Luận văn thạc sĩ kinh tế: Những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

9,617
266
115
89
nghip Vit Nam vn chƣa hiu rõ, đầy đủ v tm quan trng ca thƣơng hiu. Nhiu
doanh nghip không b phn, chuyên gia chuyên thc hin hot động xây dng,
phát trin và bo v thƣơng hiu, đấu tranh vi các hành vi xâm phm thƣơng hiu [5]
Thách thc th ba liên quan đến vic nâng cao kh năng cnh tranh theo kp
tiến trình hi nhp. Kh năng cnh tranh ca các doanh nghip Vit Nam chƣa
cao, cng thêm vi s yếu kém v nhn thc pháp lut to nên mt tr lc rt ln
cho chúng ta trong quá trình hi nhp. Vi mt cơ cu xut nhp khu vn ph
thuc nhiu vào các sn phm thô, sơ chế hay các nông sn phm, mc dù thi gian
qua, chúng ta cũng đã có nhiu c gng trong vic đẩy mnh vic xut khu các sn
phm công ngh cao sn phm tiêu dùng nhƣ hàng đin t, giày da, qun áo,
nhƣng kh năng chiếm lĩnh th trƣờng thế gii ca các mt hàng này vn còn thp
trƣớc s cnh tranh khc lit ca các nƣớc đang phát trin khác, đặc bit Trung
Quc và trƣớc nhng yêu cu v k thut ngt nghèo ca các nƣớc nhp khu, nht
là các th trƣờng đầy tim năng nhƣng li khó tính nhƣ Hoa K, Châu Âu.
Thách thc th tư đặt ra do vic phi thc thi các cam kết v s hu trí tu
trong Hip định TRIPs. Điu 66 ca Hip định TRIPs qui định v thi k chuyn
đổi đối vi các nƣớc kém phát trin. Do nhng nhu cu và yêu cu đặc bit, nhng
nhu cu bc bách v kinh tế, tài chính hành chính, và nhu cu cn có s linh
hot để to ra mt nn tng công ngh bn vng ca các Thành viên là nước m
phát trin, các Thành viên đó không b buc phi thi hành các quy định ca Hip
định này, tr c Điu 3, Điu 4 Điu 5, trước khi hết 10 năm k t thi hn
chung quy định ti khon 1 Điu 65 trên đây. Hi đồng TRIPS phi gia hn thi
hn này theo yêu cu chính đáng ca Thành viên nước m phát trin. Tuy
nhiên đối vi nƣớc ta, do vic tr thành thành viên ca WTO mun nên các doanh
nghip Vit Nam s không đƣợc hƣởng s ƣu đãi v thi k chuyn đổi nhƣ đối vi
c nƣớc chm phát trin khác là thành viên ban đầu ca WTO.
89 nghiệp Việt Nam vẫn chƣa hiểu rõ, đầy đủ về tầm quan trọng của thƣơng hiệu. Nhiều doanh nghiệp không có bộ phận, chuyên gia chuyên thực hiện hoạt động xây dựng, phát triển và bảo vệ thƣơng hiệu, đấu tranh với các hành vi xâm phạm thƣơng hiệu [5] … Thách thức thứ ba liên quan đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh theo kịp tiến trình hội nhập. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là chƣa cao, cộng thêm với sự yếu kém về nhận thức pháp luật tạo nên một trở lực rất lớn cho chúng ta trong quá trình hội nhập. Với một cơ cấu xuất nhập khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm thô, sơ chế hay các nông sản phẩm, mặc dù thời gian qua, chúng ta cũng đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm tiêu dùng nhƣ hàng điện tử, giày da, quần áo, nhƣng khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng thế giới của các mặt hàng này vẫn còn thấp trƣớc sự cạnh tranh khốc liệt của các nƣớc đang phát triển khác, đặc biệt là Trung Quốc và trƣớc những yêu cầu về kỹ thuật ngặt nghèo của các nƣớc nhập khẩu, nhất là các thị trƣờng đầy tiềm năng nhƣng lại “khó tính” nhƣ Hoa Kỳ, Châu Âu. Thách thức thứ tư đặt ra do việc phải thực thi các cam kết về sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TRIPs. Điều 66 của Hiệp định TRIPs qui định về thời kỳ chuyển đổi đối với các nƣớc kém phát triển. “Do những nhu cầu và yêu cầu đặc biệt, những nhu cầu bức bách về kinh tế, tài chính và hành chính, và nhu cầu cần có sự linh hoạt để tạo ra một nền tảng công nghệ bền vững của các Thành viên là nước kém phát triển, các Thành viên đó không bị buộc phải thi hành các quy định của Hiệp định này, trừ các Điều 3, Điều 4 và Điều 5, trước khi hết 10 năm kể từ thời hạn chung quy định tại khoản 1 Điều 65 trên đây. Hội đồng TRIPS phải gia hạn thời hạn này theo yêu cầu chính đáng của Thành viên là nước kém phát triển”. Tuy nhiên đối với nƣớc ta, do việc trở thành thành viên của WTO muộn nên các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không đƣợc hƣởng sự ƣu đãi về thời kỳ chuyển đổi nhƣ đối với các nƣớc chậm phát triển khác là thành viên ban đầu của WTO.
90
3.2. Tìm hiu kinh nghim mt s nƣớc v bo h quyn s hu ng
nghip
3.2.1. Kinh nghim ca Trung Quc
Trong vòng chƣa đầy hai chc năm, t chƣa có gì, Trung Quc đã xây dng nên
mt h thng pháp lut v bo h quyn s hu công nghip khá đầy đủhin đại.
Các qui định v bo h quyn s hu công nghip ca Trung Quc đƣợc xây dng phù
hp vi các công ƣớc và tp quán quc tế, bao gm c nhng qui định trong Hip định
TRIPs ca T chc Thƣơng mi thế gi i, đặc bit là k t đầu thế k XXI.
Tuy vy, Trung Quc trên thc tế chƣa đáp ng đƣợc yêu cu v bo h s
hu công nghip vn luôn trong quá trình thc thi áp dng pháp lut v s hu
công nghip trong bi cnh nn hàng gi đang hoành hành. Chính thế, các nhà
qun lí cũng nhƣ các nhà làm lut ca Trung Quc luôn kêu gi các doanh nghip
và ngƣời dân Trung Quc phi nâng cao vic nhn thc v bo h quyn s hu trí
tu cũng nhƣ quyn s hu công nghip, vic ngăn nga tiêu hy hàng gi, bng
vic áp dng nhng bin pháp chế tài v tài chính hay pht đồng thi thc hin
các ci cách nh chính và tài chính đối vi mt xã hi vn mang tiếng mt
hi hàng gi. Các công ty nƣớc ngoài ƣớc tính khong t 15% đến 20% các sn
phm có nhãn mác ca h trên th trƣờng Trung Quc là hàng gi [17].
3.2.1.1. Xây dng mt h thng lut s hu trí tu phù hp vi các Công ước và tp
quán quc tế.
Cũng ging nhƣ Vit Nam, mt mt, Trung Quc thành viên ca T chc
s hu trí tu thế gii. Trung Quc tham gia tt c các hip ƣớc quc tế quan trng
v s hu trí tu thm chí còn chm hơn so vi Vit Nam: Công ƣớc Paris v bo
h quyn s hu công nghip (ngày 19 tháng 3 năm 1985), Công ƣớc Berne v bo
h các tác phm văn hc và ngh thut (ngày 15 tháng 11 năm 1992), Hip ƣớc v
hp tác sáng chế (PCT- ngày 1 tháng 1 năm 1994), Tha thun và Hip định Madrid
và v nhãn hiu (ln lƣợt ngày 4 tháng 10 năm 1989 và ngày 1 tháng 12 năm 1995),
. Mt khác, Trung Quc đã xây dng mt h thng văn bn quc gia v bo h
90 3.2. Tìm hiểu kinh nghiệm một số nƣớc về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 3.2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc Trong vòng chƣa đầy hai chục năm, từ chƣa có gì, Trung Quốc đã xây dựng nên một hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp khá đầy đủ và hiện đại. Các qui định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Trung Quốc đƣợc xây dựng phù hợp với các công ƣớc và tập quán quốc tế, bao gồm cả những qui định trong Hiệp định TRIPs của Tổ chức Thƣơng mại thế gi ới, đặc biệt là kể từ đầu thế kỷ XXI. Tuy vậy, Trung Quốc trên thực tế chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu về bảo hộ sở hữu công nghiệp và vẫn luôn trong quá trình thực thi áp dụng pháp luật về sở hữu công nghiệp trong bối cảnh nạn hàng giả đang hoành hành. Chính vì thế, các nhà quản lí cũng nhƣ các nhà làm luật của Trung Quốc luôn kêu gọi các doanh nghiệp và ngƣời dân Trung Quốc phải nâng cao việc nhận thức về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng nhƣ quyền sở hữu công nghiệp, việc ngăn ngừa và tiêu hủy hàng giả, bằng việc áp dụng những biện pháp chế tài về tài chính hay phạt tù đồng thời thực hiện các cải cách hành chính và tài chính đối với một xã hội vốn mang tiếng là một xã hội “hàng giả”. Các công ty nƣớc ngoài ƣớc tính khoảng từ 15% đến 20% các sản phẩm có nhãn mác của họ trên thị trƣờng Trung Quốc là hàng giả [17]. 3.2.1.1. Xây dựng một hệ thống luật sở hữu trí tuệ phù hợp với các Công ước và tập quán quốc tế. Cũng giống nhƣ Việt Nam, một mặt, Trung Quốc là thành viên của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới. Trung Quốc tham gia tất cả các hiệp ƣớc quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ thậm chí còn chậm hơn so với Việt Nam: Công ƣớc Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (ngày 19 tháng 3 năm 1985), Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (ngày 15 tháng 11 năm 1992), Hiệp ƣớc về hợp tác sáng chế (PCT- ngày 1 tháng 1 năm 1994), Thỏa thuận và Hiệp định Madrid và về nhãn hiệu (lần lƣợt ngày 4 tháng 10 năm 1989 và ngày 1 tháng 12 năm 1995), …. Mặt khác, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống văn bản quốc gia về bảo hộ
91
quyn s hu trí tu đáp ng s mong đợi ca các tác nhân kinh tế trong tt c c
lĩnh vc s hu trí tu. Các văn bn pháp lut y đƣợc chnh sa nhm đƣa lut
pháp quc gia phù hp vi các Hip ƣớc quc tế va ký kết. đây ta có th k đến
ln chnh sa ca Lut v bng sáng chế (năm 2001), và tiếp đó là nhng sa đổi b
sung Lut v nhãn hiu và quyn tác gi (sc lnh ngày 27 tháng 11 năm 2001).
Lut v bng sáng chế ca Trung Quc ra đời ngày 12 tháng 3 năm
1984 đã đƣợc sa đổi ln th hai vào ngày 25 tháng 8 năm 2000 (ln sa đổi th
nht là vào tháng 9 năm 1992). Sau ln sa đổi th hai, có mt s điu chnh cơ bn
sau:
+ Phm vi áp dng ca Lut rng hơn.
Lut mi v sáng chế hiu lc vào ngày 1 tháng 7 năm 2001, khuynh
hƣớng bo v các bng phát minh sáng chế (có mt vài trƣờng hp ngoi l nhƣc
khám phá khoa hc, các nguyên tc phƣơng pháp trong thc hành các hot động
trí tu, các phƣơng pháp chn đoán hay điu tr các bnh, tính đa dng thc vt
các ging động vt, các cht nhn đƣợc t quá trình chuyn đổi ht nhân. Ngoài ra,
các sáng to trái vi pháp lut Nhà nƣớc hay đạo đức hi hoc gây tn hi đến
li ích cng đồng đều không đƣợc bo h bi bt k lut nào) mu hu ích
các bn v, kiu dáng công nghip. (Trung Quc chƣa phê chun Hip ƣớc Lahay
v đăng ký kiu dáng công nghip).
+ Sa đổi mang tính tư pháp các quyết định hành chính
Vic cp bng sáng chế đƣợc thc hin ti Văn phòng s hu trí tu quc gia.
Sau mt đợt kim tra chính thc, đơn xin cp đƣợc công b. Hơn thế na, mt đợt
kim tra mang tính chiu sâu th đƣợc yêu cu bi ngƣời kê khai. Và sau đó, ch
nhng ngƣời khai c đơn xin cp bng sáng chế hoc nhng ngƣời đã
bng sáng chế mi th tiến hành khiếu ni hoc khi kin nếu nhƣ h không
đồng ý v quyết đnh ca Văn phòng. Lut mi v sáng chế ca Trung Quc cho
phép vic khiếu ni hoc khi kin trƣớc tòa án v tt c các quyết định ca Văn
phòng s hu trí tu quc gia, tƣơng t trong trƣờng hp ca các mu hu ích.
91 quyền sở hữu trí tuệ đáp ứng sự mong đợi của các tác nhân kinh tế trong tất cả các lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Các văn bản pháp luật này đƣợc chỉnh sửa nhằm đƣa luật pháp quốc gia phù hợp với các Hiệp ƣớc quốc tế vừa ký kết. Ở đây ta có thể kể đến lần chỉnh sửa của Luật về bằng sáng chế (năm 2001), và tiếp đó là những sửa đổi bổ sung Luật về nhãn hiệu và quyền tác giả (sắc lệnh ngày 27 tháng 11 năm 2001). Luật về bằng sáng chế của Trung Quốc ra đời ngày 12 tháng 3 năm 1984 đã đƣợc sửa đổi lần thứ hai vào ngày 25 tháng 8 năm 2000 (lần sửa đổi thứ nhất là vào tháng 9 năm 1992). Sau lần sửa đổi thứ hai, có một số điều chỉnh cơ bản sau: + Phạm vi áp dụng của Luật rộng hơn. Luật mới về sáng chế có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2001, có khuynh hƣớng bảo vệ các bằng phát minh sáng chế (có một vài trƣờng hợp ngoại lệ nhƣ các khám phá khoa học, các nguyên tắc và phƣơng pháp trong thực hành các hoạt động trí tuệ, các phƣơng pháp chẩn đoán hay điều trị các bệnh, tính đa dạng thực vật và các giống động vật, các chất nhận đƣợc từ quá trình chuyển đổi hạt nhân. Ngoài ra, các sáng tạo trái với pháp luật Nhà nƣớc hay đạo đức xã hội hoặc gây tổn hại đến lợi ích cộng đồng đều không đƣợc bảo hộ bởi bất kỳ luật nào) và mẫu hữu ích và các bản vẽ, kiểu dáng công nghiệp. (Trung Quốc chƣa phê chuẩn Hiệp ƣớc Lahay về đăng ký kiểu dáng công nghiệp). + Sửa đổi mang tính tư pháp các quyết định hành chính Việc cấp bằng sáng chế đƣợc thực hiện tại Văn phòng sở hữu trí tuệ quốc gia. Sau một đợt kiểm tra chính thức, đơn xin cấp đƣợc công bố. Hơn thế nữa, một đợt kiểm tra mang tính chiều sâu có thể đƣợc yêu cầu bởi ngƣời kê khai. Và sau đó, chỉ có những ngƣời kê khai các đơn xin cấp bằng sáng chế hoặc những ngƣời đã có bằng sáng chế mới có thể tiến hành khiếu nại hoặc khởi kiện nếu nhƣ họ không đồng ý về quyết định của Văn phòng. Luật mới về sáng chế của Trung Quốc cho phép việc khiếu nại hoặc khởi kiện trƣớc tòa án về tất cả các quyết định của Văn phòng sở hữu trí tuệ quốc gia, tƣơng tự trong trƣờng hợp của các mẫu hữu ích.
92
+ Quyn li ca nhng người được cp bng sáng chế được cng c
Mt mt, các điu khon đƣợc đƣa ra thc thi mà không có s ƣng thun ca
nhng ngƣời bng sáng chế thì nhiu hơn bi vì t ngày 1 tháng 7 năm 2001,
khái nim chào bán đƣợc thêm vào Lut, tc là mt s cho phép trƣớc vic s dng
sáng chế. Trƣớc đó Lut mi ch vic chế to, s dng mua bán. Mt khác,
trong trƣờng hp hàng gi liên quan đến sáng chế, Lut thêm mt chi tiết
quan trng: tt c nhng ai s dng hay mua bán mt sn phm đã đƣợc cp sáng
chế b xem là ti phm hàng gi, ngay c khi anh ta không biết rng sn phm y
đƣợc chế to và bán không đƣợc phép ca nhà sáng chế. Tuy nhiên, ngƣi đóth
đƣợc xem là không vi phm nếu chng t đƣợc rng anh ta đã nhn đƣợc sn phm
theo con đƣờng phân phi gián tiếp đã đƣợc cho phép.
+ Địa v ca nhà phát minh là nhân viên các công ty được ci thin
Lut sa đổi v sáng chế d kiến cho phép trong trƣờng hp nếu nhà sáng
chế nhân viên ca công ty, anh ta s đƣợc tham gia chia li nhun ca doanh
nghip khi khai thác sáng chế.
+ Đơn gin hóa các th tc đăng ký:
Ngày 15 tháng 6 năm 2001, mt qui định v thc thi pháp lut v bng sáng
chế đã đơn gin hóa qui trình kim tra, mt qui trình trƣớc đó th kéo dài ti
3 năm.
Lut Trung Quc v nhãn hiu đưc ban hành tháng 8 năm 1982, có
hiu lc ngày 1 tháng 3 năm 1983 đã được sa đổi ln th nht vào năm 1993, ln
th hai năm 1995 và ln gn đây nht là vào ngày 27 tháng 10 năm 2001. Theo đó
ghi nhn mt s b sung cơ bn sau:
+ M rng danh sách nhng người có th đăng ký nhãn hiu
Tt c các th nhân pháp nhân, Trung Quc hay nƣớc ngoài đều có th
gi đơn yêu cu đăng nhãn hiu. Trƣc đó, Lut không cho phép các th nhân
đƣợc làm điu đó, tr c nhà sn xut cá nhân hay tƣ thƣơng.
92 + Quyền lợi của những người được cấp bằng sáng chế được củng cố Một mặt, các điều khoản đƣợc đƣa ra thực thi mà không có sự ƣng thuận của những ngƣời có bằng sáng chế thì nhiều hơn bởi vì từ ngày 1 tháng 7 năm 2001, khái niệm chào bán đƣợc thêm vào Luật, tức là một sự cho phép trƣớc việc sử dụng sáng chế. Trƣớc đó Luật mới chỉ có việc chế tạo, sử dụng và mua bán. Mặt khác, trong trƣờng hợp có hàng giả liên quan đến sáng chế, Luật có thêm một chi tiết quan trọng: tất cả những ai sử dụng hay mua bán một sản phẩm đã đƣợc cấp sáng chế bị xem là tội phạm hàng giả, ngay cả khi anh ta không biết rằng sản phẩm này đƣợc chế tạo và bán không đƣợc phép của nhà sáng chế. Tuy nhiên, ngƣời đó có thể đƣợc xem là không vi phạm nếu chứng tỏ đƣợc rằng anh ta đã nhận đƣợc sản phẩm theo con đƣờng phân phối gián tiếp đã đƣợc cho phép. + Địa vị của nhà phát minh là nhân viên các công ty được cải thiện Luật sửa đổi về sáng chế dự kiến cho phép trong trƣờng hợp nếu nhà sáng chế là nhân viên của công ty, anh ta sẽ đƣợc tham gia chia lợi nhuận của doanh nghiệp khi khai thác sáng chế. + Đơn giản hóa các thủ tục đăng ký: Ngày 15 tháng 6 năm 2001, một qui định về thực thi pháp luật về bằng sáng chế đã đơn giản hóa qui trình kiểm tra, một qui trình mà trƣớc đó có thể kéo dài tới 3 năm. Luật Trung Quốc về nhãn hiệu được ban hành tháng 8 năm 1982, có hiệu lực ngày 1 tháng 3 năm 1983 đã được sửa đổi lần thứ nhất vào năm 1993, lần thứ hai năm 1995 và lần gần đây nhất là vào ngày 27 tháng 10 năm 2001. Theo đó ghi nhận một số bổ sung cơ bản sau: + Mở rộng danh sách những người có thể đăng ký nhãn hiệu Tất cả các thể nhân và pháp nhân, Trung Quốc hay nƣớc ngoài đều có thể gửi đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu. Trƣớc đó, Luật không cho phép các thể nhân đƣợc làm điều đó, trừ “các nhà sản xuất cá nhân hay tƣ thƣơng”.
93
+ Phm vi bo h các nhãn hiu được m rng.
Lut mi cho phép đăng ký ti Trung Quc không ch mt nhãn hiu cá nhân
đối vi mt sn phm hay dch v, mà còn có th đăng ký mt nhãn hiu mang tính
tp th hay mt nhãn hiu chng thc. Ln đầu tiên, nhãn hiu đƣợc định nghĩa
tt c các du hiu th nhìn thy bng mt thƣờng, cho phép phân bit các sn
phm hay dch v ca mt th nhân hay pháp nhân này vi th nhân hoc pháp nhân
khác. Đó có th các ch, các t viết bng nhiu th tiếng, các biu tƣợng hay con
s, các hình v, tp hp các màu sc hay tng hp tt c các yếu t trên.
Nhng đim mi đặc bit liên quan đến vic bo h các nhãn hiu đƣc hình
thành t s kết hp các màu sc các nhãn hiu ba chiu, các ch dn địa
(trƣờng hp chúng to nên yếu t ca mt nhãn hiu tp hp hay nhãn hiu chng
thc) và các nhãn hiu thc s ni tiếng (Trung Quc chp nhn mt mc bo h
rt cao đối vi các nhãn hiu nhƣ IBM, NIKE hay ADIDAS). Mt s tên nhãn hiu
không đƣợc bo h nhƣ tên quc gia, c, các du hiu gây tht vng các n
chng loi. Các nhãn hiu bao gm ch dn địa lí s b t chi đƣợc bo h trong
trƣờng hp các sn phm không phi đƣc làm t vùng địa đƣợc nêu, gây nhm
ln cho công chúng.
+ Lut thiết lp quyn ưu tiên
c đơn đƣợc gi kèm nhng tài liu bo đảm th đƣợc hƣởng quyn ƣu
tiên, đƣợc nêu trong Công ƣớc Paris. Quyn ƣu tiên trong 6 tháng cũng đƣợc áp
dng đối vi các hi ch trin lãm quc tế mà có gii thiu ln đầu tiên nhãn hiu
trên lãnh th Trung Quc.
+ S sa đi mang tính tư pháp các quyết định hành chính
Nhãn hiu đƣợc chng nhn bo h ti van phòng nhãn hiu, đƣợc đặt dƣới
quyn ca Cơ quan hành chính Nhà nƣớc v công nghip và thƣơng mi. Mt cuc
kim tra ban đầu cho phép xác định nhãn hiu đã đƣợc đăng ký hay chƣa và để xem
ngƣời np đơn vi phm pháp lut hay không. Sau đó nhãn hiu đƣợc công b
nhm cho phép các ch nhân các nhãn hiu đã đăng trƣớc đó có ý kiến phn hi
93 + Phạm vi bảo hộ các nhãn hiệu được mở rộng. Luật mới cho phép đăng ký tại Trung Quốc không chỉ một nhãn hiệu cá nhân đối với một sản phẩm hay dịch vụ, mà còn có thể đăng ký một nhãn hiệu mang tính tập thể hay một nhãn hiệu chứng thực. Lần đầu tiên, nhãn hiệu đƣợc định nghĩa là tất cả các dấu hiệu có thể nhìn thấy bằng mắt thƣờng, cho phép phân biệt các sản phẩm hay dịch vụ của một thể nhân hay pháp nhân này với thể nhân hoặc pháp nhân khác. Đó có thể là các chữ, các từ viết bằng nhiều thứ tiếng, các biểu tƣợng hay con số, các hình vẽ, tập hợp các màu sắc hay tổng hợp tất cả các yếu tố trên. Những điểm mới đặc biệt liên quan đến việc bảo hộ các nhãn hiệu đƣợc hình thành từ sự kết hợp các màu sắc và các nhãn hiệu ba chiều, các chỉ dẫn địa lí (trƣờng hợp chúng tạo nên yếu tố của một nhãn hiệu tập hợp hay nhãn hiệu chứng thực) và các nhãn hiệu thực sự nổi tiếng (Trung Quốc chấp nhận một mức bảo hộ rất cao đối với các nhãn hiệu nhƣ IBM, NIKE hay ADIDAS). Một số tên nhãn hiệu không đƣợc bảo hộ nhƣ tên quốc gia, cờ, các dấu hiệu gây thất vọng và các tên chủng loại. Các nhãn hiệu bao gồm chỉ dẫn địa lí sẽ bị từ chối đƣợc bảo hộ trong trƣờng hợp các sản phẩm không phải đƣợc làm từ vùng địa lí đƣợc nêu, gây nhầm lẫn cho công chúng. + Luật thiết lập quyền ưu tiên Các đơn đƣợc gửi kèm những tài liệu bảo đảm có thể đƣợc hƣởng quyền ƣu tiên, đƣợc nêu trong Công ƣớc Paris. Quyền ƣu tiên trong 6 tháng cũng đƣợc áp dụng đối với các hội chợ triển lãm quốc tế mà có giới thiệu lần đầu tiên nhãn hiệu trên lãnh thổ Trung Quốc. + Sự sửa đổi mang tính tư pháp các quyết định hành chính Nhãn hiệu đƣợc chứng nhận bảo hộ tại van phòng nhãn hiệu, đƣợc đặt dƣới quyền của Cơ quan hành chính Nhà nƣớc về công nghiệp và thƣơng mại. Một cuộc kiểm tra ban đầu cho phép xác định nhãn hiệu đã đƣợc đăng ký hay chƣa và để xem ngƣời nộp đơn có vi phạm pháp luật hay không. Sau đó nhãn hiệu đƣợc công bố nhằm cho phép các chủ nhân các nhãn hiệu đã đăng ký trƣớc đó có ý kiến phản hồi
94
trong vòng 3 tháng. Lut mi ca Trung Quc cho phép cu vin đến a án vc
quyết định ca Văn phòng nhãn hiu, trong trƣng hp s t chi bo h, hay
tha nhn bo h mt nhãn hiu ca doanh nghip này đã đƣợc đăng ký bi doanh
nghip khác.
+ Đơn gin hóa th tc hành chính
Các doanh nghip nƣớc ngoài đƣợc đối x bình đẳng vi các doanh nghip
Trung Quc ti các cơ quan đăng nhãn hiu. Hơn na, mt khi nhãn hiu đƣợc
đăng ký bo h trong 10 năm và có th đăng ký li, vic s dng ký hiu trn
không bt buc.
+ Nâng cao quyn li ca người được bo h nhãn hiu
Th nht, ngƣời bán hàng gi dù có thin ý cúng không đƣợc chiếu c. Thƣa
hai, vic sa cha mt nhãn hiu hàng hóa hay đƣa ra th trƣờng mt sn phm có
dùng nhãn hiu sa cha này đƣợc xem là ti phm hàng gi.
Cui cùng, Chính ph Trung Quc thc hin vic đào to, nâng cao trình độ
ca nhng nhà làm lut các chuyên gia trong lĩnh vc s hu trí tu thông qua
vic hp tác vi các chuyên gia Châu Âu Hoa K. Nhng chuyên gia đƣợc đào
to y đến lƣợt h, tr thành nhng đối tác ca các doanh nghip nƣớc ngoài
Trung Quc giúp đỡ h trong vic đảm bo quyn đƣc bo h v s hu công
nghip, chng li nn hàng gi. Vi vic tham gia vào WTO, Trung Quc s phi
chng t vic thc thi hiu qu các cam kết ca mình, trong đó vic thc thi
pháp lut v s hu công nghip.
3.2.1.2. Tăng cường bin pháp phòng nga
Hin nay, Trung Quc đƣa ra mt s bin pháp phòng nga rt cn thiết đối
vi các doanh nghip nƣớc ngoài. Ngoài vic đăng bo h quyn s hu công
nghip đối vi các đối tƣợng ca quyn s hu công nghip - điu kin đầu tiên để
đƣợc bo h- các doanh nghip nƣớc ngoài th đƣợc cp chng nhn ƣu tiên v
th tc hành chính ti Trung Quc.
94 trong vòng 3 tháng. Luật mới của Trung Quốc cho phép cầu viện đến tòa án về các quyết định của Văn phòng nhãn hiệu, trong trƣờng hợp có sự từ chối bảo hộ, hay thừa nhận bảo hộ một nhãn hiệu của doanh nghiệp này đã đƣợc đăng ký bởi doanh nghiệp khác. + Đơn giản hóa thủ tục hành chính Các doanh nghiệp nƣớc ngoài đƣợc đối xử bình đẳng với các doanh nghiệp Trung Quốc tại các cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Hơn nữa, một khi nhãn hiệu đƣợc đăng ký bảo hộ trong 10 năm và có thể đăng ký lại, việc sử dụng ký hiệu trở nên không bắt buộc. + Nâng cao quyền lợi của người được bảo hộ nhãn hiệu Thứ nhất, ngƣời bán hàng giả dù có thiện ý cúng không đƣợc chiếu cố. Thƣa hai, việc sửa chữa một nhãn hiệu hàng hóa hay đƣa ra thị trƣờng một sản phẩm có dùng nhãn hiệu sửa chữa này đƣợc xem là tội phạm hàng giả. Cuối cùng, Chính phủ Trung Quốc thực hiện việc đào tạo, nâng cao trình độ của những nhà làm luật và các chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thông qua việc hợp tác với các chuyên gia Châu Âu và Hoa Kỳ. Những chuyên gia đƣợc đào tạo này đến lƣợt họ, trở thành những đối tác của các doanh nghiệp nƣớc ngoài ở Trung Quốc và giúp đỡ họ trong việc đảm bảo quyền đƣợc bảo hộ về sở hữu công nghiệp, chống lại nạn hàng giả. Với việc tham gia vào WTO, Trung Quốc sẽ phải chứng tỏ việc thực thi hiệu quả các cam kết của mình, trong đó có việc thực thi pháp luật về sở hữu công nghiệp. 3.2.1.2. Tăng cường biện pháp phòng ngừa Hiện nay, Trung Quốc đƣa ra một số biện pháp phòng ngừa rất cần thiết đối với các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Ngoài việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp - điều kiện đầu tiên để đƣợc bảo hộ- các doanh nghiệp nƣớc ngoài có thể đƣợc cấp chứng nhận ƣu tiên về thủ tục hành chính tại Trung Quốc.
95
Nhn thc đƣợc v thế ca Trung Quc trong thƣơng mi quc tế, các doanh
nghip nƣớc ngoài cũng luôn biết cách quen vi nn hàng gi Trung Quc. Thc tế,
h luôn tránh b xem nhƣ đƣợc bo v khi nn hàng gi vì s phi ri xa vùng nh
th đầy tim năng này.
Các công ty nƣớc ngoài đến t các quc gia là thành viên ca các công ƣớc
quc tếth quyết định m rng s bo h quyn s hu công nghip ca h bng
cơ chế ca T chc s hu trí tu thế gii hoc tiến hành mt qui trình đăng ký mi
riêng bit vi gii chc Trung Quc. Thi gian bo h qui định 10 năm đối
vi nhãn hiu, 20 năm vi bng phát minh sáng chế 10 năm đối vi các kiu
dáng công nghip. Các công ty s phi lƣu ý tn dng quyn ƣu tiên ca mình cho
phép đƣợc đăng ký nhãn hiu hoc bng sáng chế trong vòng 6 tháng hay 1 năm tùy
theo vic nhn quyn bo h Pháp hay Châu Âu.
Các doanh nghip cũng th đăng để đƣợc bo h tên pháp hoc tên
min internet. Các phn mm ng dng đƣợc bo h Trung Quc bi Quyn tác
gi và bi các điu l qui định riêng cho chúng. Lut Trung Quc d báo các cơ chế
bo h ca các quyn không đƣợc đăng ký, phn vic s dng quyn cnh
tranh nhm ngăn chn các th đon gian ln, phn do vic áp dng các văn bn
khác chng hn để bo v bí mt kinh doanh.
Mt vn đề cn đƣợc các doanh nghip đặc bit quan tâm là vic thiết lp các
quan h bn vng thƣờng xuyên vi các gii chc hành chính tƣ pháp
trách nhim chng hàng gi để làm cho h luôn nhy bén trƣớc các nhãn hiu, bng
sáng chế hay các quyn khác trƣớc khi nhn đƣợc s bo h đảm bo vic đào
to mt cách cơ bn hơn nhng nhn thc v s hu công nghip. Trong s các mi
quan h trên, vic hp tác cht ch vi cơ quan hi quan ƣu tiên hàng đầu. c
doanh nghip ngoài vic đăng ký vi cơ quan hi quan còn phi có đƣợc mt s bo
đảm t phía ngân hàng nhƣ mt khon bo lãnh trong các trƣờng hp hi quan phát
hin có nghi vn và đang trong din xem xét.
95 Nhận thức đƣợc vị thế của Trung Quốc trong thƣơng mại quốc tế, các doanh nghiệp nƣớc ngoài cũng luôn biết cách quen với nạn hàng giả Trung Quốc. Thực tế, họ luôn tránh bị xem nhƣ đƣợc bảo vệ khỏi nạn hàng giả vì sợ phải rời xa vùng lãnh thổ đầy tiềm năng này. Các công ty nƣớc ngoài đến từ các quốc gia là thành viên của các công ƣớc quốc tế có thể quyết định mở rộng sự bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của họ bằng cơ chế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới hoặc tiến hành một qui trình đăng ký mới và riêng biệt với giới chức Trung Quốc. Thời gian bảo hộ qui định là 10 năm đối với nhãn hiệu, 20 năm với bằng phát minh sáng chế và 10 năm đối với các kiểu dáng công nghiệp. Các công ty sẽ phải lƣu ý tận dụng quyền ƣu tiên của mình cho phép đƣợc đăng ký nhãn hiệu hoặc bằng sáng chế trong vòng 6 tháng hay 1 năm tùy theo việc nhận quyền bảo hộ ở Pháp hay ở Châu Âu. Các doanh nghiệp cũng có thể đăng ký để đƣợc bảo hộ tên pháp lí hoặc tên miền internet. Các phần mềm ứng dụng đƣợc bảo hộ ở Trung Quốc bởi Quyền tác giả và bởi các điều lệ qui định riêng cho chúng. Luật Trung Quốc dự báo các cơ chế bảo hộ của các quyền không đƣợc đăng ký, phần là vì việc sử dụng quyền cạnh tranh nhằm ngăn chặn các thủ đoạn gian lận, phần là do việc áp dụng các văn bản khác chẳng hạn để bảo vệ bí mật kinh doanh. Một vấn đề cần đƣợc các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là việc thiết lập các quan hệ bền vững và thƣờng xuyên với các giới chức hành chính và tƣ pháp có trách nhiệm chống hàng giả để làm cho họ luôn nhạy bén trƣớc các nhãn hiệu, bằng sáng chế hay các quyền khác trƣớc khi nhận đƣợc sự bảo hộ và đảm bảo việc đào tạo một cách cơ bản hơn những nhận thức về sở hữu công nghiệp. Trong số các mối quan hệ trên, việc hợp tác chặt chẽ với cơ quan hải quan là ƣu tiên hàng đầu. Các doanh nghiệp ngoài việc đăng ký với cơ quan hải quan còn phải có đƣợc một sự bảo đảm từ phía ngân hàng nhƣ một khoản bảo lãnh trong các trƣờng hợp hải quan phát hiện có nghi vấn và đang trong diện xem xét.
96
3.2.1.3. Đẩy mnh các hot động chng hàng gi, hàng nhái
Quyn s hu công nghip ti Trung Quc vn thƣờng xuyên đƣợc coi trng
dƣới góc độ duy nht cuc chiến chng hàng gi. Theo tp chí Magazine Fortune,
s tháng 11 năm 2000, hàng gi chiếm ít nht là 10% sn xut công nghip quc gia
và mt doanh thu hng năm đƣợc ƣớc tính, cách đây khong trên 5 năm là 16 t đô
la M, thm chí theo gii chc Trung Quc, con s đôi khi còn ln hơn. Trung
Quc tr thành địa đim sn xut hàng gi ln nht thế gii điu y đe da
ngành công nghip Châu Âu và Hoa Kđặc bit là ngành công nghip ni địa
Trung Quc. Chính vì vy, các doanh nghip Trung Quc cũng sm nhn biết đƣợc
tm quan trng ca vic bo h quyn s hu công nghip. Bng chng t năm
2000, đã có hơn 2 triu nhãn hiu hàng hóa đƣợc đăng ký (con s c đơn đăng
tăng gn gp đôi t năm 2000 đến 2004), trong s đó, có hơn 90% đơn đăng ký
ca các doanh nghip Trung Quc. S lƣợng đơn xin cp bng sáng chế tăng 20%
mi năm k t 1985, trong s đó đơn ca ngƣời Trung Quc chiếm 82%. Theo
Phòng thƣơng mi và công nghip Pháp ti Trung Quc, hơn 90% các v kin cáo
liên quan đến bo h nhãn hiu hàng a đƣợc thc hin bi các doanh nghip
Trung Quc chng li nhng doanh nghip làm hàng gi Trung Quc.
Vi mt din tích lãnh th quc gia rng ln và nhng tp quán lâu đời, vic
thc thi s hu công nghip ti Trung Quc không phi là vn đề d dàng. Vic m
ca kinh tế t nhng năm 70 ca thế k trƣớc đặt ra nhng ƣu tiên hàng đầu khác
ngoài vic tôn trng quyn s hu trí tuđa phn là ca các công ty nƣớc ngoài.
Phn ln các viên chc đảm trách nhim v qun lí nhng vn đề liên quan đến s
hu trí tu đều không đƣợc đào to cơ bn. Trong bi cnh đất nƣớc vi hơn 1 t
dân và nn tht nghip thƣờng xuyên mc cao, sn xut và kinh doanh hàng gi,
hàng nhái li góp phn làm tăng công ăn vic làm, thm chí nhng nhà sn xut
hàng gi còn thƣờng xuyên nhn đƣợc nhng bo h ca chính quyn địa phƣơng
bng vic lơ cho qua hành vi ca h thm chí ngay c các nhà đầu tƣ nƣớc
ngoài phn khinh sut, phn nhng cơ hi ln v li nhun che mt nên cũng
không quan tâm nhiu đến vn nn này.
96 3.2.1.3. Đẩy mạnh các hoạt động chống hàng giả, hàng nhái Quyền sở hữu công nghiệp tại Trung Quốc vốn thƣờng xuyên đƣợc coi trọng dƣới góc độ duy nhất ở cuộc chiến chống hàng giả. Theo tạp chí Magazine Fortune, số tháng 11 năm 2000, hàng giả chiếm ít nhất là 10% sản xuất công nghiệp quốc gia và một doanh thu hằng năm đƣợc ƣớc tính, cách đây khoảng trên 5 năm là 16 tỉ đô la Mỹ, thậm chí theo giới chức Trung Quốc, con số đôi khi còn lớn hơn. Trung Quốc trở thành địa điểm sản xuất hàng giả lớn nhất thế giới và điều này đe dọa ngành công nghiệp ở Châu Âu và Hoa Kỳ và đặc biệt là ngành công nghiệp nội địa Trung Quốc. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng sớm nhận biết đƣợc tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Bằng chứng là từ năm 2000, đã có hơn 2 triệu nhãn hiệu hàng hóa đƣợc đăng ký (con số các đơn đăng ký tăng gần gấp đôi từ năm 2000 đến 2004), trong số đó, có hơn 90% là đơn đăng ký của các doanh nghiệp Trung Quốc. Số lƣợng đơn xin cấp bằng sáng chế tăng 20% mỗi năm kể từ 1985, trong số đó đơn của ngƣời Trung Quốc chiếm 82%. Theo Phòng thƣơng mại và công nghiệp Pháp tại Trung Quốc, hơn 90% các vụ kiện cáo liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đƣợc thực hiện bởi các doanh nghiệp Trung Quốc chống lại những doanh nghiệp làm hàng giả Trung Quốc. Với một diện tích lãnh thổ quốc gia rộng lớn và những tập quán lâu đời, việc thực thi sở hữu công nghiệp tại Trung Quốc không phải là vấn đề dễ dàng. Việc mở cửa kinh tế từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc đặt ra những ƣu tiên hàng đầu khác ngoài việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ mà đa phần là của các công ty nƣớc ngoài. Phần lớn các viên chức đảm trách nhiệm vụ quản lí những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ đều không đƣợc đào tạo cơ bản. Trong bối cảnh đất nƣớc với hơn 1 tỉ dân và nạn thất nghiệp thƣờng xuyên ở mức cao, sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng nhái lại góp phần làm tăng công ăn việc làm, thậm chí những nhà sản xuất hàng giả còn thƣờng xuyên nhận đƣợc những bảo hộ của chính quyền địa phƣơng bằng việc lơ là cho qua hành vi của họ và thậm chí ngay cả các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phần vì khinh suất, phần vì những cơ hội lớn về lợi nhuận che mắt nên cũng không quan tâm nhiều đến vấn nạn này.
97
Hi nhp kinh tế quc tế đã bt buc Trung Quc phi tht s chú ý vào lĩnh
vc bo h quyn s hu trí tu, nht trong điu kin phi tuân th các qui tc
ca WTO (Hip định TRIPS) do đó, cuc chiến chng hàng gi cũng đƣợc đẩy
lên mt tm cao mi. Ngoài nhng bin pháp truyn thng th đƣợc thc hin
bi gii chc Trung Quc chuyên trách v phòng chng hàng gi (Cơ quan qun lí
công nghip thƣơng mi v nhãn hiu và bn v, Văn phòng s hu trí tu quc
gia qun lí bng sáng chế, Văn phòng giám sát k thut đối vi các sn phm sao
chép b li hoc cht lƣợng kém, ), Trung Quc hin nay t chc các a án dân
s địa phƣơng ti hu hết các thành ph quan trng, và các chếi đƣa ra sau khi có
s phi kết hp vi cơ quan công an, vin kim sát
Tùy theo đặc tính ca các loi hàng gi các chế tài tƣơng ng. Trong
mt s trƣờng hp, ch là pht hành chính trƣờng hp khác là pht hình s. Tuy
nhiên, cuc chiến chng hàng gi mun thành công, cn phi đƣợc thc thi mt
cách trit để và nghiêm túc. Trong trƣờng hp vic sn xut hàng gi vi s lƣợng
ln đƣợc tiêu th c trên th trƣờng ni địa ln th trƣờng nƣớc ngoài, hot động
thƣờng đƣợc tiến hành bi các t chc ti phm, nhƣng chế tài hành chính ch
hiu qu rt hn chế ch mang tính thi đim: chng hn ch tch thu đƣợc mt
lƣợng hàng gi có hn, bt qu tang đƣợc mt ln giao hàng gi hay phát hin đƣợc
mt ít các tài liu thƣơng mi liên quan. Trong mi trƣờng hp các nhân viên
hành chính chuyên trách chng hàng gi không đƣợc phép tiến hành khám xét
bt gi; h phi mc đồng phc khi làm vic do đó không quá khó đối vi nhng k
buôn hàng gi để sm nhn biết smt ca h t xa. Nhng nh động mang
tính hành chính trong cuc chiến chng li mt loi hàng gi nào đó hay mt nhà
sn xut hàng gi nào đó ti mt địa đim đƣợc lp đi lp li (ví d ch la Bc
Kinh, ch Huating Thƣợng Hi), không nhng không hiu qu đôi khi n
giúp cho các t chc sn xut và tiêu th hàng gith sp xếp tt hơn để tránh né
nhng ln sau.
Đối vi nhng v vi phm v hàng gi tính cht nghiêm trng (s lƣợng
ln, cht lƣợng quá ti ca hàng gi, gây nguy him cho ngƣời tiêu dùng, hay
97 Hội nhập kinh tế quốc tế đã bắt buộc Trung Quốc phải thật sự chú ý vào lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là trong điều kiện phải tuân thủ các qui tắc của WTO (Hiệp định TRIPS) và do đó, cuộc chiến chống hàng giả cũng đƣợc đẩy lên một tầm cao mới. Ngoài những biện pháp truyền thống có thể đƣợc thực hiện bởi giới chức Trung Quốc chuyên trách về phòng chống hàng giả (Cơ quan quản lí công nghiệp và thƣơng mại về nhãn hiệu và bản vẽ, Văn phòng sở hữu trí tuệ quốc gia quản lí bằng sáng chế, Văn phòng giám sát kỹ thuật đối với các sản phẩm sao chép bị lỗi hoặc chất lƣợng kém, …), Trung Quốc hiện nay tổ chức các tòa án dân sự địa phƣơng tại hầu hết các thành phố quan trọng, và các chế tài đƣa ra sau khi có sự phối kết hợp với cơ quan công an, viện kiểm sát … Tùy theo đặc tính của các loại hàng giả mà có các chế tài tƣơng ứng. Trong một số trƣờng hợp, chỉ là phạt hành chính và trƣờng hợp khác là phạt hình sự. Tuy nhiên, cuộc chiến chống hàng giả muốn thành công, cần phải đƣợc thực thi một cách triệt để và nghiêm túc. Trong trƣờng hợp việc sản xuất hàng giả với số lƣợng lớn đƣợc tiêu thụ cả trên thị trƣờng nội địa lẫn thị trƣờng nƣớc ngoài, hoạt động thƣờng đƣợc tiến hành bởi các tổ chức tội phạm, nhƣng chế tài hành chính chỉ có hiệu quả rất hạn chế và chỉ mang tính thời điểm: chẳng hạn chỉ tịch thu đƣợc một lƣợng hàng giả có hạn, bắt quả tang đƣợc một lần giao hàng giả hay phát hiện đƣợc một ít các tài liệu thƣơng mại liên quan…. Trong mọi trƣờng hợp các nhân viên hành chính chuyên trách chống hàng giả không đƣợc phép tiến hành khám xét và bắt giữ; họ phải mặc đồng phục khi làm việc do đó không quá khó đối với những kẻ buôn hàng giả để sớm nhận biết sự có mặt của họ từ xa. Những hành động mang tính hành chính trong cuộc chiến chống lại một loại hàng giả nào đó hay một nhà sản xuất hàng giả nào đó tại một địa điểm đƣợc lặp đi lặp lại (ví dụ chợ lụa ở Bắc Kinh, chợ Huating ở Thƣợng Hải…), không những không hiệu quả mà đôi khi còn giúp cho các tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng giả có thể sắp xếp tốt hơn để tránh né những lần sau. Đối với những vụ vi phạm về hàng giả có tính chất nghiêm trọng (số lƣợng lớn, chất lƣợng quá tồi của hàng giả, gây nguy hiểm cho ngƣời tiêu dùng, hay có
98
đƣờng dây tiêu th thông qua xut khu, ), s hp tác ca cơ quan công an
Vin kim sát là không th thiếu đƣợc. Duy ch bng vic các cơ quan tƣ pháp cho
phép các cuc điu tra sâu rng hơn vi s h tr ca công c nghe lén đin thoi
hay c tình báo thâm nhp vào các t chc sn xut hàng gi, mi th không ch
tch thu đƣợc hang gi mà còn bt gi đƣợc nhng k ch mƣu kết án chúng
(7 năm đối vi trƣờng hp vi phm quyn s hu trí tu, 14 năm đối vi
trƣờng hp kinh doanh hàng gi, nng hơn nếu ti làm hàng gi đƣợc đi m ti
danh khác). Còn trong các trƣờng hp vi phm nh, l thì vic can thip ca cơ
quan công an và vin km soát là không cn thiết để tránh lãng phí tiêu tn thi
gian. Hơn thế na, vic kim tra các hành vi ca các cơ quan hành chính chng
hàng gi đƣợc thc hin bi các văn phòng hành chính ca tòa án tƣ pháp, k c
trong lĩnh vc s hu trí tu. các khon bi thƣờng quyết định bi các a án
dân s thƣờng không đủ đối vi bên thng kin.
Mt kinh nghim dành cho các doanh nghip b xâm phm quyn s hu
công nghip: cn phi tùy vào mc độ vi phm, mc nghiêm trng ca các hu qu
do vic vi phm mà la chn vic can thip hành chính hay tƣ pháp. Đểđƣợc s
chn la phù hp trong cách gii quyết v vic, cn phi có s h tr ca các hãng
điu tra tƣ nhân để đánh giá mc độ nghiêm trng ca hàng gi đối vi hi
đối vi công ty b vi phm. mt th trƣờng rng ln đầy tim năng vi lƣợng
ngƣời tiêu dùng ln gp ba ln s ngƣời tiêu dùng ca 25 nƣớc Liên minh Châu Âu,
nếu biết quan m đến vic bo h quyn s hu công nghip ngay t ban đầu,
doanh nghip s th gi đƣợc v thế độc quyn trong rt nhiu năm và thu đƣợc
nhng li ích kinh tế vô cùng to ln.
98 đƣờng dây tiêu thụ thông qua xuất khẩu, …), sự hợp tác của cơ quan công an và Viện kiểm sát là không thể thiếu đƣợc. Duy chỉ bằng việc các cơ quan tƣ pháp cho phép các cuộc điều tra sâu rộng hơn với sự hỗ trợ của công cụ nghe lén điện thoại hay cử tình báo thâm nhập vào các tổ chức sản xuất hàng giả, mới có thể không chỉ tịch thu đƣợc hang giả mà còn bắt giữ đƣợc những kẻ chủ mƣu và kết án tù chúng (7 năm tù đối với trƣờng hợp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, 14 năm tù đối với trƣờng hợp kinh doanh hàng giả, nặng hơn nếu tội làm hàng giả đƣợc đi kèm tội danh khác). Còn trong các trƣờng hợp vi phạm nhỏ, lẻ thì việc can thiệp của cơ quan công an và viện kểm soát là không cần thiết để tránh lãng phí và tiêu tốn thời gian. Hơn thế nữa, việc kiểm tra các hành vi của các cơ quan hành chính chống hàng giả đƣợc thực hiện bởi các văn phòng hành chính của tòa án tƣ pháp, kể cả trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Và các khoản bồi thƣờng quyết định bởi các tòa án dân sự thƣờng không đủ đối với bên thắng kiện. Một kinh nghiệm dành cho các doanh nghiệp bị xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: cần phải tùy vào mức độ vi phạm, mức nghiêm trọng của các hậu quả do việc vi phạm mà lựa chọn việc can thiệp hành chính hay tƣ pháp. Để có đƣợc sự chọn lựa phù hợp trong cách giải quyết vụ việc, cần phải có sự hộ trợ của các hãng điểu tra tƣ nhân để đánh giá mức độ nghiêm trọng của hàng giả đối với xã hội và đối với công ty bị vi phạm. Ở một thị trƣờng rộng lớn và đầy tiềm năng với lƣợng ngƣời tiêu dùng lớn gấp ba lần số ngƣời tiêu dùng của 25 nƣớc Liên minh Châu Âu, nếu biết quan tâm đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngay từ ban đầu, doanh nghiệp sẽ có thể giữ đƣợc vị thế độc quyền trong rất nhiều năm và thu đƣợc những lợi ích kinh tế vô cùng to lớn.