Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Kinh tế ở huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng từ năm 1986 đến năm 2016

8,916
306
124
43
đa dạng phong phú, không chỉ những sản phẩm thủ công cho sản xuất nông nghiệp
mà còn có các sản phẩm cho ngành công nghiệp.Phục vụ cho nhu cầu trong nước và
xuất khẩu, đồng thời trở thành một trong những địa điểm du lịch sinh thái thuộc ngoại
thành Hải Phòng .Đi kèm với chế tác các sản phẩm từ kim loại, hình thành các dịch
vụ tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguyên liệu…
Từ những năm 1986, khi Việt Nam đổi mới, khuyến khích phát triển kinh tế tư
nhân và kinh tế gia đình, nghề đúc, rèn Mỹ Đồng tiếp tục được duy trì va tiếp tục
phát triển theo hướng tư nhân và hộ gia đình. Năm 1990, Mỹ Đồng có trên 40 hộ đúc
tư nhân, 50 hộ rèn công cụ, 5 hộ chuyên cơ khí va 4 tổ kinh doanh. Bên cạnh đó, các
sản phẩm đúc, rèn của Mỹ Đồng từng bước tiếp cận tốt với thị trường, sản phẩm sản
xuất ra tiêu thụ khá, nghề đúc, rèn tăng trưởng hàng năm. Đến năm 1995, toàn xã có
60 hộ làm nghề đúc, 80 hộ rèn, 6 hộ làm nghề cơ khí, 02 xí nghiệp đúc, 06 tổ hợp sản
xuất. Từ năm 1996, ở Mỹ Đồng đã hình thành nhanh những xí nghiệp, doanh nghiệp,
hợp tác xã cơ khí vừa và nhỏ. Sản phẩm đúc, rèn đa dạng, phong phú với nhiều mặt
hàng, nhiều chủng loại phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2000, toàn
xã có 67 hộ đúc (trong đó có khoảng 50% số hộ hộ đúc xuất khẩu), 28 hộ làm cơ khí,
35 hộ rèn, 01 cơ sở luyện thép [30]. Từ năm 2001, hình thành và phát triển khu công
nghiệp làng nghề Mỹ Đồng. Sản phẩm của Mỹ Đồng ngày nay phục vụ cho các cơ sở
kinh tế của Nhà nước, các ngành: xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp, công
nghiệp, tiêu dùng với các sản phẩm vỏ motor điện, máy mơm, khung xe máy, chân
máy khâu, các bành răng, các bộ phận máy xay sát, máy nghiền, xec măng máy nổ,
các dụng cụ, thiết bị phục vụ sinh hoạt... Bên cạnh đó, Mỹ Đồng đã thành công trong
sản xuất kết cấu thép, vật liệu hàn (que hàn, dây hàn), thiết bị tàu thủy như cửa chống
cháy, nồi hơi, nắp hầm, thiết bị boong, phụ kiện đường ống, xích neo, neo, cánh quạt,
động thủy lực, sợi polyester, bộ phận động cơ, sản phẩm hộp số, vỏ máy m,
chân vịt tàu, các thiết bị kim loại...
Hiện nay, Mỹ Đồng có gần 200 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ hoạt động
sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực đúc, gia công cơ khí. Mỗi tháng, làng sản xuất ra
8.000 tấn
sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước xuất khẩu sang Châu
Âu, Đức, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc.. Làng nghề truyền thống đúc, rèn kim
43 đa dạng phong phú, không chỉ những sản phẩm thủ công cho sản xuất nông nghiệp mà còn có các sản phẩm cho ngành công nghiệp.Phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời trở thành một trong những địa điểm du lịch sinh thái thuộc ngoại thành Hải Phòng .Đi kèm với chế tác các sản phẩm từ kim loại, hình thành các dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, cung cấp nguyên liệu… Từ những năm 1986, khi Việt Nam đổi mới, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế gia đình, nghề đúc, rèn ở Mỹ Đồng tiếp tục được duy trì va tiếp tục phát triển theo hướng tư nhân và hộ gia đình. Năm 1990, Mỹ Đồng có trên 40 hộ đúc tư nhân, 50 hộ rèn công cụ, 5 hộ chuyên cơ khí va 4 tổ kinh doanh. Bên cạnh đó, các sản phẩm đúc, rèn của Mỹ Đồng từng bước tiếp cận tốt với thị trường, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ khá, nghề đúc, rèn tăng trưởng hàng năm. Đến năm 1995, toàn xã có 60 hộ làm nghề đúc, 80 hộ rèn, 6 hộ làm nghề cơ khí, 02 xí nghiệp đúc, 06 tổ hợp sản xuất. Từ năm 1996, ở Mỹ Đồng đã hình thành nhanh những xí nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã cơ khí vừa và nhỏ. Sản phẩm đúc, rèn đa dạng, phong phú với nhiều mặt hàng, nhiều chủng loại phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Năm 2000, toàn xã có 67 hộ đúc (trong đó có khoảng 50% số hộ hộ đúc xuất khẩu), 28 hộ làm cơ khí, 35 hộ rèn, 01 cơ sở luyện thép [30]. Từ năm 2001, hình thành và phát triển khu công nghiệp làng nghề Mỹ Đồng. Sản phẩm của Mỹ Đồng ngày nay phục vụ cho các cơ sở kinh tế của Nhà nước, các ngành: xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, tiêu dùng với các sản phẩm vỏ motor điện, máy mơm, khung xe máy, chân máy khâu, các bành răng, các bộ phận máy xay sát, máy nghiền, xec măng máy nổ, các dụng cụ, thiết bị phục vụ sinh hoạt... Bên cạnh đó, Mỹ Đồng đã thành công trong sản xuất kết cấu thép, vật liệu hàn (que hàn, dây hàn), thiết bị tàu thủy như cửa chống cháy, nồi hơi, nắp hầm, thiết bị boong, phụ kiện đường ống, xích neo, neo, cánh quạt, động cơ thủy lực, sợi polyester, bộ phận động cơ, sản phẩm hộp số, vỏ máy bơm, chân vịt tàu, các thiết bị kim loại... Hiện nay, Mỹ Đồng có gần 200 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực đúc, gia công cơ khí. Mỗi tháng, làng sản xuất ra 8.000 tấn sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang Châu Âu, Đức, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc.. Làng nghề truyền thống đúc, rèn kim
44
loại Mỹ Đồng vẫn tiếp tục là mô hình tiên tiến, hiệu quả sản xuất cao, trở thành điểm
du lịch của thành phố Hải Phòng. Từ một địa phương nghèo, kinh tế kém phát triển,
những năm gần đây, Mỹ Đồng từng bước vươn lên, trở thành lá cờ đầu của huyện
Thủy Nguyên trong phát triển kinh tế, xây dựng làng nghề truyền thống. Người dân
Mỹ Đồng hôm nay kế thừa, sáng tạo, đưa nghề đúc kim loại thành ngành kinh tế
chính của địa phương. Mức tăng trưởng kinh tế bình quân của xã đạt khá cao trong
khối xã, thị trấn của Thủy Nguyên (15-20%/năm), trong đó thu nhập từ nghề thủ công
dịch vụ chiếm 95%. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, cả
khoảng 10 hộ dân đúc gang, đồng, nhôm, quy mô nhà xưởng nhỏ bé, nay, toàn xã
gần 100 hộ đúc gang, 15 hộ đúc đồng, hàng chục xưởng cơ khí, rèn, dịch vụ đi kèm.
Cùng với làng đúc, rèn ở Mĩ Đồng, huyện Thủy Nguyên còn có làng đan mây
tre Chính Mỹ, làng nghề cổ truyền
có cách đây trên 200 năm, nay thuộc Chính
Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Sản phẩm của làng nghề được tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Làng có trên 1.000 hộ sản
xuất mây tre đan, được công nhận là làng nghề truyền thống từ năm 2007 và trở thành
điểm du lịch phía Bắc sông Cấm thành phố Hoa Phượng Đỏ. Xưa, Chính Mỹ chủ yếu
gồm đồi, núi rừng rậm, đất cho sản xuất nông nghiệp hạn hẹp, cằn cỗi, năng
suất lúa không cao. Chính vậy, người Chính Mỹ sớm biết tận dụng điều kiện tự
nhiên sẵn có để phát triển các nghề phụ trong những lúc nông nhàn. khu vực có
nguồn tre, nứa, mây khá dồi dào nên nghề mây tre đan đã hình thành từ rất sớm
phát triển đến ngày nay. Trong làng, sự phân chia tự nhiên theo sản phẩm đan,
thôn chuyên đan thúng, thôn chuyên đan giần, sàng, nia... theo các công đoạn của quá
trình sản xuất tạo sản phẩm: hộ chuyên vót nan, chuyên đan, chuyên vào cạp.
Các công đoạn của nghề đan mây tre bắt đầu từ chọn tre đảm bảo vừa có độ
cứng, vừa độ dẻo, thường chọn những cây tre tươi, bánh tẻ. Không chọn những
cây tre quá già giòn, không chọn những cây tre non vì chưa đủ độ dẻo; cùng
không chọn cây tre cộc (tre bị mất ngọn từ lúc còn non), tre bị sâu, kiến thịt tre
giòn, yếu. Chọn cây mây to bằng ngón tay út, dài tới 5 - 7 m. Cắt mây về, bỏ bẹ lá rồi
chẻ.Tuỳ theo từng sản phẩm để làm nan dài, ngắn, to nhỏ, dầy mỏng, thô hay nhẵn
khác nhau. Làm nan gồm các bước pha tre, chẻ nan, vót nan và phơi khô tạo độ dẻo.
Làm cạp: cạp trong thì lấy phần gốc tre cạp ngoài thì lấy phần ngọn tre. Làm mây:
44 loại Mỹ Đồng vẫn tiếp tục là mô hình tiên tiến, hiệu quả sản xuất cao, trở thành điểm du lịch của thành phố Hải Phòng. Từ một địa phương nghèo, kinh tế kém phát triển, những năm gần đây, Mỹ Đồng từng bước vươn lên, trở thành lá cờ đầu của huyện Thủy Nguyên trong phát triển kinh tế, xây dựng làng nghề truyền thống. Người dân Mỹ Đồng hôm nay kế thừa, sáng tạo, đưa nghề đúc kim loại thành ngành kinh tế chính của địa phương. Mức tăng trưởng kinh tế bình quân của xã đạt khá cao trong khối xã, thị trấn của Thủy Nguyên (15-20%/năm), trong đó thu nhập từ nghề thủ công và dịch vụ chiếm 95%. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, cả xã có khoảng 10 hộ dân đúc gang, đồng, nhôm, quy mô nhà xưởng nhỏ bé, nay, toàn xã có gần 100 hộ đúc gang, 15 hộ đúc đồng, hàng chục xưởng cơ khí, rèn, dịch vụ đi kèm. Cùng với làng đúc, rèn ở Mĩ Đồng, huyện Thủy Nguyên còn có làng đan mây tre Chính Mỹ, là làng nghề cổ truyền có cách đây trên 200 năm, nay thuộc xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Làng có trên 1.000 hộ sản xuất mây tre đan, được công nhận là làng nghề truyền thống từ năm 2007 và trở thành điểm du lịch phía Bắc sông Cấm thành phố Hoa Phượng Đỏ. Xưa, Chính Mỹ chủ yếu gồm đồi, núi và rừng rậm, đất cho sản xuất nông nghiệp hạn hẹp, cằn cỗi, năng suất lúa không cao. Chính vì vậy, người Chính Mỹ sớm biết tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có để phát triển các nghề phụ trong những lúc nông nhàn. Là khu vực có nguồn tre, nứa, mây khá dồi dào nên nghề mây tre đan đã hình thành từ rất sớm và phát triển đến ngày nay. Trong làng, có sự phân chia tự nhiên theo sản phẩm đan, thôn chuyên đan thúng, thôn chuyên đan giần, sàng, nia... theo các công đoạn của quá trình sản xuất tạo sản phẩm: hộ chuyên vót nan, chuyên đan, chuyên vào cạp. Các công đoạn của nghề đan mây tre bắt đầu từ chọn tre đảm bảo vừa có độ cứng, vừa có độ dẻo, thường chọn những cây tre tươi, bánh tẻ. Không chọn những cây tre quá già vì giòn, không chọn những cây tre non vì chưa đủ độ dẻo; và cùng không chọn cây tre cộc (tre bị mất ngọn từ lúc còn non), tre bị sâu, kiến vì thịt tre giòn, yếu. Chọn cây mây to bằng ngón tay út, dài tới 5 - 7 m. Cắt mây về, bỏ bẹ lá rồi chẻ.Tuỳ theo từng sản phẩm để làm nan dài, ngắn, to nhỏ, dầy mỏng, thô hay nhẵn khác nhau. Làm nan gồm các bước pha tre, chẻ nan, vót nan và phơi khô tạo độ dẻo. Làm cạp: cạp trong thì lấy phần gốc tre cạp ngoài thì lấy phần ngọn tre. Làm mây:
45
cây mây già, loại bỏ phần vỏ, và chẻ thành 4 hoặc 6, 8 tùy theo thân mây to hay nhỏ;
vót bỏ ruột, chỉ lấy phần bì dùng để nức. Ngoài ra, có thể dùng dây ràng ràng, chỉ cần
bóc bỏ vỏ lấy ruột làm dây buộc vì thân ràng ràng nhỏ hơn mây.Tùy theo từng sản
phẩm kỹ thuật đan khách nhau. Xảo thì mắt thưa; thúng, thì đan mắt dầy; thúng
đan “bắt 3 đè 3”, nia đan “bắt 4 đè 3”[30].
Sản phẩm làng nghề gồm các vật dụng sử dụng cho các hoạt động thường
ngày (tiêu thụ trong nước) như: thúng, nong nia, giần sàng, rổ, rá, sọt đựng hàng,
thuyền nan (để đánh bắt ao, đầm)… Sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu sang thị
trường Châu Âu, Hàn QuốcNhật Bản: giỏ, hộp đựng trái cây, bình hoa, đĩa, đồ thủ
công mỹ nghệ. Như vậy từ bàn tay tài hoa khéo léo của các thợ lành nghề đã đưa sản
phẩm thủ công của quê hương mình đi ra thế giới, đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các
doanh nghiệp và nguồn thu nhập cho lao động địa phương. Khi tạo công ăn việc làm và
nguồn thu nhập ổn định cho người lao động đã tác động tích cực đến cuộc sống của nhân
dân xã Chính Mỹ, xã hội ổn định, nhiều nhà cao tầng mọc lên ở làng quê.
Ngoài ra, huyện Thủy Nguyên còn làng gốm Dưỡng Động nằm ven sông
Giá (xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên). Xuất phát từ điều kiện tự nhiên thuận lợi,
nơi có nguồn đất sét chất lượng tốt đảm bảo cho nghề gốm phát triển, nên cư dân làng
Dưỡng Động xã Minh Tân đã đi tham khảo, học hỏi cách làm gốm ở các địa phương
khác, nghề gốm cũng trở thành nghề làm lúc nông nhàn của nông dân, nhưng gắn bó
sâu nặng với cuộc sống nơi đây, làm nên sự phồn thịnh của một làng nghề. Thời k
kháng chiến chống Pháp, gian nan vậy, làng vẫn giữ được nghề. Khi hợp tác xã
Minh Khai ra đời, quy sản xuất của làng nghề liên tục được mở rộng, có lúc tới
1000 viên với hàng chục nung luôn đỏ lửa. Thời huy hoàng đó góp phần tạo
dựng cho làng một cái tên mới, tuy dân giã nhưng rất gần gũi Xóm Lò. Song cuối
những năm 80 của thế kỷ trước, từ một làng nghề trù phú, Minh Tân chỉ còn vài ba lò
gốm đỏ lửa lay lắt qua ngày, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Những nồi đất,
ấm nung, vòi nước...trở nên lạc hậu, khi trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm
cùng chức năng với mẫu mã, nguyên liệu đa dạng. Cái tên “Xóm Lò” một thời vang
danh còn đó, nhưng sản phẩm làng nghề cứ mai một dần. Không sống được bằng
nghề gốm, người dân trong làng chuyển sang làm nghề khác để mưu sinh. Gốm
Dưỡng Động bị lãng quên khi HTX Minh Khai giải thể. Năm 2005, được sự giúp đỡ
45 cây mây già, loại bỏ phần vỏ, và chẻ thành 4 hoặc 6, 8 tùy theo thân mây to hay nhỏ; vót bỏ ruột, chỉ lấy phần bì dùng để nức. Ngoài ra, có thể dùng dây ràng ràng, chỉ cần bóc bỏ vỏ lấy ruột làm dây buộc vì thân ràng ràng nhỏ hơn mây.Tùy theo từng sản phẩm kỹ thuật đan khách nhau. Xảo thì mắt thưa; thúng, rá thì đan mắt dầy; thúng đan “bắt 3 đè 3”, nia đan “bắt 4 đè 3”[30]. Sản phẩm làng nghề gồm các vật dụng sử dụng cho các hoạt động thường ngày (tiêu thụ trong nước) như: thúng, nong nia, giần sàng, rổ, rá, sọt đựng hàng, thuyền nan (để đánh bắt cá ở ao, đầm)… Sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Hàn Quốc và Nhật Bản: giỏ, hộp đựng trái cây, bình hoa, đĩa, đồ thủ công mỹ nghệ. Như vậy từ bàn tay tài hoa khéo léo của các thợ lành nghề đã đưa sản phẩm thủ công của quê hương mình đi ra thế giới, đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các doanh nghiệp và nguồn thu nhập cho lao động địa phương. Khi tạo công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động đã tác động tích cực đến cuộc sống của nhân dân xã Chính Mỹ, xã hội ổn định, nhiều nhà cao tầng mọc lên ở làng quê. Ngoài ra, huyện Thủy Nguyên còn có làng gốm Dưỡng Động nằm ven sông Giá (xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên). Xuất phát từ điều kiện tự nhiên thuận lợi, nơi có nguồn đất sét chất lượng tốt đảm bảo cho nghề gốm phát triển, nên cư dân làng Dưỡng Động xã Minh Tân đã đi tham khảo, học hỏi cách làm gốm ở các địa phương khác, nghề gốm cũng trở thành nghề làm lúc nông nhàn của nông dân, nhưng gắn bó sâu nặng với cuộc sống nơi đây, làm nên sự phồn thịnh của một làng nghề. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, gian nan là vậy, làng vẫn giữ được nghề. Khi hợp tác xã Minh Khai ra đời, quy mô sản xuất của làng nghề liên tục được mở rộng, có lúc tới 1000 xã viên với hàng chục lò nung luôn đỏ lửa. Thời huy hoàng đó góp phần tạo dựng cho làng một cái tên mới, tuy dân giã nhưng rất gần gũi Xóm Lò. Song cuối những năm 80 của thế kỷ trước, từ một làng nghề trù phú, Minh Tân chỉ còn vài ba lò gốm đỏ lửa lay lắt qua ngày, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Những nồi đất, ấm nung, vòi nước...trở nên lạc hậu, khi trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm cùng chức năng với mẫu mã, nguyên liệu đa dạng. Cái tên “Xóm Lò” một thời vang danh còn đó, nhưng sản phẩm làng nghề cứ mai một dần. Không sống được bằng nghề gốm, người dân trong làng chuyển sang làm nghề khác để mưu sinh. Gốm Dưỡng Động bị lãng quên khi HTX Minh Khai giải thể. Năm 2005, được sự giúp đỡ
46
của chính quyền động viên của con, đề án xây dựng HTX Gốm Dưỡng Động
được xây dựng. Sản phẩm gốm Dưỡng Động bây giờ giàu chất nghệ thuật được
người tiêu dùng sành điệu sử dụng trang trí nội thất như tranh, tượng phù điêu... Đó là
dấu hiệu phục hồi cho một làng nghề, niềm tin vào một tương lai tươi sáng, triển
vọng phát triển uy tín thương hiệu gốm Dưỡng Động.
Xuất phát từ niềm say mê và ý chí giữ gìn truyền thống của người con đất làng
nghề, sở Khoa học- Công nghệ Hải Phòng thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng, tiếp
tục nâng chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Quy mô dự án lên tới 5,7 tỷ đồng và
được triển khai trên diện tích 6000m2 với khu vực lò xưởng, địa điểm trưng bày, giới
thiệu sản phẩm. Vạn sự khởi đầu nan, với tâm huyết của những người luôn đau đáu ý
chí phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ ứng dụng mạnh mẽ khoa học công
nghệ, gốm Dưỡng Động sẽ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, đáp ứng yêu cầu
của những người tiêu dùng kỹ tính. Các sn phm gm do ngh nhân làng Dưỡng
Động chế tác không thua kém bt k sn phm gm ni danh nào khác như bát ăn,
bình gm…. Nếu như gốm Phù Lãng và Bát Tràng độc đáo ở chất men, thì người
ỡng Động t hào bi bí quyết to s hòa quyn của đất và la, làm ra loi gm da
chu vi sc màu t nhiên. Gm nung va lửa, đủ tạo độ rn chc, vng chãi cho sn
phẩm và làm tươi ròn màu nâu đỏ ca loại đất sét nặng độ st cao, ch vùng đt
này mi có.
An xưa làng, nay nổi tiếng về nghề đi biển của huyện Thủy
Nguyên, Hải Phòng. Thuở xa xưa, khi người dân An ra khơi thuyền tam bản,
thuyền buồm thì biển chỉ cách làng 500m. Còn hôm nay, khi dân An Lư đi biển bằng
cả đội tàu viễn dương hàng ngàn tấn thì biển đã cách xa làng đến cả chục kilômét.
Một làng nghề đã vươn mình ra biển khơi với việc chinh phục đường biển Đông Nam
Á và trở thành một khu phố sầm uất. Nhớ lại khi chưa có Hiệp hội, các công ty, các
chủ tàu cạnh tranh không theo quy luật nào cả. Kết quả là tất cả đều thua thiệt. Bây
giờ Hiệp hội đại diện gắn kết các thành viên. 250 con tàu lớn nhỏ đều là thành viên
của hiệp hội, giá cước được bảo đảm, đặc biệt các thành viên hỗ trợ nhau trên biển
khi gặp sự cố. Một tàu gặp sự cố, khi báo cho Hiệp hội biết tọa độ, lập tức các tàu
khác ở gần có trách nhiệm đến ứng cứu. Việc ứng cứu kịp thời đã giúp nhiều con tàu
46 của chính quyền và động viên của bà con, đề án xây dựng HTX Gốm Dưỡng Động được xây dựng. Sản phẩm gốm Dưỡng Động bây giờ giàu chất nghệ thuật được người tiêu dùng sành điệu sử dụng trang trí nội thất như tranh, tượng phù điêu... Đó là dấu hiệu phục hồi cho một làng nghề, niềm tin vào một tương lai tươi sáng, triển vọng phát triển uy tín thương hiệu gốm Dưỡng Động. Xuất phát từ niềm say mê và ý chí giữ gìn truyền thống của người con đất làng nghề, sở Khoa học- Công nghệ Hải Phòng thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng, tiếp tục nâng chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Quy mô dự án lên tới 5,7 tỷ đồng và được triển khai trên diện tích 6000m2 với khu vực lò xưởng, địa điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Vạn sự khởi đầu nan, với tâm huyết của những người luôn đau đáu ý chí phát triển làng nghề truyền thống trong thời kỳ ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, gốm Dưỡng Động sẽ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, đáp ứng yêu cầu của những người tiêu dùng kỹ tính. Các sản phẩm gốm do nghệ nhân làng Dưỡng Động chế tác không thua kém bất kỳ sản phẩm gốm nổi danh nào khác như bát ăn, bình gốm…. Nếu như gốm Phù Lãng và Bát Tràng độc đáo ở chất men, thì người Dưỡng Động tự hào bởi bí quyết tạo sự hòa quyện của đất và lửa, làm ra loại gốm da chu với sắc màu tự nhiên. Gốm nung vừa lửa, đủ tạo độ rắn chắc, vững chãi cho sản phẩm và làm tươi ròn màu nâu đỏ của loại đất sét nặng có độ sắt cao, chỉ vùng đất này mới có. An Lư xưa là làng, nay là xã nổi tiếng về nghề đi biển của huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Thuở xa xưa, khi người dân An Lư ra khơi thuyền tam bản, thuyền buồm thì biển chỉ cách làng 500m. Còn hôm nay, khi dân An Lư đi biển bằng cả đội tàu viễn dương hàng ngàn tấn thì biển đã cách xa làng đến cả chục kilômét. Một làng nghề đã vươn mình ra biển khơi với việc chinh phục đường biển Đông Nam Á và trở thành một khu phố sầm uất. Nhớ lại khi chưa có Hiệp hội, các công ty, các chủ tàu cạnh tranh không theo quy luật nào cả. Kết quả là tất cả đều thua thiệt. Bây giờ Hiệp hội đại diện gắn kết các thành viên. 250 con tàu lớn nhỏ đều là thành viên của hiệp hội, giá cước được bảo đảm, đặc biệt các thành viên hỗ trợ nhau trên biển khi gặp sự cố. Một tàu gặp sự cố, khi báo cho Hiệp hội biết tọa độ, lập tức các tàu khác ở gần có trách nhiệm đến ứng cứu. Việc ứng cứu kịp thời đã giúp nhiều con tàu
47
thoát khỏi cơn nguy biến, giảm được rất nhiều thiệt hại. Nhờ Hiệp hội, các con tàu
không cảm thấy "cô đơn" trên biển cả mênh mông đầy nguy hiểm.
Làng nghề đi biển An Lư vẫn phát triển, các con tầu được đóng mới ngay trên
quê hương An Lư, nghĩa là An Lư không chỉ có vận tải biển mà nay còn có Nhà máy
đóng tàu Nam Sơn đang được xây dựng trên diện tích 19ha, đóng được các con tàu
biển trọng tải 4 - 5.000 tấn. Các con tàu An Lư đều được trang bị hộp đen hiện đại.
Không chỉ có thế, Hiệp hội An còn kết nạp cả các thành viên là công ty điện tử
viễn thông chuyên cung cấp vật tư thiết bị cho các con tàu của Hiệp hội, công ty tư
vấn pháp lý, mở ra hướng phát triển toàn diện cho vận tải biển. Ngày 12/8/2008, Hiệp
hội vận tải đoàn kết An Lư vừa tròn 10 tuổi. Năm này sang năm khác, số thành viên
xin gia nhập Hiệp hội cứ tăng lên. Chỉ có đoàn kết, chỉ biết dựa vào nhau họ mới tồn
tại để "đi đến nơi về đến chốn". tôi rèn bản lĩnh nghề nghiệp, bởi nghề vận tải biển
vô cùng khắc nghiệt.
Không an phận trong “ao nhà” khát vọng vươn ra biển lớn đã manh nha từ
nhiều năm trước, khi các doanh nghiệp An Lư ngày một lớn mạnh đã chuyển trụ sở
của mình từ xã ra thành phố, rồi thiết lập quan hệ trên toàn quốc, vươn ra ký kết hợp
đồng với đối tác ở nước ngoài. Để thực hiện ước mơ ra biển lớn, người An Lư không
chỉ đổ tiền để đóng những con tàu to hơn, họ còn đang thực hiện chiến lược đào tạo
nhân lực khá bài bản. Các công ty TNHH của An đã đưa con em mình vào học
trong trường hàng hải hoặc quản lý kinh tế từ nhiều năm trước, hiện giờ một số trở về
đang bắt đầu làm quen công việc trong công ty của cha, anh mình. Làng An Lư nằm
bên bờ biển huyện Thủy Nguyên đang đổi mới từng ngày. Đời sống của người dân
ngày một được cải thiện. Nhiều người giàu lên, cả làng đã có trên trăm chiếc ôtô con
toàn loại xịn BMW, Mercedes, Audi...
Thủy Đường nghề gói bánh chưng xanh, khi nói đến bánh chưng ta
thường nhớ đến tết nguyên đán của quê hương. Về làng nghề bánh chưng Thủy
Đường, Thủy Nguyên để kịp cảm nhận không khí tết sớm đang về hối hả từng ngày.
Khác với các xã, tỉnh khác của Việt Nam, gói bánh chưng là lá dong thì làng gói
bánh chưng Thủy Đường chọn lá gói bánh chuối hột xanh, cùng với đỗ xanh,
gạo nếp chọn loại ngon nhất, nếp cái hoa vàng, thịt chọn thịt lợn ba chỉ có cả nạc và
47 thoát khỏi cơn nguy biến, giảm được rất nhiều thiệt hại. Nhờ Hiệp hội, các con tàu không cảm thấy "cô đơn" trên biển cả mênh mông đầy nguy hiểm. Làng nghề đi biển An Lư vẫn phát triển, các con tầu được đóng mới ngay trên quê hương An Lư, nghĩa là An Lư không chỉ có vận tải biển mà nay còn có Nhà máy đóng tàu Nam Sơn đang được xây dựng trên diện tích 19ha, đóng được các con tàu biển trọng tải 4 - 5.000 tấn. Các con tàu An Lư đều được trang bị hộp đen hiện đại. Không chỉ có thế, Hiệp hội An Lư còn kết nạp cả các thành viên là công ty điện tử viễn thông chuyên cung cấp vật tư thiết bị cho các con tàu của Hiệp hội, công ty tư vấn pháp lý, mở ra hướng phát triển toàn diện cho vận tải biển. Ngày 12/8/2008, Hiệp hội vận tải đoàn kết An Lư vừa tròn 10 tuổi. Năm này sang năm khác, số thành viên xin gia nhập Hiệp hội cứ tăng lên. Chỉ có đoàn kết, chỉ biết dựa vào nhau họ mới tồn tại để "đi đến nơi về đến chốn". và tôi rèn bản lĩnh nghề nghiệp, bởi nghề vận tải biển vô cùng khắc nghiệt. Không an phận trong “ao nhà” khát vọng vươn ra biển lớn đã manh nha từ nhiều năm trước, khi các doanh nghiệp An Lư ngày một lớn mạnh đã chuyển trụ sở của mình từ xã ra thành phố, rồi thiết lập quan hệ trên toàn quốc, vươn ra ký kết hợp đồng với đối tác ở nước ngoài. Để thực hiện ước mơ ra biển lớn, người An Lư không chỉ đổ tiền để đóng những con tàu to hơn, họ còn đang thực hiện chiến lược đào tạo nhân lực khá bài bản. Các công ty TNHH của An Lư đã đưa con em mình vào học trong trường hàng hải hoặc quản lý kinh tế từ nhiều năm trước, hiện giờ một số trở về đang bắt đầu làm quen công việc trong công ty của cha, anh mình. Làng An Lư nằm bên bờ biển huyện Thủy Nguyên đang đổi mới từng ngày. Đời sống của người dân ngày một được cải thiện. Nhiều người giàu lên, cả làng đã có trên trăm chiếc ôtô con toàn loại xịn BMW, Mercedes, Audi... Xã Thủy Đường có nghề gói bánh chưng xanh, khi nói đến bánh chưng ta thường nhớ đến tết nguyên đán của quê hương. Về làng nghề bánh chưng Thủy Đường, Thủy Nguyên để kịp cảm nhận không khí tết sớm đang về hối hả từng ngày. Khác với các xã, tỉnh khác của Việt Nam, lá gói bánh chưng là lá dong thì làng gói bánh chưng Thủy Đường chọn lá gói bánh là lá chuối hột xanh, cùng với đỗ xanh, gạo nếp chọn loại ngon nhất, nếp cái hoa vàng, thịt chọn thịt lợn ba chỉ có cả nạc và
48
mỡ, dưới bàn tay khéo léo của những nghệ nhân, những chiếc bánh chưng không cần
gói bằng khuôn vẫn vuông vức. Sau khi gói xong họ cho vào nồi luộc trên bếp than
rực lửa, họ cẩn thận canh nồi bánh chưng để đổ thêm nước vào nồi theo những giờ
qui định, luộc 10 tiếng đồng hồ thì họ tắt bếp, chỉ còn hơi ấm của than củi, 2 tiếng sau
bánh mới được vớt ra khỏi nồi. Khi bánh được vớt ra họ cho vào các khuôn to (chứa
được 20 đến 30 cái bánh) để ép (đè vật nặng lên trên khuôn bánh), để cho bánh ráo
nước mới đem đi bán.
Nhiều nghệ nhân gói bánh chưng con nhà nòi (tức ông, bà, bố mẹ nghệ
nhân gói bánh chưng), nên họ gói bánh nhanh thoăn thoắt, cái bánh gọn gàng chắc
nịch.Trong làng gói bánh chưng Thủy Đường thì lực lượng chọn và chuẩn bị nguyên
liệu là phụ nữ, còn người gói chủ yếu nam giới, từ trai trẻ đến ông già tất cả đều
biết gói bánh. Khi bánh chín, có thể bóc ra thưởng thức thì bóc bánh ra một màu
xanh của lá in trên nền bánh, quyện với hương vị của nguyên liệu chọn lọc đã làm
nên thương hiệu - Bánh chưng Thủy Đường. Từ lây tiếng thơm của bánh chưng Thủy
Đường đã vang xa khắp nơi, ra tận nước ngoài. Nếu ai đó muốn đặt bánh làm quà
cho người xa xứ hay cúng tết nhà, ngươi ta chỉ muốn đặt bánh Thủy Đường. Ở Thủy
Đường có khoảng 10 gia đình làm nghề gói bánh chưng nồi tiếng là ngon như nhà bà
Trượt, ông Vượt, anh Thêm, bác Na… có gia đình truyền thống gói bánh chưng
60, 70 năm nay. Mỗi độ xuân về làng lại nhộn nhịp rộn ràng các công việc chuẩn bị
nguyên liệu cho gói bánh, các bếp than củi đỏ rực các góc làng, tạo nên một không
khí ấm áp, đầy sức xuân.
Huyn Thu Nguyên còn có ngh hương thơm Kiền Bái, không phải nghề
truyền thống nhưng nghề làm hương ở Kiền Bái đã có hơn 20 năm nay. Lúc đầu chỉ
một số người trong làng làm hương nhưng dần dần nó đã trở thành nghề chính của rất
nhiều hộ. Đến nay xã đã có khoảng 60 hộ sản xuất hương quanh năm. Sản xuất hương
thơm ở Kiền Bái có nhiều loại nhưng loại phổ biến nhất có lẽ là hương se, cách làm
hương se không khó: chỉ cần trộn bột hương được xay nhuyễn từ nhiều loại hương
liệu, gồm các thứ như: bột hương bài, quế, thuốc bắc với nước keo… Sau đó, lấy
chân hương quấn bột, se lại với bột khô rồi đem phơi. Thứ tạo nên mùi thơm đặc
trưng là hương liệu. Tuy nhiên, mỗi người lại có bí quyết pha trộn hương liệu riêng,
48 mỡ, dưới bàn tay khéo léo của những nghệ nhân, những chiếc bánh chưng không cần gói bằng khuôn vẫn vuông vức. Sau khi gói xong họ cho vào nồi luộc trên bếp than rực lửa, họ cẩn thận canh nồi bánh chưng để đổ thêm nước vào nồi theo những giờ qui định, luộc 10 tiếng đồng hồ thì họ tắt bếp, chỉ còn hơi ấm của than củi, 2 tiếng sau bánh mới được vớt ra khỏi nồi. Khi bánh được vớt ra họ cho vào các khuôn to (chứa được 20 đến 30 cái bánh) để ép (đè vật nặng lên trên khuôn bánh), để cho bánh ráo nước mới đem đi bán. Nhiều nghệ nhân gói bánh chưng là con nhà nòi (tức ông, bà, bố mẹ là nghệ nhân gói bánh chưng), nên họ gói bánh nhanh thoăn thoắt, cái bánh gọn gàng chắc nịch.Trong làng gói bánh chưng Thủy Đường thì lực lượng chọn và chuẩn bị nguyên liệu là phụ nữ, còn người gói chủ yếu là nam giới, từ trai trẻ đến ông già tất cả đều biết gói bánh. Khi bánh chín, có thể bóc ra thưởng thức thì bóc bánh ra là một màu xanh của lá in trên nền bánh, quyện với hương vị của nguyên liệu chọn lọc đã làm nên thương hiệu - Bánh chưng Thủy Đường. Từ lây tiếng thơm của bánh chưng Thủy Đường đã vang xa khắp nơi, ra tận nước ngoài. Nếu ai đó muốn đặt bánh làm quà cho người xa xứ hay cúng tết nhà, ngươi ta chỉ muốn đặt bánh Thủy Đường. Ở Thủy Đường có khoảng 10 gia đình làm nghề gói bánh chưng nồi tiếng là ngon như nhà bà Trượt, ông Vượt, anh Thêm, bác Na… có gia đình có truyền thống gói bánh chưng 60, 70 năm nay. Mỗi độ xuân về làng lại nhộn nhịp rộn ràng các công việc chuẩn bị nguyên liệu cho gói bánh, các bếp than củi đỏ rực các góc làng, tạo nên một không khí ấm áp, đầy sức xuân. Huyện Thuỷ Nguyên còn có nghề hương thơm Kiền Bái, dù không phải nghề truyền thống nhưng nghề làm hương ở Kiền Bái đã có hơn 20 năm nay. Lúc đầu chỉ một số người trong làng làm hương nhưng dần dần nó đã trở thành nghề chính của rất nhiều hộ. Đến nay xã đã có khoảng 60 hộ sản xuất hương quanh năm. Sản xuất hương thơm ở Kiền Bái có nhiều loại nhưng loại phổ biến nhất có lẽ là hương se, cách làm hương se không khó: chỉ cần trộn bột hương được xay nhuyễn từ nhiều loại hương liệu, gồm các thứ như: bột hương bài, quế, thuốc bắc với nước keo… Sau đó, lấy chân hương quấn bột, se lại với bột khô rồi đem phơi. Thứ tạo nên mùi thơm đặc trưng là hương liệu. Tuy nhiên, mỗi người lại có bí quyết pha trộn hương liệu riêng,
49
không thể tiết lộ với người ngoài. Phối trộn nguyên liệu xong thì đến khâu se hương.
Khâu này yêu cầu người làm phải thực hiện động tác nhanh, gọn mới làm ra được
những nén hương có độ đồng đều về kích cỡ, lượng nguyên liệu sử dụng, thân hương
nhẵn, khô, độ dính kết cao. Cách làm đơn giản là vậy nhưng để nén hương thắp lên,
có mùi thơm đặc biệt, cháy hết nén và xoắn vòng lộc, người làm hương phải chọn lựa
nguyên liệu rất kỹ. Đầu tiên là chân hương, phải được làm bằng loại tre, nứa ngâm
được trẻ nhỏ, đều tăm tắp, có vậy mới dễ cháy. Tiếp đến là bột hương được nghiền từ
cây hương bài. Hầu hết các hộ sản xuất hương ở Kiền Bái đều phải đến tận các tỉnh
như: Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang… thu mua rồi đem về phơi khô, nghiền
nhỏ. Ngoài ra, mỗi que hương thường có thêm thành phần nhất định từ nhiều loại
dược liệu khác nhau như đại hoàng, mộc hương, cam thảo, đinh hương… Tất cả tán
thành bột mịn, pha trộn với nhau theo tỉ lệ nhất định.
Những ngày mùa dọc các con đường Kiền Bái (Thủy Nguyên) đầy
những nong phơi tưm tre đỏ rực xòe như đóa hoa trăm nghìn cánh. Khắp trong nhà,
ngoài ngõ, đâu cũng thấy màu vàng của bột hương, màu đỏ của chân hương… Bởi lẽ
trong thời gian này, thị trường cần một lượng lớn hương để chuẩn bị cho dịp Tết
nguyên đán. thể nói, hương được tiêu thụ quanh năm, vả lại thị trường tiêu th
rộng lớn. Do vậy, mấy năm nay nhiều hộ ở Kiền Bái có thu nhập khá, thậm trí không
ít gia đình trong làng giàu lên từ làm hương. Thế nên, chuyện xây nhà cao tầng, mua
xe ô tô từ làm hương của nhiều gia đình ở Kiền Bái không còn là chuyện hiếm. Gần
đây, một số hộ sản xuất hương trong làng đã mạnh dạn đầu tư đến khâu đóng gói, in
nhãn mác để tạo thương hiệu.
Nghề làm hương đã tạo công ăn việc làm cho hơn 200 lao động theo thời vụ, thu
nhập bình quân từ 2-2,5 triệu đồng/người/tháng. Hàng làm ra được xuất đi Hà Nội, Hải
Dương, Thừa Thiên - Huế, vào TP. Hồ Chí Minh, thậm chí ra cả nước ngoài.
Hiện nay các cơ sở th công ngoài quc doanh phát trin khá, hình thc là các
công ty trách nhim hu hn, hp tác xã, t hp. Trong huyn còn 393 h sn xut
ngh th công. Các làng ngh truyn thống đã tiếp cn tt th trưng, tiêu th sn
phm, đóng góp một phn rt quan trng vào vic gii quyết công ăn vic làm không
nhng ch thu hút lao động gia đình làng xã mình còn thu hút được nhiu lao
49 không thể tiết lộ với người ngoài. Phối trộn nguyên liệu xong thì đến khâu se hương. Khâu này yêu cầu người làm phải thực hiện động tác nhanh, gọn mới làm ra được những nén hương có độ đồng đều về kích cỡ, lượng nguyên liệu sử dụng, thân hương nhẵn, khô, độ dính kết cao. Cách làm đơn giản là vậy nhưng để nén hương thắp lên, có mùi thơm đặc biệt, cháy hết nén và xoắn vòng lộc, người làm hương phải chọn lựa nguyên liệu rất kỹ. Đầu tiên là chân hương, phải được làm bằng loại tre, nứa ngâm được trẻ nhỏ, đều tăm tắp, có vậy mới dễ cháy. Tiếp đến là bột hương được nghiền từ cây hương bài. Hầu hết các hộ sản xuất hương ở Kiền Bái đều phải đến tận các tỉnh như: Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang… thu mua rồi đem về phơi khô, nghiền nhỏ. Ngoài ra, mỗi que hương thường có thêm thành phần nhất định từ nhiều loại dược liệu khác nhau như đại hoàng, mộc hương, cam thảo, đinh hương… Tất cả tán thành bột mịn, pha trộn với nhau theo tỉ lệ nhất định. Những ngày mùa hè dọc các con đường ở xã Kiền Bái (Thủy Nguyên) đầy những nong phơi tưm tre đỏ rực xòe như đóa hoa trăm nghìn cánh. Khắp trong nhà, ngoài ngõ, đâu cũng thấy màu vàng của bột hương, màu đỏ của chân hương… Bởi lẽ trong thời gian này, thị trường cần một lượng lớn hương để chuẩn bị cho dịp Tết nguyên đán. Có thể nói, hương được tiêu thụ quanh năm, vả lại thị trường tiêu thụ rộng lớn. Do vậy, mấy năm nay nhiều hộ ở Kiền Bái có thu nhập khá, thậm trí không ít gia đình trong làng giàu lên từ làm hương. Thế nên, chuyện xây nhà cao tầng, mua xe ô tô từ làm hương của nhiều gia đình ở Kiền Bái không còn là chuyện hiếm. Gần đây, một số hộ sản xuất hương trong làng đã mạnh dạn đầu tư đến khâu đóng gói, in nhãn mác để tạo thương hiệu. Nghề làm hương đã tạo công ăn việc làm cho hơn 200 lao động theo thời vụ, thu nhập bình quân từ 2-2,5 triệu đồng/người/tháng. Hàng làm ra được xuất đi Hà Nội, Hải Dương, Thừa Thiên - Huế, vào TP. Hồ Chí Minh, thậm chí ra cả nước ngoài. Hiện nay các cơ sở thủ công ngoài quốc doanh phát triển khá, hình thức là các công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, tổ hợp. Trong huyện còn 393 hộ sản xuất nghề thủ công. Các làng nghề truyền thống đã tiếp cận tốt thị trường, tiêu thụ sản phẩm, đóng góp một phần rất quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm không những chỉ thu hút lao động ở gia đình làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao
50
động t các địa phương khác, tăng thu nhập, góp phn ổn định kinh tế xã hi
tiền đề cho s công nghip hóa, hiện đại hóa đất nước. Vic duy trì phát trin các sn
phm làng ngh và làng ngh truyn thng gn vi phát trin du lch cũng tr thành
yêu cu được đặt ra trong quá trình phát trin các ngh th công. Phát trin các ngh
th công góp phn phát trin công nghip nông thôn trong quá trình công nghip hoá,
hin đại hoá nông nghip, nông thôn, góp phn tích cc vào chuyn dịch cơ cấu kinh tế
nông nghip nông thôn. Phát trin các ngh th công s nâng t trng ca ngh
trong cu kinh tế nông thôn tăng tốc độ phát trin kinh tế nông thôn. Đồng
thi phát trin các làng ngh s kéo theo phát trin nông nghiệp để cung cp nguyên
liu cho công nghip và tiêu th sn phm ca công nghiệp, thúc đẩy s phát triển cơ
s h tng k thut các ngh dch v...
Mặt khác, cần chú ý đến ý nghĩa xã hội của những việc làm được tạo ra ở các
làng nghề. Sự phát triển của các làng nghề trong huyện đã vài trò tích cực trong
việc hạn chế di dân tự do. Người dân nông thôn luôn có tâm lý gắn bó với làng quê,
do vậy khi đã có việc làm và thu nhập ổn định, nguồn thu nhập này lại cao hơn
thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì họ sẽ không muốn đi tìm việc nơi khác. Việc
phát triển làng nghề theo phương châm “ly nông, bất ly hương” không chỉ có khả
năng lớn giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn có vai
trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, từ vùng
này sang vùng khác ở nước ta hiện nay. Thu nhập của các hộ làm nghề thủ công ở các
làng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần nông. Ở các làng có nghề, tỷ lệ
hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có hộ
đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho
người dân các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn
tinh thần. Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn, để khôi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi các cấp
chính quyền phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của làng nghề; kịp thời có
những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với đặc điểm từng địa
phương cũng như yêu cầu của thị trường.
50 động từ các địa phương khác, tăng thu nhập, góp phần ổn định kinh tế xã hội và là tiền đề cho sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc duy trì phát triển các sản phẩm làng nghề và làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch cũng trở thành yêu cầu được đặt ra trong quá trình phát triển các nghề thủ công. Phát triển các nghề thủ công là góp phần phát triển công nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Phát triển các nghề thủ công sẽ nâng tỷ trọng của nghề trong cơ cấu kinh tế ở nông thôn và tăng tốc độ phát triển kinh tế nông thôn. Đồng thời phát triển các làng nghề sẽ kéo theo phát triển nông nghiệp để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các nghề dịch vụ... Mặt khác, cần chú ý đến ý nghĩa xã hội của những việc làm được tạo ra ở các làng nghề. Sự phát triển của các làng nghề trong huyện đã có vài trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do. Người dân nông thôn luôn có tâm lý gắn bó với làng quê, do vậy khi đã có việc làm và thu nhập ổn định, mà nguồn thu nhập này lại cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì họ sẽ không muốn đi tìm việc nơi khác. Việc phát triển làng nghề theo phương châm “ly nông, bất ly hương” không chỉ có khả năng lớn giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác ở nước ta hiện nay. Thu nhập của các hộ làm nghề thủ công ở các làng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần nông. Ở các làng có nghề, tỷ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân ở các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, để khôi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi các cấp chính quyền phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của làng nghề; kịp thời có những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với đặc điểm từng địa phương cũng như yêu cầu của thị trường.
51
Bảng 2.5: Các làng nghề thủ công trên địa bàn Thủy Nguyên
Làng ngh th công
Tên xã
Qui mô (s h )
Đúc đng
M Đồng
200
Đan mây tre
Chính M
1000
Gốm Dưỡng Động
Minh Tân
16
Đi bin
An Lư
112
Gói bánh chưng
Thủy Đường
62
Hương thơm
Kin Bái
210
(Ngun: [3], [5])
Trong các làng nghề trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, làng mây tre đan do có
số hộ tham gia trong làng nghề đông nhất nên được công nhận là làng nghề truyền
thống năm 2007 và trở thành điểm du lịch phía Bắc Sông Cấm Hải Phòng.Các làng
nghề thủ công khác đang hoạt động vươn mình ra ngoài huyện và cả nước, như đúc
đồng ( Mỹ Đồng)…
2.2.3. Công nghiệp
Phát trin công nghip nhu cu khách quan không th tách ri trong tiến
trình CNH- HĐH đất nước. chính ngành kinh tế ch đạo, to ra nn tng vt
cht cho nn kinh tế quốc dân, thúc đẩy các ngành sn xut khác phát trin và phn
ánh trình độ phát trin kinh tế ca quốc gia đó. Công nghiệp là ngành kinh tếs
ảnh hưởng quyết định đến s phát trin lực lượng sn xut của các ngành khác, đồng
thi to ra những động lực và định hướng phát trin các ngành khác. Là ngành duy
nht có sn phm làm chức năng tư liệu lao động trong các ngành kinh tế khác. To
ra và trang b kĩ thuật cho tt c các ngành, đồng thời là cơ sở tái m rng cho toàn b
nn kinh tế. Mặt khác năng suất lao động trong công nghip là yếu t cơ bản dn ti
gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng sức mua m rng th trưng tiêu dùng và
dch v. Nn kinh tế thế gii ngày nay là nn kinh tế m, do vy chính sách xây dng
kinh tế cần có thương hiệu và bn sc là vấn đề rt quan trng bảo đảm lâu dài cho
phát trin của địa phương. Vi nhng ch th ngh quyết ca Huyn Ủy đã chứng t vic
đầu tư cho phát triển công nghip địa bàn huyn Thy Nguyên là cn thiết, đáp ứng
yêu cu ca s phát trin huyện, đồng thời khai thác được ngun tài nguyên của địa
phương. Gii quyết vic làm cho nhân dân. Nâng cao cuc sng ca nhân dân.
51 Bảng 2.5: Các làng nghề thủ công trên địa bàn Thủy Nguyên Làng nghề thủ công Tên xã Qui mô (số hộ ) Đúc đồng Mỹ Đồng 200 Đan mây tre Chính Mỹ 1000 Gốm Dưỡng Động Minh Tân 16 Đi biển An Lư 112 Gói bánh chưng Thủy Đường 62 Hương thơm Kiền Bái 210 (Nguồn: [3], [5]) Trong các làng nghề trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, làng mây tre đan do có số hộ tham gia trong làng nghề đông nhất nên được công nhận là làng nghề truyền thống năm 2007 và trở thành điểm du lịch phía Bắc Sông Cấm Hải Phòng.Các làng nghề thủ công khác đang hoạt động vươn mình ra ngoài huyện và cả nước, như đúc đồng ( Mỹ Đồng)… 2.2.3. Công nghiệp Phát triển công nghiệp là nhu cầu khách quan không thể tách rời trong tiến trình CNH- HĐH đất nước. Nó chính là ngành kinh tế chủ đạo, tạo ra nền tảng vật chất cho nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển và phản ánh trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Công nghiệp là ngành kinh tế có sự ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển lực lượng sản xuất của các ngành khác, đồng thời tạo ra những động lực và định hướng phát triển các ngành khác. Là ngành duy nhất có sản phẩm làm chức năng tư liệu lao động trong các ngành kinh tế khác. Tạo ra và trang bị kĩ thuật cho tất cả các ngành, đồng thời là cơ sở tái mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác năng suất lao động trong công nghiệp là yếu tố cơ bản dẫn tới gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng sức mua mở rộng thị trường tiêu dùng và dịch vụ. Nền kinh tế thế giới ngày nay là nền kinh tế mở, do vậy chính sách xây dựng kinh tế cần có thương hiệu và bản sắc là vấn đề rất quan trọng bảo đảm lâu dài cho phát triển của địa phương. Với những chỉ thị nghị quyết của Huyện Ủy đã chứng tỏ việc đầu tư cho phát triển công nghiệp ở địa bàn huyện Thủy Nguyên là cần thiết, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển huyện, đồng thời khai thác được nguồn tài nguyên của địa phương. Giải quyết việc làm cho nhân dân. Nâng cao cuộc sống của nhân dân.
52
Tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa
dạng về ngành nghề, Thuỷ Nguyên đã nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm
năng sẵn có, xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu phát triển. Chủ trương
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bước đầu đã thu
được những kết quả tốt đẹp. Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ. Hiện nay, trên địa bàn huyện có hơn 20 xí nghiệp, nhà máy, hàng
trăm cơ sở sản xuất - kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động đã tạo lập
môi trường sản xuất - kinh doanh sôi động, cạnh tranh lành mạnh, góp phần giải
quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp -
xây dựng trên địa bàn huyện. Cùng với những thành tựu đạt được, Thuỷ Nguyên còn
đón nhận nhiều dự án lớn đang được đầu tư trên địa bàn như: tuyến Quốc lộ 10 từ
Bến Kiền, Đá Bạc sang Quảng Ninh; nhà máy nhiệt điện 600 MW (xã Tam Hưng);
Nhà máy Xi măng Hải Phòng (thị trấn Minh Đức); mở rộng Công ty Công nghiệp
Tàu thuỷ Nam Triệu.... Đây sẽ là những nền tảng cơ bản cho quá trình quy hoạch
sự phát triển của Thuỷ Nguyên. Các xã Lại Xuân, Kỳ Sơn, Phù Ninh, Quảng Thanh,
Chính Mỹ, Hợp Thành, Liên Khê, Lưu Kiếm, Minh Tân, Gia Đức, Gia Minh là vùng
tập trung tập trung tài nguyên khoáng sản phi kim loại phát triển công nghiệp vật liệu
xây dựng. Các xã Minh Đức, Tam Hưng, Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Ngũ Lão, Thuỷ
Triều, Trung Hà, An Lư là vùng cửa sông ven biển, có tiềm năng phát triển các khu
công nghiệp.
Ngay từ rất sớm những năm 80 của thế kỷ XX, các xã trong huyện đã khai
thác nguồn đá vôi để phát triển công nghiệp, hình thành xí nghiệp đá Minh Đức, mỏ
đá Tràng Kênh trên địa bàn Thị trấn Minh Đức, trên sở HTX thủ công. Ban đầu
các xí nghiệp này thực hiện tự hạch toán kinh doanh, tìm nguồn tiêu thụ nhưng còn
nhiều khó khăn, có giai đoạn phải ngừng hoạt động. Sang những năm 90 của thế kỷ
XX, các xí nghiệp chuyển sang chế thị trường, do nhu cầu đá xây dựng trên thị
trường lớn nên các xí nghiệp này bước đầu giải quyết được nguồn tiêu thụ, sản lượng
hàng năm 5 triệu m3/năm [26]. Hoạt động của xí nghiệp đá và mỏ đá trên địa bàn thị
trấn Minh Đức không chỉ góp phần giải quyết nguồn lao động thừa, tăng ổn
định nguồn thu nhập cho người lao động trong thị trấn mà còn thu hút nguồn lao động
từ các lân cận như Minh Tân, Ngũ Lão, Liên Khê, Lưu Kiếm, Tam Hưng....Hiện
52 Tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề, Thuỷ Nguyên đã nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có, xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Hiện nay, trên địa bàn huyện có hơn 20 xí nghiệp, nhà máy, hàng trăm cơ sở sản xuất - kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động đã tạo lập môi trường sản xuất - kinh doanh sôi động, cạnh tranh lành mạnh, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng trên địa bàn huyện. Cùng với những thành tựu đạt được, Thuỷ Nguyên còn đón nhận nhiều dự án lớn đang được đầu tư trên địa bàn như: tuyến Quốc lộ 10 từ Bến Kiền, Đá Bạc sang Quảng Ninh; nhà máy nhiệt điện 600 MW (xã Tam Hưng); Nhà máy Xi măng Hải Phòng (thị trấn Minh Đức); mở rộng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Nam Triệu.... Đây sẽ là những nền tảng cơ bản cho quá trình quy hoạch và sự phát triển của Thuỷ Nguyên. Các xã Lại Xuân, Kỳ Sơn, Phù Ninh, Quảng Thanh, Chính Mỹ, Hợp Thành, Liên Khê, Lưu Kiếm, Minh Tân, Gia Đức, Gia Minh là vùng tập trung tập trung tài nguyên khoáng sản phi kim loại phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng. Các xã Minh Đức, Tam Hưng, Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Ngũ Lão, Thuỷ Triều, Trung Hà, An Lư là vùng cửa sông ven biển, có tiềm năng phát triển các khu công nghiệp. Ngay từ rất sớm những năm 80 của thế kỷ XX, các xã trong huyện đã khai thác nguồn đá vôi để phát triển công nghiệp, hình thành xí nghiệp đá Minh Đức, mỏ đá Tràng Kênh trên địa bàn Thị trấn Minh Đức, trên cơ sở HTX thủ công. Ban đầu các xí nghiệp này thực hiện tự hạch toán kinh doanh, tìm nguồn tiêu thụ nhưng còn nhiều khó khăn, có giai đoạn phải ngừng hoạt động. Sang những năm 90 của thế kỷ XX, các xí nghiệp chuyển sang cơ chế thị trường, do nhu cầu đá xây dựng trên thị trường lớn nên các xí nghiệp này bước đầu giải quyết được nguồn tiêu thụ, sản lượng hàng năm 5 triệu m3/năm [26]. Hoạt động của xí nghiệp đá và mỏ đá trên địa bàn thị trấn Minh Đức không chỉ góp phần giải quyết nguồn lao động dư thừa, tăng và ổn định nguồn thu nhập cho người lao động trong thị trấn mà còn thu hút nguồn lao động từ các xã lân cận như Minh Tân, Ngũ Lão, Liên Khê, Lưu Kiếm, Tam Hưng....Hiện