còn
nếu lỗi do chính người lao động thì người lao động chỉ được hưởng trợ cấp
TNLĐ với mức hưởng thấp hơn. Tuy nhiên vấn đề này lại chưa được cơ quan
70 không được hưởng quyền lợi theo chế độ BNN, vì những bệnh này không nằm trong danh mục BNN được pháp luật quy định. c. Mở rộng đối tượng hưởng chế độ tai nạn lao động Mở rộng dần các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nói chung, chế độ TNLĐ, BNN nói riêng, nhằm đảm bảo mọi người lao động đều có quyền hưởng BHXH khi bị giảm hoặc mất thu nhập. Nhóm đối tượng người lao động làm việc cho người sử dụng lao động là cá nhân, người lao động ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng và xã viên hợp tác xã cũng cần được quy định được hưởng chế độ TNLĐ. Bên cạnh đó, đối tượng người lao động trong trường hợp cho thuê lại cũng cần được quan tâm. Hiện nay hoạt động cho thuê lại lao động đã được pháp luật thừa nhận tại khoản 3 Điều 54 Bộ luật Lao động 2012 và chi tiết tại Nghị định số 55/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, giải quyết như thế nào trong trường hợp người lao động cho thuê lại bị TNLĐ, BNN thì vẫn chưa được quy định. Thiết nghĩ, để bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động thuê lại, cần mở rộng đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN đến đối tượng này. d. Xác định lỗi để xác định mức bồi thường thiệt hại đối với tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và lợi ích chính đánh của người lao động bị TNLĐ, BNN, trách nhiệm trước hết thuộc về người sử dụng lao động, dù họ có lỗi hay không có lỗi khi để xảy ra TNLĐ, BNN. Tuy nhiên, việc xác định lỗi để xảy ra TNLĐ là vấn đề khá quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, bởi nếu lỗi để xảy ra TNLĐ là do người sử dụng lao động thì người lao động được hưởng chế độ bồi thường TNLĐ, còn nếu lỗi do chính người lao động thì người lao động chỉ được hưởng trợ cấp TNLĐ với mức hưởng thấp hơn. Tuy nhiên vấn đề này lại chưa được cơ quan
71
Nhà nước thẩm quyền hướng dẫn cụ thể trong các văn bản pháp luật về
TNLĐ, điềuy sẽ gây khó khăn cho các quan chức năng trong điều tra,
tạo kẽ hở để người sử dụng lao động lợi dụng.
Bộ luật Lao động 2012, có hiệu lực từ 01/5/2013, tại khoản 4 Điều 145
cũng quy định: Trường hợp TNLĐ, BNN xảy ra do lỗi của người lao động thì
người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy
định trong trường hợp họ không lỗi. Quy định tại Bộ luật Lao động mới
tiếp tục khẳng định chính sách quan tâm của Nhà nước đối với người lao
động, ngay cả khi người lao động bị TNLĐ, BNN do lỗi của bản thân thì vẫn
được hưởng một khoản trợ cấp để bù đắp thu nhập.
Vì vậy, việc xác định lỗi cần phải được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đặc
biệt trường hợp người lao động bị TNLĐ khi đang làm công việc sai phạm
nhưng do người sử dụng lao động chỉ đạo, hoặc người lao động có hành vi vi
phạm nhưng TNLĐ xảy ra là khách quan, hoặc người lao động thực hiện công
việc là do hoàn cảnh bắt buộc, hay trường hợp người lao động bị TNLĐ đang
trên đường đi làm nhiệm vụ mà người sử dụng lao động giao cho và nguyên
nhân gây tai nạn là do người lao động đã sử dụng phương tiện giao thông trái
phép… Trong những trường hợp này lỗi để xảy ra TNLĐ được xác định như
thế nào cần phải được quy định cụ thể để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho
người lao động cũng như các chủ thể khác có liên quan.
d. Quy định về tỷ lệ hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp
Mức trợ cấp TNLĐ, BNN cần quy định riêng cho mỗi chế độ. Cùng
mức độ suy giảm khả năng lao động như nhau, nhưng mức trợ cấp của chế độ
BNN nên cao hơn chế độ TNLĐ. Số tiền trợ cấp cao hơn này để người bị
BNN có thêm tiền bảo đảm sức khỏe, chống chọi với những nguy cơ bệnh tái
phát ngày càng nặng thêm.
71 Nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể trong các văn bản pháp luật về TNLĐ, điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong điều tra, tạo kẽ hở để người sử dụng lao động lợi dụng. Bộ luật Lao động 2012, có hiệu lực từ 01/5/2013, tại khoản 4 Điều 145 cũng quy định: Trường hợp TNLĐ, BNN xảy ra do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định trong trường hợp họ không có lỗi. Quy định tại Bộ luật Lao động mới tiếp tục khẳng định chính sách quan tâm của Nhà nước đối với người lao động, ngay cả khi người lao động bị TNLĐ, BNN do lỗi của bản thân thì vẫn được hưởng một khoản trợ cấp để bù đắp thu nhập. Vì vậy, việc xác định lỗi cần phải được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đặc biệt trường hợp người lao động bị TNLĐ khi đang làm công việc sai phạm nhưng do người sử dụng lao động chỉ đạo, hoặc người lao động có hành vi vi phạm nhưng TNLĐ xảy ra là khách quan, hoặc người lao động thực hiện công việc là do hoàn cảnh bắt buộc, hay trường hợp người lao động bị TNLĐ đang trên đường đi làm nhiệm vụ mà người sử dụng lao động giao cho và nguyên nhân gây tai nạn là do người lao động đã sử dụng phương tiện giao thông trái phép… Trong những trường hợp này lỗi để xảy ra TNLĐ được xác định như thế nào cần phải được quy định cụ thể để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động cũng như các chủ thể khác có liên quan. d. Quy định về tỷ lệ hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Mức trợ cấp TNLĐ, BNN cần quy định riêng cho mỗi chế độ. Cùng mức độ suy giảm khả năng lao động như nhau, nhưng mức trợ cấp của chế độ BNN nên cao hơn chế độ TNLĐ. Số tiền trợ cấp cao hơn này để người bị BNN có thêm tiền bảo đảm sức khỏe, chống chọi với những nguy cơ bệnh tái phát ngày càng nặng thêm.
72
Việc quy định tỷ lệ trợ cấp của người bị BNN cao hơn người bị TNLĐ
vừa đảm bảo “có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH” theo tinh thần
của Luật BHXH, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn trong thực thi chính
sách BHXH. Việc tính toán tiền trợ cấp chế độ TNLĐ và BNN có cơ sở khoa
học và phù hợp thực tế có tác dụng rất lớn đến tâm lý người lao động và chủ
sử dụng lao động trong việc chủ động cải thiện điều kiện lao động, cải thiện
môi trường lao động nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế TNLĐ,
BNN.
e. Xác định lại căn cứ quy định mức đóng, mức hưởng chế độ bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ đóng phí bảo hiểm TNLĐ được phân
theo ngành kinh tế căn cứ vào mức độ xảy ra TNLĐ hàng năm. Ví dụ: Ở Đức,
phí đóng bảo hiểm TNLĐ được phân theo ngành kinh tế tlệ từ 0,4%-
31,9%, trong đó tỷ lệ cao nhất là 31,9% đối với công nghiệp khai thác gỗ,
thấp nhất là 0,4% đối với ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm có mức trung bình
1,49%. Thái Lan, người sử dụng lao động đóng vào quỹ TNLĐ, BNN
với tỷ lệ từ 0,2-2% tiền lương hàng tháng của người lao động. Tỷ lệ đóng góp
dựa trên cơ sở phân loại doanh nghiệp (dựa vào đánh giá nguy cơ gây TNLĐ,
BNN tần suất xảy ra TNLĐ, BNN hàng m của doanh nghiệp) được
định kỳ xem xét, thay đổi căn cứ vào thực chi của từng doanh nghiệp. [21]
Ở các nước Quỹ bồi thường TNLĐ, BNN, pháp luật quy định việc
đóng góp cho Quỹ là bắt buộc nhưng mức đóng góp được xác định trên cơ sở
tần suất TNLĐ, BNN xảy ra từng doanh nghiệp. Điều y tạo ra được sự
chủ động trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa TNLĐ, BNN. Đây
cũng chính là thước đo về trách nhiệm đối với xã hội của doanh nghiệp và th
hiện sự công bằng xã hội. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ,
72 Việc quy định tỷ lệ trợ cấp của người bị BNN cao hơn người bị TNLĐ vừa đảm bảo “có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH” theo tinh thần của Luật BHXH, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn trong thực thi chính sách BHXH. Việc tính toán tiền trợ cấp chế độ TNLĐ và BNN có cơ sở khoa học và phù hợp thực tế có tác dụng rất lớn đến tâm lý người lao động và chủ sử dụng lao động trong việc chủ động cải thiện điều kiện lao động, cải thiện môi trường lao động và có nhiều biện pháp phòng ngừa, hạn chế TNLĐ, BNN. e. Xác định lại căn cứ quy định mức đóng, mức hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ đóng phí bảo hiểm TNLĐ được phân theo ngành kinh tế căn cứ vào mức độ xảy ra TNLĐ hàng năm. Ví dụ: Ở Đức, phí đóng bảo hiểm TNLĐ được phân theo ngành kinh tế có tỷ lệ từ 0,4%- 31,9%, trong đó tỷ lệ cao nhất là 31,9% đối với công nghiệp khai thác gỗ, thấp nhất là 0,4% đối với ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm có mức trung bình là 1,49%. Ở Thái Lan, người sử dụng lao động đóng vào quỹ TNLĐ, BNN với tỷ lệ từ 0,2-2% tiền lương hàng tháng của người lao động. Tỷ lệ đóng góp dựa trên cơ sở phân loại doanh nghiệp (dựa vào đánh giá nguy cơ gây TNLĐ, BNN và tần suất xảy ra TNLĐ, BNN hàng năm của doanh nghiệp) và được định kỳ xem xét, thay đổi căn cứ vào thực chi của từng doanh nghiệp. [21] Ở các nước có Quỹ bồi thường TNLĐ, BNN, pháp luật quy định việc đóng góp cho Quỹ là bắt buộc nhưng mức đóng góp được xác định trên cơ sở tần suất TNLĐ, BNN xảy ra ở từng doanh nghiệp. Điều này tạo ra được sự chủ động trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa TNLĐ, BNN. Đây cũng chính là thước đo về trách nhiệm đối với xã hội của doanh nghiệp và thể hiện sự công bằng xã hội. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ,
73
số người bị TNLĐ, BNN giảm thì doanh nghiệp sẽ đóng góp ít đi, và ngược
lại. [23, tr.40-41].
nước ta, nội dung này đã đang được các quan chức năng
nghiên cứu. Song đến nay, chế độ TNLĐ, BNN ở nước ta nói chung vẫn chưa
áp dụng nội dung này vào thực tế. Mức phí đóng TNLĐ, BNN vẫn quy định
chung cho tất cả các ngành kinh tế, không phân biệt ngành đó có tỷ lệ TNLĐ,
BNN cao hay thấp. Đây vấn đề không hợp cần phải được nghiên cứu,
sửa đổi cho phù hợp, theo hướng phải xuất phát từ điều kiện lao động và môi
trường lao động để làm căn cứ xác lập mức đóng, mức hưởng của chế độ
TNLĐ, BNN .
g. Nâng cao mức phạt vi phạm trong lĩnh vực tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
Về hình thức xử phạt hành vi vi phạm: nên tăng mức phạt tiền cho phù
hợp với sự phát triển chung của xã hội và để đủ sức răn đe những chủ thể có
hành vi vi phạm cũng như những nhân, tổ chức đang ý định vi phạm
phải cân nhắc thiệt hại; bổ sung thêm một số hành vi vi phạm chế độ TNLĐ
như không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình về giải
quyết các chế độ cho người lao động bị TNLĐ như cấp cứu, giám định
thương tật… vào danh mục những vi phạm chế độ TNLĐ bị x phạt hành
chính, bổ sung thêm hình thức xử phạt là đăng thông tin sai phạm lên phương
tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình… đối với những
doanh nghiệp cố ý vi phạm, vi phạm nhiều lần nghiêm trọng, như vậy
doanh nghiệp, cơ sở nào để xảy ra nhiều TNLĐ, có những hành vi vi phạm sẽ
được xã hội biết đến, họ sẽ nhận thức được điều này có thể làm giảm uy tín
của họ trong kinh doanh, làm ảnh hưởng tới chính họ, từ đó công tác BHLĐ
sẽ được chú trọng hơn. Đồng thời những doanh nghiệp làm tốt công tác
ATVSLĐ sẽ phải được tuyên dương, khen thưởng và tuyên truyền rộng rãi.
73 số người bị TNLĐ, BNN giảm thì doanh nghiệp sẽ đóng góp ít đi, và ngược lại. [23, tr.40-41]. Ở nước ta, nội dung này đã và đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu. Song đến nay, chế độ TNLĐ, BNN ở nước ta nói chung vẫn chưa áp dụng nội dung này vào thực tế. Mức phí đóng TNLĐ, BNN vẫn quy định chung cho tất cả các ngành kinh tế, không phân biệt ngành đó có tỷ lệ TNLĐ, BNN cao hay thấp. Đây là vấn đề không hợp lý cần phải được nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp, theo hướng phải xuất phát từ điều kiện lao động và môi trường lao động để làm căn cứ xác lập mức đóng, mức hưởng của chế độ TNLĐ, BNN . g. Nâng cao mức phạt vi phạm trong lĩnh vực tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Về hình thức xử phạt hành vi vi phạm: nên tăng mức phạt tiền cho phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và để đủ sức răn đe những chủ thể có hành vi vi phạm cũng như những cá nhân, tổ chức đang có ý định vi phạm phải cân nhắc thiệt hại; bổ sung thêm một số hành vi vi phạm chế độ TNLĐ như không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình về giải quyết các chế độ cho người lao động bị TNLĐ như sơ cấp cứu, giám định thương tật… vào danh mục những vi phạm chế độ TNLĐ bị xử phạt hành chính, bổ sung thêm hình thức xử phạt là đăng thông tin sai phạm lên phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình… đối với những doanh nghiệp cố ý vi phạm, vi phạm nhiều lần và nghiêm trọng, như vậy doanh nghiệp, cơ sở nào để xảy ra nhiều TNLĐ, có những hành vi vi phạm sẽ được xã hội biết đến, họ sẽ nhận thức được điều này có thể làm giảm uy tín của họ trong kinh doanh, làm ảnh hưởng tới chính họ, từ đó công tác BHLĐ sẽ được chú trọng hơn. Đồng thời những doanh nghiệp làm tốt công tác ATVSLĐ sẽ phải được tuyên dương, khen thưởng và tuyên truyền rộng rãi.