Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Kinh tế ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng từ năm 1986 đến năm 2016

8,908
306
124
73
hình rộng, điều kiện đi lại khó khăn. Đó là loại hình dch v tiên tiến, loi hình này
ph biến, đỉnh cao vào giai đoạn những năm 1997 đến năm 2007. Xây dựng mi
xã, th trn mt phòng giao dch của bưu điện, nơi đây nhận gửi thư từ, các loi giy
t quan trng và chuyển đến, chuyển đi các loại hàng hóa qua đường bưu đin. Hin
nay dch v này được nâng cấp hơn, do nhu cầu mua bán trc tuyến nên dch v
chuyển hàng hóa qua bưu cục phát trin mnh. Các loi giy t chuyn Fax, không
còn ch đợi thư tay như trước, to s tin li cho nhân dân. Kết hp mng Internet
ph biến đến hu hết các xã, các h gia đình chiếm 60% dân toàn huyện. Góp
phần nâng cao trình độ ca nhân dân, tiếp thu các nét văn hóa, khoa học kĩ thuật cho
s phát trin kinh tế ca huyện, đồng thi to điều kin thun li cho các giao dch
ca các công ty, xí nghiệp trên địa bàn huyn Thy Nguyên.
Dch v chăm sóc sức khe, sắc đẹp cho nhân dân. Do nhu cu cuc sng ngày
càng cao, nên việc làm đẹp ca ch em ph n ca huyện cũng ngày càng được quan
tâm. Nhu cầu làm đẹp đã thúc đẩy s ra đời các trung tâm chăm sóc sắc đp lớn như
Qunh Trang - trung tâm thm m ca huyn, ngoài ra còn h thống các spa chăm sóc
sắc đẹp trong toàn huyn. Không ch các spa, các cửa hàng chăm sóc tóc, tạo kiu tóc
cũng mọc khp các ngõ xóm ca huyn. Nhng dch v này giúp không ch cho ph n
đẹp hơn còn góp phần tăng nét đẹp, duyên dáng cho người con gái địa phương.
Ngoài dch v sắc đẹp còn chăm sóc sức khe đã có các bnh viện, đa khoa phòng khám
da trên toàn huyện nhưng tập trung nht là Bnh vin Đa khoa Thủy Nguyên, vi nhiu
loi hình khám bnh, khám bo him, khám dch v, khám yêu cầu…nhiều máy móc
hiện đại được nhp v đáp ứng nhu cu khám cha bnh ca nhân dân.
Còn nhiều loại hình dịch vụ khác, các dch v k thuật để đáp ứng yêu cu sn
xut công nghip, nông nghip, dch v du lịch thương mại. Phấn đấu đến năm
2015 tiếp tc h tr doanh nghip ng dng công ngh thông tin, xây dng website
để giao dịch mua bán trao đổi hàng hóa trên mng (trc tuyến), t chc hi thảo, đào
to, tp hun nâng cao kiến thc v thương mại điện t để 60-80% doanh nghip va
và nh có th tham gia thương mại điện t nhng mc đ khác nhau.
Nhờ triển khai các giải pháp phù hợp, những năm gần đây, hoạt động thương
mại dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản
xuất, sinh hoạt tiêu dùng. Kết cấu hạ tầng thương mại dịch vụ được đầu tư, nâng
cấp. Chất lượng dịch vụ được cải thiện, các loại hình dịch vụ phát triển nhanh
73 hình rộng, điều kiện đi lại khó khăn. Đó là loại hình dịch vụ tiên tiến, loại hình này phổ biến, và đỉnh cao vào giai đoạn những năm 1997 đến năm 2007. Xây dựng mỗi xã, thị trấn một phòng giao dịch của bưu điện, nơi đây nhận gửi thư từ, các loại giấy tờ quan trọng và chuyển đến, chuyển đi các loại hàng hóa qua đường bưu điện. Hiện nay dịch vụ này được nâng cấp hơn, do nhu cầu mua bán trực tuyến nên dịch vụ chuyển hàng hóa qua bưu cục phát triển mạnh. Các loại giấy tờ chuyển Fax, không còn chờ đợi thư tay như trước, tạo sự tiện lợi cho nhân dân. Kết hợp mạng Internet phổ biến đến hầu hết các xã, các hộ gia đình chiếm 60% dân cư toàn huyện. Góp phần nâng cao trình độ của nhân dân, tiếp thu các nét văn hóa, khoa học kĩ thuật cho sự phát triển kinh tế của huyện, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch của các công ty, xí nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp cho nhân dân. Do nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, nên việc làm đẹp của chị em phụ nữ của huyện cũng ngày càng được quan tâm. Nhu cầu làm đẹp đã thúc đẩy sự ra đời các trung tâm chăm sóc sắc đẹp lớn như Quỳnh Trang - trung tâm thẩm mỹ của huyện, ngoài ra còn hệ thống các spa chăm sóc sắc đẹp trong toàn huyện. Không chỉ các spa, các cửa hàng chăm sóc tóc, tạo kiểu tóc cũng mọc khắp các ngõ xóm của huyện. Những dịch vụ này giúp không chỉ cho phụ nữ đẹp hơn mà còn góp phần tăng nét đẹp, duyên dáng cho người con gái địa phương. Ngoài dịch vụ sắc đẹp còn chăm sóc sức khỏe đã có các bệnh viện, đa khoa phòng khám dỉa trên toàn huyện nhưng tập trung nhất là Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên, với nhiều loại hình khám bệnh, khám bảo hiểm, khám dịch vụ, khám yêu cầu…nhiều máy móc hiện đại được nhập về đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Còn nhiều loại hình dịch vụ khác, các dịch vụ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ du lịch và thương mại. Phấn đấu đến năm 2015 tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng website để giao dịch mua bán trao đổi hàng hóa trên mạng (trực tuyến), tổ chức hội thảo, đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức về thương mại điện tử để 60-80% doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia thương mại điện tử ở những mức độ khác nhau. Nhờ triển khai các giải pháp phù hợp, những năm gần đây, hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất, sinh hoạt và tiêu dùng. Kết cấu hạ tầng thương mại dịch vụ được đầu tư, nâng cấp. Chất lượng dịch vụ được cải thiện, các loại hình dịch vụ phát triển nhanh và
74
ngày càng phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Chỉ tính
riêng 6 tháng đầu năm 2016, giá trị sản xuất ngành dịch vụ của huyện ước đạt 1.286
tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ. Phấn đấu tc đ tăng trưởng các ngành dch v tăng
cao hơn tăng trưởng chung nn kinh tế huyn, giai đoạn 2005-2010 tăng 10,5%/ m,
giai đoạn 2010-2015 tăng 12,0%/năm; t trng GDP ca ngành dch v đến năm
2010 chiếm 52,2% năm 2015 chiếm 55,6% trong tng GDP toàn huyn. vậy
các hoạt động dịch vụ của huyện, đặc biệt là khối dịch vụ vận tải và thương mại phát
triển nhanh. Năm 2007, giá trị GDP của ngành dịch vụ trên địa bàn đã đạt 498 t
đồng, đạt 100,5 kế hoạch, tăng 23,6%, hot đng vn ti chiếm 8,7% và 15,37%. Các
hot đng dch v khác chiếm 11,16% và 14,67% [26].
Biểu đồ 2.1. Các loại hình dịch vụ của huyện Thủy Nguyên
TP Hải Phòng
74 ngày càng phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2016, giá trị sản xuất ngành dịch vụ của huyện ước đạt 1.286 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ tăng cao hơn tăng trưởng chung nền kinh tế huyện, giai đoạn 2005-2010 tăng 10,5%/ năm, giai đoạn 2010-2015 tăng 12,0%/năm; tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ đến năm 2010 chiếm 52,2% và năm 2015 chiếm 55,6% trong tổng GDP toàn huyện. Vì vậy các hoạt động dịch vụ của huyện, đặc biệt là khối dịch vụ vận tải và thương mại phát triển nhanh. Năm 2007, giá trị GDP của ngành dịch vụ trên địa bàn đã đạt 498 tỷ đồng, đạt 100,5 kế hoạch, tăng 23,6%, hoạt động vận tải chiếm 8,7% và 15,37%. Các hoạt động dịch vụ khác chiếm 11,16% và 14,67% [26]. Biểu đồ 2.1. Các loại hình dịch vụ của huyện Thủy Nguyên TP Hải Phòng
75
Tiểu kết chương 2
Tri qua gần 30 năm (1986 - 2016) tiến hành đổi mới dưới s lãnh đạo ca
Đảng b huyn Thy Nguyên, b mt kinh tế - xã hi ca huyn Thy Nguyên
nhng chuyn biến mnh mẽ, trong đó sự chuyn dịch cơ cấu kinh tế đã góp phn vào
s phát trin chung ca nn kinh tế huyn. Nhân dân Thy Nguyên t hào vi truyn
thống lao đng cn cù, sáng to, tinh thn t lc, t ng trong sn xut, phát trin
kinh tế. Vi v trí địa lý thun lợi, địa hình đa dạng vi h sinh thái phong phú, nhân
dân Thy Nguyên t sớm đã tìm ra cách làm ăn, sinh sống phù hp. So vi thi k
trước đổi mi, kinh tế công nghip - dch v ca Thủy Nguyên đã dần khẳng định
được vai trò là mt trong nhng ngành kinh tế mũi nhọn ca huyn. Trong sn xut
nông nghip, ngoài cây trồng chính là lúa thì cư dân còn tiến hành xen canh hoa màu,
trng các cây công nghiệp như dừa, mía, bông, đay, 27dâu tằm….. Ngoài nghề nông,
nhân dân Thy Nguyên còn phát trin vi nhng ngh th công truyn thống như làm
gm, rèn, dt vải, đặc bit là ngh đúc (Mỹ Đồng) và đóng thuyền (Lp L), ngh đan
lát (Chính Mỹ), khai thác đá vôi làm vật liu xây dng. Ngh đánh biển mt
trong nhng ngh kiếm sống đầu tiên của cư dân Thủy Nguyên, trong giai đoạn đầu,
do trình độ k thut còn thô sơ, lạc hu nên ch yếu là đánh bắt ven b cùng vi vic
đánh bắt trên các dòng sông. Nay đã vươn xa, ra khơi vừa bán bin bo v lãnh th,
va phát triển thuật ngành ngh địa phương, tăng nguồn thu nhp, rèn tính kiên
ờng cho ngư dân.
Thương nghip Thủy Nguyên cũng diễn ra khá nhn nhp, h thng ch làng,
ch huyện được xây dng khắp nơi với nhiu loi mặt hàng được trao đổi, mua bán.
Đối với công nghiêp, UBND cùng Đng b Thy Nguyên chú trng khuyến khích s
đầu tư , tạo điều kin cho vic m rng qui sn xut, thu hút ngun vốn đầu tư
nước ngoài, tăng các loại hình sn phm công nghip, kết ni các khu, các cm công
nghiệp, đầu tư các dự án h tng cho các ngành kinh tế. Trong quá trình xây dng
phát trin, nhân dân Thủy Nguyên đã hình thành cho mình được nhng truyn thng
quý báu. Tng GDP thc tế hàng năm liên tục tăng năm 2000 là 727,3 tỷ đồng, đến
năm 2005 1354,7 tỷ đồng. Riêng thi k 2001 -2005 kinh tế trên địa bàn tăng
trưởng đạt 13,8% trong đó phần kinh tế do huyn qun lý gần 16%/năm. Tính toàn bộ
75 Tiểu kết chương 2 Trải qua gần 30 năm (1986 - 2016) tiến hành đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thủy Nguyên, bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện Thủy Nguyên có những chuyển biến mạnh mẽ, trong đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế huyện. Nhân dân Thủy Nguyên tự hào với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, tinh thần tự lực, tự cường trong sản xuất, phát triển kinh tế. Với vị trí địa lý thuận lợi, địa hình đa dạng với hệ sinh thái phong phú, nhân dân Thủy Nguyên từ sớm đã tìm ra cách làm ăn, sinh sống phù hợp. So với thời kỳ trước đổi mới, kinh tế công nghiệp - dịch vụ của Thủy Nguyên đã dần khẳng định được vai trò là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài cây trồng chính là lúa thì cư dân còn tiến hành xen canh hoa màu, trồng các cây công nghiệp như dừa, mía, bông, đay, 27dâu tằm….. Ngoài nghề nông, nhân dân Thủy Nguyên còn phát triển với những nghề thủ công truyền thống như làm gốm, rèn, dệt vải, đặc biệt là nghề đúc (Mỹ Đồng) và đóng thuyền (Lập Lễ), nghề đan lát (Chính Mỹ), khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng. Nghề đánh cá biển là một trong những nghề kiếm sống đầu tiên của cư dân Thủy Nguyên, trong giai đoạn đầu, do trình độ kỹ thuật còn thô sơ, lạc hậu nên chủ yếu là đánh bắt ven bờ cùng với việc đánh bắt trên các dòng sông. Nay đã vươn xa, ra khơi vừa bán biền bảo vệ lãnh thổ, vừa phát triển kĩ thuật ngành nghề địa phương, tăng nguồn thu nhập, rèn tính kiên cường cho ngư dân. Thương nghiệp Thủy Nguyên cũng diễn ra khá nhộn nhịp, hệ thống chợ làng, chợ huyện được xây dựng khắp nơi với nhiều loại mặt hàng được trao đổi, mua bán. Đối với công nghiêp, UBND cùng Đảng bộ Thủy Nguyên chú trọng khuyến khích sự đầu tư , tạo điều kiện cho việc mở rộng qui mô sản xuất, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tăng các loại hình sản phẩm công nghiệp, kết nối các khu, các cụm công nghiệp, đầu tư các dự án hạ tầng cho các ngành kinh tế. Trong quá trình xây dựng và phát triển, nhân dân Thủy Nguyên đã hình thành cho mình được những truyền thống quý báu. Tổng GDP thực tế hàng năm liên tục tăng năm 2000 là 727,3 tỷ đồng, đến năm 2005 là 1354,7 tỷ đồng. Riêng thời kỳ 2001 -2005 kinh tế trên địa bàn tăng trưởng đạt 13,8% trong đó phần kinh tế do huyện quản lý gần 16%/năm. Tính toàn bộ
76
GDP trên địa bàn thì đến năm 2005 ngành nông lâm nghiệp chiếm 23,5%, công
nghip xây dng chiếm 58,7%; dch v chiếm 17,8%. Nếu ch tính phn GDP do
huyn quản lý thì đến năm 2005 giá trị GDP ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm
37,8%; công nghip - xây dng chiếm 35,8%; dch v chiếm 26,4%. GDP bình quân
đầu người năm 2005 đạt gn 4,6 triệu đồng/người/năm. Có th nói, bc tranh kinh tế
Thu Nguyên trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế
sôi động hơn đã mang lại hơi thở mi trong cuc sng của người dân nơi đây. Đời
sng vt chất cũng như tinh thần của người dân Thu Nguyên được ci thin rt
nh các biện pháp chăm lo đầu tư sở h tng, phát triển văn hoá giáo dục. Thu
Nguyên - khi ngun ca dng xây, ca nhng tín hiu mới đang ngày một khi sc.
Mảnh đất này, chng bao lâu na, s tr thành một trung tâm đô thị hành chính ca
Thành ph Cng. Trong thi gian ti, khi quy hoch ca thành ph được trin khai,
Thu Nguyên s ha hn nhiều điều bt ng, đột phá trong tốc độ phát trin kinh tế
và văn hoá - xã hi.
Mặc dù đã đạt được s chuyn biến đáng kể như đã phân tích trên nhưng
kinh tế ca huyn Thy Nguyên vẫn chưa phát triển tương xứng vi tiềm năng. Việc
thiếu vốn, phương tiện, k thut hiện đại trong khai thác và nuôi trng, chế biến thy
sản. Thêm vào đó là dịch bnh, s phá hoi của thiên tai cũng làm giảm hiu qu kinh
tế của các lĩnh vực đc bit nông nghip trng trọt và chăn nuôi. Trong lĩnh vực th
công, thương mi, dch v và chế biến còn manh mún, nh l, các mt hàng xut khu
ch yếu sn phm thô nên giá tr kinh tế chưa cao… Mặc còn nhiu hn chế
song s chuyn biến ca hoạt động kinh tế ca Thy Nguyên thi k 1986 - 2016 đã
tạo sở, tiền đề nhng bài hc kinh nghim quý báu cho vic y dng, phát
trin kinh tế bin huyn Thủy Nguyên giai đoạn tiếp theo.
76 GDP trên địa bàn thì đến năm 2005 ngành nông lâm nghiệp chiếm 23,5%, công nghiệp xây dựng chiếm 58,7%; dịch vụ chiếm 17,8%. Nếu chỉ tính phần GDP do huyện quản lý thì đến năm 2005 giá trị GDP ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 37,8%; công nghiệp - xây dựng chiếm 35,8%; dịch vụ chiếm 26,4%. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt gần 4,6 triệu đồng/người/năm. Có thể nói, bức tranh kinh tế Thuỷ Nguyên trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thuỷ Nguyên được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hoá giáo dục. Thuỷ Nguyên - khởi nguồn của dựng xây, của những tín hiệu mới đang ngày một khởi sắc. Mảnh đất này, chẳng bao lâu nữa, sẽ trở thành một trung tâm đô thị hành chính của Thành phố Cảng. Trong thời gian tới, khi quy hoạch của thành phố được triển khai, Thuỷ Nguyên sẽ hứa hẹn nhiều điều bất ngờ, đột phá trong tốc độ phát triển kinh tế và văn hoá - xã hội. Mặc dù đã đạt được sự chuyển biến đáng kể như đã phân tích ở trên nhưng kinh tế của huyện Thủy Nguyên vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Việc thiếu vốn, phương tiện, kỹ thuật hiện đại trong khai thác và nuôi trồng, chế biến thủy sản. Thêm vào đó là dịch bệnh, sự phá hoại của thiên tai cũng làm giảm hiệu quả kinh tế của các lĩnh vực đặc biệt nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi. Trong lĩnh vực thủ công, thương mại, dịch vụ và chế biến còn manh mún, nhỏ lẻ, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô nên giá trị kinh tế chưa cao… Mặc dù còn nhiều hạn chế song sự chuyển biến của hoạt động kinh tế của Thủy Nguyên thời kỳ 1986 - 2016 đã tạo cơ sở, tiền đề và những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc xây dựng, phát triển kinh tế biển huyện Thủy Nguyên giai đoạn tiếp theo.
77
Chương 3
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN ĐỜI SỐNG
NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN
3.1. Tác động tích cực
3.1.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát trin kinh tế - hi mt trong nhng nhim v trng tâm ca huyn
nhm đưa địa phương phát trin nhanh chóng, bn vng. Do đó, trong thi gian qua,
huyn Thy Nguyên luôn quan tâm phát trin các nh vc kinh tế thế mnh, nhm
to bước đột phá, rút ngn thi gian, đẩy mnh tc độ phát trin, trong đó chú trng
thu hút các ngành công nghip thân thin vi môi trưng nhim v được huyn đặc
bit quan tâm. Công nghip xây dng ngành vai trò ch lc trong nn kinh tế
ca huyn, góp phn đưa Thy Nguyên tr thành mt trong nhng địa phương
công nghip phát trin mnh ca thành ph Hi Phòng. Nhiu doanh nghip nh
va ca huyn vn duy trì và phát trin sn xut kinh doanh, gii quyết vic làm
to thu nhp n định cho lao động, đóng góp ln cho ngân sách. Các cm công
nghip làng ngh mi cũng đang được quy hoch chi tiết, trin khai thc hin nhm
thu hút các ngun lc đầu phát trin trên địa bàn nông nghip, nông thôn. Mt s
ngành ngh s chuyn giao công ngh sn xut tiên tiến như đúc kim loi chuyn
t sn xut đúc luyn than sang h thng điện cao tn, theo công ngh hin đại,
bán t động; t sn xut phân tán, bước đầu mt s h, doanh nghip được tp trung
vào 2 làng ngh M Đồng Kin Bái, đã hn chế được ô nhim môi trưng. Bên
cnh đẩy mnh phát trin các sn phm làng ngh và làng ngh truyn thng gn vi
phát trin du lch. Các loi hình dch v đều phát trin khá, đa dng như: thương mi,
vn ti, tài chính, ngân hàng, bo him, bưu chính vin thông, vn, công ngh
thông tin, chăm sóc sc khe, nhà hàng, khách sn, giáo dc đào to...vi s tham gia
ca nhiu thành phn kinh tế
Trong 30 năm qua (1986 - 2016), dưới s quan tâm lãnh đạo ca Huyn y,
ch đạo ca y ban nhân dân huyn, s tp trung ca h thng khuyến nông, khuyến
ngư, thú y, bo v thc vt, sn xut nông nghip trên địa bàn s phát trin, cu
ni b ngành nông nghip s chuyn dch theo hướng gim trng trt, tăng thy
77 Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẾN ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN 3.1. Tác động tích cực 3.1.1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của huyện nhằm đưa địa phương phát triển nhanh chóng, bền vững. Do đó, trong thời gian qua, huyện Thủy Nguyên luôn quan tâm phát triển các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh, nhằm tạo bước đột phá, rút ngắn thời gian, đẩy mạnh tốc độ phát triển, trong đó chú trọng thu hút các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường là nhiệm vụ được huyện đặc biệt quan tâm. Công nghiệp xây dựng là ngành có vai trò chủ lực trong nền kinh tế của huyện, góp phần đưa Thủy Nguyên trở thành một trong những địa phương có công nghiệp phát triển mạnh của thành phố Hải Phòng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa của huyện vẫn duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho lao động, đóng góp lớn cho ngân sách. Các cụm công nghiệp làng nghề mới cũng đang được quy hoạch chi tiết, triển khai thực hiện nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn. Một số ngành nghề có sự chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến như đúc kim loại chuyển từ sản xuất lò đúc luyện than sang hệ thống lò điện cao tần, theo công nghệ hiện đại, bán tự động; từ sản xuất phân tán, bước đầu một số hộ, doanh nghiệp được tập trung vào 2 làng nghề Mỹ Đồng và Kiền Bái, đã hạn chế được ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đẩy mạnh phát triển các sản phẩm làng nghề và làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch. Các loại hình dịch vụ đều phát triển khá, đa dạng như: thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tư vấn, công nghệ thông tin, chăm sóc sức khỏe, nhà hàng, khách sạn, giáo dục đào tạo...với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Trong 30 năm qua (1986 - 2016), dưới sự quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện, sự tập trung của hệ thống khuyến nông, khuyến ngư, thú y, bảo vệ thực vật, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn có sự phát triển, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm trồng trọt, tăng thủy
78
sn, dch v nông nghip chăn nuôi. T trng ca lĩnh vc trng trt gim t
39,5% năm 2000 xung còn 27% năm 2015; t trng ngành chăn nuôi tăng t 20,5%
năm 2000 tăng lên 29,9% năm 2015; t trng lĩnh vc thy sn tăng t 30% năm
2000 lên 43,5% năm 2015 [15].
Giai đoạn 2000 - 2016, cũng giai đoạn nhiu hình sn xut nông
nghip mang li hiu qu cao được trin khai áp dng, c th: hình cánh đồng
mu ln ti các Đông Sơn, Kênh Giang, Minh Tân; hình phá b dn tha, áp
dng gii hóa đồng b ti các Đông Sơn, Phc L, Kênh Giang, Minh Tân;
hình nuôi vược tp trung ti xã Lp L; hình xây dng nông nghip ng dng
công ngh cao như vùng chăn nuôi gia cm Li Xuân, vùng chăn nuôi ln tht tp
trung ti xã Chính M, vùng trng hoa ng dng công ngh cao ti Đông Sơn .Xác
định ng ành thy sn mt trong nhng ngành mũi nhn, li thế ca huyn, do
đó, y ban nhân dân huyn đã tích cc ch đạo, t chc thc hin vic nuôi trng,
khai thác thy sn đạt hiu qu cao. Hin nay, din tích nuôi trng thy sn duy trì t
1.550-1.600 ha, vi sn ng nuôi trng đạt 5.500-6.000 tn, ch yếu vược.
Khai thác thy hi sn nhiu bước phát trin tp trung các Lp L, Ph L:
Vi đội tàu khai thác 1.299 chiếc, trong đó: tàu công sut trên 400CV 72 chiếc,
t 250-400CV 89 chiếc, t 90-250 CV 325 chiếc đã thc hin vic khai thác,
đánh bt hàng năm đạt t 35.000-40.000 tấn/năm.
Chính nh kế hoch c th, ràng hướng đi đúng đắn, trong nhng năm
qua, kinh tế - xã hi ca huyn đãbước phát trin mi. Tc độ tăng trưng kinh tế
tăng nhanh, đạt 14,5%/ năm; t trng giá tr các ngành chuyn dch tích cc theo
hướng tăng dn t trng các ngành công nghip - xây dng, dch v; gim dn t
trng ngành nông nghip. Cùng vi tốc độ tăng cao liên tc và khá ổn định ca GDP
trong những năm gần đây, cơ cu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng
tích cc. T trng ngành nông nghiệp đã giảm nhanh, t trng công nghip trong
GDP tăng nhanh, tỷ trng dch v chưa có biến động nhiu. Đến nay, đóng góp vào
tăng trưởng ca 2 ngành Công nghip Dch v chiếm khoảng 63% tăng trưởng
toàn ngành kinh tế, cao hơn giai đoạn 2000-2010 t đó góp phn to ln vào nhim v
xây dng huyn Thy Nguyên phát trin nhanh chóng, bn vng theo đúng tinh thn
Ngh quyết 19-NQ/TU ca Ban Thưng v Thành y khóa XII đã đề ra.
78 sản, dịch vụ nông nghiệp và chăn nuôi. Tỷ trọng của lĩnh vực trồng trọt giảm từ 39,5% năm 2000 xuống còn 27% năm 2015; tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 20,5% năm 2000 tăng lên 29,9% năm 2015; tỷ trọng lĩnh vực thủy sản tăng từ 30% năm 2000 lên 43,5% năm 2015 [15]. Giai đoạn 2000 - 2016, cũng là giai đoạn có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao được triển khai áp dụng, cụ thể: Mô hình cánh đồng mẫu lớn tại các xã Đông Sơn, Kênh Giang, Minh Tân; Mô hình phá bờ dồn thửa, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tại các xã Đông Sơn, Phục Lễ, Kênh Giang, Minh Tân; Mô hình nuôi cá vược tập trung tại xã Lập Lễ; Mô hình xây dựng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như vùng chăn nuôi gia cầm ở Lại Xuân, vùng chăn nuôi lợn thịt tập trung tại xã Chính Mỹ, vùng trồng hoa ứng dụng công nghệ cao tại xã Đông Sơn .Xác định ng ành thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn, có lợi thế của huyện, do đó, Ủy ban nhân dân huyện đã tích cực chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc nuôi trồng, khai thác thủy sản đạt hiệu quả cao. Hiện nay, diện tích nuôi trồng thủy sản duy trì từ 1.550-1.600 ha, với sản lượng nuôi trồng đạt 5.500-6.000 tấn, chủ yếu là cá vược. Khai thác thủy hải sản có nhiều bước phát triển tập trung ở các xã Lập Lễ, Phả Lễ: Với đội tàu khai thác 1.299 chiếc, trong đó: tàu có công suất trên 400CV là 72 chiếc, từ 250-400CV là 89 chiếc, từ 90-250 CV là 325 chiếc đã thực hiện việc khai thác, đánh bắt hàng năm đạt từ 35.000-40.000 tấn/năm. Chính nhờ kế hoạch cụ thể, rõ ràng và hướng đi đúng đắn, trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện đã có bước phát triển mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhanh, đạt 14,5%/ năm; tỷ trọng giá trị các ngành chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP trong những năm gần đây, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm nhanh, tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng nhanh, tỷ trọng dịch vụ chưa có biến động nhiều. Đến nay, đóng góp vào tăng trưởng của 2 ngành Công nghiệp và Dịch vụ chiếm khoảng 63% tăng trưởng toàn ngành kinh tế, cao hơn giai đoạn 2000-2010 từ đó góp phần to lớn vào nhiệm vụ xây dựng huyện Thủy Nguyên phát triển nhanh chóng, bền vững theo đúng tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy khóa XII đã đề ra.
79
Bảng 3.1: Kết quả tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tỷ trọng giá trị các ngành
Các ngành kinh tế
tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng giá trị
các ngành
Ngành nông
nghiệp - thủy sản
27,2%.
16,2%,
Ngành công
nghiệp - xây dựng
23,6%.
32,6%,
Ngành tiểu
thủ công nghiệp
18,6%.
18,2%
Ngành dịch vụ
30,6%.
33%
(Nguồn: [5])
Từ bảng số liệu chứng tỏ xu thế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch
cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện nhằm góp phần nâng cao
chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế huyện Thủy Nguyên. Từ một nền
kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ đã chuyển mạnh sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ- nông
nghiệp. Chú trọng đến các giải pháp thu hút tối đa các nguồn vốn, các dự án, các
nguồn nhân lực đầu tư phát triển. Trên dịa bàn huyện hình thành nhiều cụm công
nghiệp Minh Đức- Bến Rừng, VISIP, Nam cầu Kiền, Đông Sơn, Kênh Giang, Gia
Minh… đây là những khu công nghiệp lớn của thành phố, của cả khu vực trọng điểm
Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Đầu nước ngoài tăng nhanh, thu hút trên 1 tỉ
USD vào các khu công nghiệp trên địa bàn huyện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân đạt 14%/ năm và tăng dần theo các năm ,đưa tới thu nhập bình quân đầu người
đạt mức tăng trưởng đều theo các năm.
3.1.2. Làm biến đổi cơ cấu lao động, nâng cao trình độ lao động
Huyện Thủy Nguyên đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý
kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
lao động cùng với công nghệ cao, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo
ra năng suất lao động hội cao. Trên toàn huyện Thủy Nguyên 12000 đơn vị
79 Bảng 3.1: Kết quả tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng giá trị các ngành Các ngành kinh tế tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng giá trị các ngành Ngành nông nghiệp - thủy sản 27,2%. 16,2%, Ngành công nghiệp - xây dựng 23,6%. 32,6%, Ngành tiểu thủ công nghiệp 18,6%. 18,2% Ngành dịch vụ 30,6%. 33% (Nguồn: [5]) Từ bảng số liệu chứng tỏ xu thế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế huyện Thủy Nguyên. Từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ đã chuyển mạnh sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ- nông nghiệp. Chú trọng đến các giải pháp thu hút tối đa các nguồn vốn, các dự án, các nguồn nhân lực đầu tư phát triển. Trên dịa bàn huyện hình thành nhiều cụm công nghiệp Minh Đức- Bến Rừng, VISIP, Nam cầu Kiền, Đông Sơn, Kênh Giang, Gia Minh… đây là những khu công nghiệp lớn của thành phố, của cả khu vực trọng điểm Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, thu hút trên 1 tỉ USD vào các khu công nghiệp trên địa bàn huyện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14%/ năm và tăng dần theo các năm ,đưa tới thu nhập bình quân đầu người đạt mức tăng trưởng đều theo các năm. 3.1.2. Làm biến đổi cơ cấu lao động, nâng cao trình độ lao động Huyện Thủy Nguyên đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH là chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ cao, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Trên toàn huyện Thủy Nguyên có 12000 đơn vị
80
kinh tế, hành chính sự nghiệp, tôn giáo tín ngưỡng đã thu hút một lực lượng lao động
lớn chiếm 72% số lao động cả huyện. Từ kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và
tỷ trọng cấu các ngành trong nền kinh tế chung của huyện đã cho thấy, chuyển
dịch cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cấu lao động nước ta theo xu hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, trong khi
số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm.Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn cũng có sự chuyển dịch ngày càng tích cực. Sự chuyển dịch cơ cấu
trong ngành Nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cấu lao động
hội nông thôn, biểu hiện nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông
thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại dịch
vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần. Tuy nhiên trình độ của lao
động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất thấp. Do đó, thiếu việc
làm nhưng họ vẫn không năng lực chuyển đổi sang khu vực công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ. Đặt ra yêu cầu cần đầu tư bồi dưỡng trình độ cho lao động trẻ ở các
vùng nông thôn.
Trong ngành công nghiệp, xây dựng thì lực lượng lao động được chuyển dịch
từ nông thôn, những hộ nông dân nhàn rỗi hoặc phần lớn là lực lượng lao động trẻ
trình độ chuyên môn hoặc không có trình độ chuyên môn, chưa có việc làm từ những
vùng nông thôn,. Lực lượng này chiếm lực lượng lớn tập trung trong các nhà máy xí
nghiệp trên địa bàn. Trong cơ cấu lao động thay đổi trong công nghiệp phải kể đến
việc lực lượng lao động người nước ngoài vào lao động trong các nhà máy xí nghiệp
trên địa bàn huyện gồm người Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Singapo…tập trung chủ yếu ở khu công nghiệp VISIP. Ngoài ra lực lượng người Việt
trong các nhà máy xí nghiệp cũng có sự phân hóa, lực lượng làm trên các văn phòng
của các nhà máy- đây là lực lượng có trình độ chuyên môn, quản (chất lượng cao),
còn bộ phận lao động trực tiếp các dây chuyền sản xuất - bộ phận này không đòi
hỏi chất lượng trình độ. Tuy nhiên thực tế trong số lao động ở các dây chuyền sản
xuất của các nhà máy có trình độ chuyên môn ở cấp Đại học, do ngoại ngữ hạn chế
nên họ không thi vào được các vị trí văn phòng. Các Công nghiệp việc thu hút lực
80 kinh tế, hành chính sự nghiệp, tôn giáo tín ngưỡng đã thu hút một lực lượng lao động lớn chiếm 72% số lao động cả huyện. Từ kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và tỷ trọng cơ cấu các ngành trong nền kinh tế chung của huyện đã cho thấy, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm.Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng có sự chuyển dịch ngày càng tích cực. Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành Nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn, mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần. Tuy nhiên trình độ của lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất thấp. Do đó, dù thiếu việc làm nhưng họ vẫn không có năng lực chuyển đổi sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Đặt ra yêu cầu cần đầu tư bồi dưỡng trình độ cho lao động trẻ ở các vùng nông thôn. Trong ngành công nghiệp, xây dựng thì lực lượng lao động được chuyển dịch từ nông thôn, những hộ nông dân nhàn rỗi hoặc phần lớn là lực lượng lao động trẻ có trình độ chuyên môn hoặc không có trình độ chuyên môn, chưa có việc làm từ những vùng nông thôn,. Lực lượng này chiếm lực lượng lớn tập trung trong các nhà máy xí nghiệp trên địa bàn. Trong cơ cấu lao động thay đổi trong công nghiệp phải kể đến việc lực lượng lao động người nước ngoài vào lao động trong các nhà máy xí nghiệp trên địa bàn huyện gồm người Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapo…tập trung chủ yếu ở khu công nghiệp VISIP. Ngoài ra lực lượng người Việt trong các nhà máy xí nghiệp cũng có sự phân hóa, lực lượng làm trên các văn phòng của các nhà máy- đây là lực lượng có trình độ chuyên môn, quản lý (chất lượng cao), còn bộ phận lao động trực tiếp ở các dây chuyền sản xuất - bộ phận này không đòi hỏi chất lượng trình độ. Tuy nhiên thực tế trong số lao động ở các dây chuyền sản xuất của các nhà máy có trình độ chuyên môn ở cấp Đại học, do ngoại ngữ hạn chế nên họ không thi vào được các vị trí văn phòng. Các Công nghiệp việc thu hút lực
81
lượng lao động không đồng đều, những nhà máy lớn thu hút 1000 đến 1200 lao
động, nhưng cũng có nhà máy chỉ thu hút 300 đến 500 lao động.
Quá trình phát triển các ngành kinh tế của huyện Thủy Nguyên đã đưa đời
sống của các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát triển theo hướng tích cực. Lực lượng
công nhân viên chức lao động (CNVCLĐ) của huyện ngày càng phát triển cả về số
lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thu nhập, đời
sống của CNVCLĐ khá ổn định. Đa số CNVCLĐ đều được thực hiện chế độ bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, được quan tâm
chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp.
Giai cấp nông dân chiếm tỷ lệ 79,04% dân số toàn huyện (năm 1991) đã giảm
dần còn 42,02 % (năm 2015). Nông dân đã có những thay đổi về nhận thức và tư duy
trong đời sống sinh hoạt, sản xuất và tham gia đóng góp vào quá trình phát triển KT-
XH của địa phương. Họ đã nỗ lực đạt nhiều kết quả trong sản xuất nông nghiệp,
đang mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu, cây trồng, vật nuôi, từng bước vươn lên xóa đói,
giảm nghèo phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới.Ngoài ra
nông dân của huyện còn làm kinh tế theo hướng thời vụ (nông nhàn làm thêm nghề
thủ công, buôn bán hoặc công nhân thời vụ).
Đến nay, toàn huyn có 100% xóm, xã có t chc Hi Nông dân. Các hi viên
Hội Nông dân đã và đang được hưởng các chế độ chính sách ưu đãi của Nhà nước v
vay vn phát trin sn xuất, được tham gia các lp tp hun k thut, tham quan mô
hình ng dng tiến b KHCN vào sn xuất,… đểkiến thc phát trin kinh tế gia
đình hiệu qu. Song song vi s phát trin v chất lượng ca giai cp công
nhân, nông dân là s ln mnh của đội ngũ trí thức c v s ng và vai trò, sc nh
hưởng. Năm 2011, đội ngũ cán bộ công chc, viên chc công tác khi chính quyn,
trong đó đội ngũ trí thức chiếm 50%.
Lực lượng này luôn c gng, n lc, từng bước đổi mi, nâng cao chất lượng
hoạt động chuyên môn và đạt nhiu thành tích tốt trên các lĩnh vực công tác, góp
phn tích cc vào vic t chc tuyên truyn, vận động, c các tầng lp nhân dân
thc hin tt mi ch trương, đường li của Đảng, chính sách pháp lut ca Nhà
nước, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nưc, thc hin thng li các nhim v,
81 lượng lao động không đồng đều, có những nhà máy lớn thu hút 1000 đến 1200 lao động, nhưng cũng có nhà máy chỉ thu hút 300 đến 500 lao động. Quá trình phát triển các ngành kinh tế của huyện Thủy Nguyên đã đưa đời sống của các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát triển theo hướng tích cực. Lực lượng công nhân viên chức lao động (CNVCLĐ) của huyện ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thu nhập, đời sống của CNVCLĐ khá ổn định. Đa số CNVCLĐ đều được thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, được quan tâm chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp. Giai cấp nông dân chiếm tỷ lệ 79,04% dân số toàn huyện (năm 1991) đã giảm dần còn 42,02 % (năm 2015). Nông dân đã có những thay đổi về nhận thức và tư duy trong đời sống sinh hoạt, sản xuất và tham gia đóng góp vào quá trình phát triển KT- XH của địa phương. Họ đã nỗ lực và đạt nhiều kết quả trong sản xuất nông nghiệp, đang mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu, cây trồng, vật nuôi, từng bước vươn lên xóa đói, giảm nghèo và phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới.Ngoài ra nông dân của huyện còn làm kinh tế theo hướng thời vụ (nông nhàn làm thêm nghề thủ công, buôn bán hoặc công nhân thời vụ). Đến nay, toàn huyện có 100% xóm, xã có tổ chức Hội Nông dân. Các hội viên Hội Nông dân đã và đang được hưởng các chế độ chính sách ưu đãi của Nhà nước về vay vốn phát triển sản xuất, được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, tham quan mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất,… để có kiến thức phát triển kinh tế gia đình có hiệu quả. Song song với sự phát triển về chất và lượng của giai cấp công nhân, nông dân là sự lớn mạnh của đội ngũ trí thức cả về số lượng và vai trò, sức ảnh hưởng. Năm 2011, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức công tác ở khối chính quyền, trong đó đội ngũ trí thức chiếm 50%. Lực lượng này luôn cố gắng, nỗ lực, từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn và đạt nhiều thành tích tốt trên các lĩnh vực công tác, góp phần tích cực vào việc tổ chức tuyên truyền, vận động, cổ vũ các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ,
82
mc tiêu phát trin KT-XH ca huyện. Định hướng chuyn dịch cơ cu kinh tế ca
tỉnh theo hướng tăng tỷ trng các ngành công nghip và dch v, từng bước gim t
trng ngành nông nghiệp, cơ sở h tầng nông thôn được xây dng vi tốc độ nhanh,
đó sẽnhững “cú hích” tiếp tục tác động tích cực đến quá trình phát trin, nâng cao
đời sống người dân địa phương trong thời gian tới. Hàng năm giải quyết vic làm cho
t 7500 đến 9000 lao động t các chương trình vay vốn, to vic làm t các doanh
nghiệp trên địa bàn huyn Thy Nguyên. Nguồn thu ngân sách cũng tăng theo sự phát
trin kinh tế chung ca toàn huyn.
Khi doanh nghiệp đang thu hút lực lượng lao động lớn 40.000 lao động
chiếm 36% s lao động toàn huyn. Khi th công nghip, dch v trên địa bàn thu
hút 48.000 lao động, chiếm 42% s lao động toàn huyn. Còn khi hành chính s
nghip giảm đơn vị, đi liền gim lực lượng lao động trong khi, lực lượng dư thừa
này chuyn sang khi doanh nghiêp. Kết qu điu tra cho thy trong tng s lao động có
vic làm thì có tới 0,61% là lãnh đạo cao cấp và lãnh đạo các đơn vị, 6,76 % là nhng
nhà chuyên môn bc cao và bc trung, nhân viên dch vbán hàng chiếm t l cao
14,26%, còn lao động th ng cũng giảm dần còn 16,03 %. Lao động giản đơn có số
ợng đông nhất là 38,04%, tp trung ch yếu chưa qua đào tạo chuyên môn kĩ thuât ở
các trường trung cấp và cao đẳng mà mi ch hết ph thông Trung hc.
Lực lượng lao động trên địa bàn huyện đông nhất so vi các huyn khác, song
t l lao đng giản đơn còn cao, chất lượng nguồn lao động còn hn chế. Tuy nhiên
do s đòi hỏi ca phát trin kinh tế nói chung ca ngành công nghip, dch v nói
riêng cũng đòi hỏi cn phải nâng cao trình độ lao động cho nguồn lao động di dào
này. Ngoài việc các lao động khi vào các nhà máy xí nghiệp được đào tạo ti ch, đào
to cp tc thì việc các lao động t trang b kiến thức, trình độ chuyên môn trước khi
vào th trường lao động cn thiết. T yêu cầu đó nguồn lao động ca huyn khi
bước vào th trường lao động có tới 67% đã được đào tạo chuyên môn (tc là ngun
lao động này sau khi tt nghiệp THPT đều tham gia học các trường trung cp, cao
đẳng, đại hc). Lc lượng lao động trên địa bàn huyện đạt trình độ THPT tr lên
chiếm 92 %. Nhiều lao động còn nâng cao trình độ ca mình bng vic va hc va
làm (hc các bui ti, bui cui tuần) để đáp ng nhu cu ca công việc đang làm.
82 mục tiêu phát triển KT-XH của huyện. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, từng bước giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn được xây dựng với tốc độ nhanh, đó sẽ là những “cú hích” tiếp tục tác động tích cực đến quá trình phát triển, nâng cao đời sống người dân địa phương trong thời gian tới. Hàng năm giải quyết việc làm cho từ 7500 đến 9000 lao động từ các chương trình vay vốn, tạo việc làm từ các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên. Nguồn thu ngân sách cũng tăng theo sự phát triển kinh tế chung của toàn huyện. Khối doanh nghiệp đang thu hút lực lượng lao động lớn 40.000 lao động chiếm 36% số lao động toàn huyện. Khối thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn thu hút 48.000 lao động, chiếm 42% số lao động toàn huyện. Còn khối hành chính sự nghiệp giảm đơn vị, đi liền là giảm lực lượng lao động trong khối, lực lượng dư thừa này chuyển sang khối doanh nghiêp. Kết quả điều tra cho thấy trong tổng số lao động có việc làm thì có tới 0,61% là lãnh đạo cao cấp và lãnh đạo các đơn vị, 6,76 % là những nhà chuyên môn bậc cao và bậc trung, nhân viên dịch vụ và bán hàng chiếm tỷ lệ cao 14,26%, còn lao động thủ công cũng giảm dần còn 16,03 %. Lao động giản đơn có số lượng đông nhất là 38,04%, tập trung chủ yếu chưa qua đào tạo chuyên môn kĩ thuât ở các trường trung cấp và cao đẳng mà mới chỉ hết phổ thông Trung học. Lực lượng lao động trên địa bàn huyện đông nhất so với các huyện khác, song tỷ lệ lao động giản đơn còn cao, chất lượng nguồn lao động còn hạn chế. Tuy nhiên do sự đòi hỏi của phát triển kinh tế nói chung của ngành công nghiệp, dịch vụ nói riêng cũng đòi hỏi cần phải nâng cao trình độ lao động cho nguồn lao động dồi dào này. Ngoài việc các lao động khi vào các nhà máy xí nghiệp được đào tạo tại chỗ, đào tạo cấp tốc thì việc các lao động tự trang bị kiến thức, trình độ chuyên môn trước khi vào thị trường lao động là cần thiết. Từ yêu cầu đó nguồn lao động của huyện khi bước vào thị trường lao động có tới 67% đã được đào tạo chuyên môn (tức là nguồn lao động này sau khi tốt nghiệp THPT đều tham gia học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học). Lực lượng lao động trên địa bàn huyện đạt trình độ THPT trở lên chiếm 92 %. Nhiều lao động còn nâng cao trình độ của mình bằng việc vừa học vừa làm (học các buổi tối, buổi cuối tuần) để đáp ứng nhu cầu của công việc đang làm.