Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Kiểm toán chi Ngân sách nhà nước tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Kiểm toán nhà nước

3,840
709
95
43
- Kinh phí đào tạo (loại 490-501; 490-502…): thực hiện tại các trường
đại học, cao đẳng, trường đào tạo nghề...
- Kinh phí sự nghiệp Khoa học và công nghệ (Loại 370-371): chi thực
hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở trong
các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản...
- Kinh phí sự nghiệp kinh tế (Loại 430-432): thực hiện các dự án,
nhiệm vụ duy tu, bảo dưỡng đê điều; vệ sinh, mặt bằng; các dự án trong các
lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản...
- Kinh phí sự nghiệp môi trường (Loại 280-281): thực hiện các nhiệm
vụ điều tra, quan trắc, phân tích mẫu về môi trường, đất đai, thủy sản...
- Kinh phí hoạt động dịch vụ nông nghiệp (Loại 010-014): thực hiện
các nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, thiên tai, dịch bệnh...
- Kinh phí sự nghiệp lâm nghiệp (Loại 010 – 017): thực hiện các nhiệm
vụ về điều tra, quy hoạch rừng, hệ sinh thái...
2.2.   NSNN 
và Ph
2.2.1. Một số kết quả đạt được
2.2.1.1. Chấp hành các quy định về nghiệp vụ của KTNN
Công tác kiểm toán đã được tiến hành tương đối thuận lợi, số liệu được
kiểm tra, xác nhận một cách tương đối đầy đủ và sát thực. KTV và đoàn kiểm
toán đã tuân thủ nghiêm túc Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm
toán, các chuẩn mực kiểm toán chung theo quy định của KTNN. Bên cạnh đó,
mặc dù một số quy trình kiểm toán NSNN còn quy định chung chung đối với
một số hoạt động như kiểm toán các quỹ ngoài ngân sách nhưng trong q
trình kiểm toán, các KTV đã vận dụng linh hoạt để đảm bảo tính toàn diện khi
kiểm toán chi NSNN.
43 - Kinh phí đào tạo (loại 490-501; 490-502…): thực hiện tại các trường đại học, cao đẳng, trường đào tạo nghề... - Kinh phí sự nghiệp Khoa học và công nghệ (Loại 370-371): chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp cơ sở trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản... - Kinh phí sự nghiệp kinh tế (Loại 430-432): thực hiện các dự án, nhiệm vụ duy tu, bảo dưỡng đê điều; vệ sinh, mặt bằng; các dự án trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản... - Kinh phí sự nghiệp môi trường (Loại 280-281): thực hiện các nhiệm vụ điều tra, quan trắc, phân tích mẫu về môi trường, đất đai, thủy sản... - Kinh phí hoạt động dịch vụ nông nghiệp (Loại 010-014): thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, thiên tai, dịch bệnh... - Kinh phí sự nghiệp lâm nghiệp (Loại 010 – 017): thực hiện các nhiệm vụ về điều tra, quy hoạch rừng, hệ sinh thái... 2.2.   NSNN  và Ph 2.2.1. Một số kết quả đạt được 2.2.1.1. Chấp hành các quy định về nghiệp vụ của KTNN Công tác kiểm toán đã được tiến hành tương đối thuận lợi, số liệu được kiểm tra, xác nhận một cách tương đối đầy đủ và sát thực. KTV và đoàn kiểm toán đã tuân thủ nghiêm túc Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, các chuẩn mực kiểm toán chung theo quy định của KTNN. Bên cạnh đó, mặc dù một số quy trình kiểm toán NSNN còn quy định chung chung đối với một số hoạt động như kiểm toán các quỹ ngoài ngân sách nhưng trong quá trình kiểm toán, các KTV đã vận dụng linh hoạt để đảm bảo tính toàn diện khi kiểm toán chi NSNN.
44
Mặc dù chỉ có cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách Bộ nhưng KTNN
đã vận dụng đúng linh hoạt quy trình chung đến quy trình kiểm toán
NSNN, quy trình kiểm toán đầu dự án, quy trình kiểm toán DNNN. Mỗi
quy trình đã được vận dụng linh hoạt ở các mức độ khác nhau nhằm các mục
đích khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng vào việc kiểm toán xác nhận
tính trung thực, hợp pháp của số liệu quyết toán NSNN.
2.2.1.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của đơn vị được kiểm toán, ngăn chặn kịp
thời các nguy cơ về tham nhũng, xâm phạm các nguồn lực thuộc NSNN.
- KTNN đã thực hiện kiểm tra mt cách thường xuyên, liên tục việc
chấp hành luật và các chế độ chính sách trong quá trình quản lý và chấp hành
thu, chi của Bộ ng nghiệp và Phát triển nông thôn. Qua kết quả kiểm toán,
KTNN đưa ra các ý kiến đánh giá, nhận xết giúp các đơn vị sử dụng kinh phí
đúng mục đích nhằm tiết kiệm các nguồn lực tài chính góp phần nâng cao
hiệu quả và hiệu lực hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước và các
chương trình, dự án cải cách hành chính Nhà nước. Đồng thời hoạt động của
KTNN cũng góp phần không nhỏ vào quá trình đấu tranh chống lãng phí,
ngăn chặn các hành vi tiêu cực, tham nhũng, góp phần làm trong sạch bộ máy
hành chính Nhà nước. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất
KTNN với tính chất là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đã đạt được trong
thời gian qua.
- Tham gia ý kiến với Quốc hội vào việc xây dựng và phân bổ dự toán
NSNN hàng năm, giúp các đơn vị được kiểm toán quyết định và phân bổ dự
toán thu, chi ngân sách với tình hình thực tế. Tuy KTNN trong thời gian qua
chưa kiểm toán được dự toán NSNN hàng năm, nhưng đây là tiền đề để
KTNN sẽ tiến hành tham gia kiểm toán dự toán NSNN hàng năm theo thông
lệ quốc tế phù hợp với vai trò của một Nhà nước pháp quyền XHCN khi
được Nhà nước giao chức năng này cho KTNN.
44 Mặc dù chỉ có cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách Bộ nhưng KTNN đã vận dụng đúng và linh hoạt quy trình chung đến quy trình kiểm toán NSNN, quy trình kiểm toán đầu tư dự án, quy trình kiểm toán DNNN. Mỗi quy trình đã được vận dụng linh hoạt ở các mức độ khác nhau nhằm các mục đích khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng vào việc kiểm toán xác nhận tính trung thực, hợp pháp của số liệu quyết toán NSNN. 2.2.1.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của đơn vị được kiểm toán, ngăn chặn kịp thời các nguy cơ về tham nhũng, xâm phạm các nguồn lực thuộc NSNN. - KTNN đã thực hiện kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục việc chấp hành luật và các chế độ chính sách trong quá trình quản lý và chấp hành thu, chi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Qua kết quả kiểm toán, KTNN đưa ra các ý kiến đánh giá, nhận xết giúp các đơn vị sử dụng kinh phí đúng mục đích nhằm tiết kiệm các nguồn lực tài chính góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước và các chương trình, dự án cải cách hành chính Nhà nước. Đồng thời hoạt động của KTNN cũng góp phần không nhỏ vào quá trình đấu tranh chống lãng phí, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, tham nhũng, góp phần làm trong sạch bộ máy hành chính Nhà nước. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà KTNN với tính chất là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đã đạt được trong thời gian qua. - Tham gia ý kiến với Quốc hội vào việc xây dựng và phân bổ dự toán NSNN hàng năm, giúp các đơn vị được kiểm toán quyết định và phân bổ dự toán thu, chi ngân sách với tình hình thực tế. Tuy KTNN trong thời gian qua chưa kiểm toán được dự toán NSNN hàng năm, nhưng đây là tiền đề để KTNN sẽ tiến hành tham gia kiểm toán dự toán NSNN hàng năm theo thông lệ quốc tế và phù hợp với vai trò của một Nhà nước pháp quyền XHCN khi được Nhà nước giao chức năng này cho KTNN.
45
- Thông qua kết quả kiểm toán BCTC và kiểm toán tuân thủ, KTNN đã
loại ra khỏi quyết toán các khoản chi tiêu không đúng nội dung, vượt định
mức của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp… để thu hồi các khoản chi
không đúng chế độ, quy định nộp NSNN. Đồng thời kiến nghị, đưa ra những
ý kiến vấn với các đơn vị được kiểm toán khắc phục những tồn tại trong
công tác quản sử dụng ngân sách nhằm phát huy hiệu quả sử dụng
NSNN, nâng cao chất lượng hiệu lực hoạt động của các quan hành
chính Nhà nước. Tạo ra những quan hệ tài chính công lành mạnh việc sử
dụng tài chính công một cách có hiệu quả.
Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán được giao, KTNN chuyên ngành II đã
có những đóng góp nhất định vào kết quả kiểm toán lĩnh vực NSNN nói riêng
và thành tích chung của ngành. BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đánh giá thực trạng quản lý, điều
hành và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, chỉ ra những thiếu sót,
tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp Chính phủ, bộ
các đơn vị được kiểm toán khắc phục những yếu kém, bất cập, từng bước xác
lập trật tự kỷ cương, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý tài chính -
ngân sách.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác kiểm toán chi
NSNN còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải đổi mới, hoàn thiện để đáp ứng yêu
cầu và đòi hỏi của thực tiễn. Các giai đoạn, các bước thực hiện kiểm toán chi
NSNN mối liên quan chặt chẽ , nếu giai đoạn này thực hiện không tốt t
các giai đoạn tiếp theo sẽ rất khó khăn và không hiệu quả dẫn đến chất lượng
kiểm toán không cao.
2.2.2.1. Giai đoạn xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán

45 - Thông qua kết quả kiểm toán BCTC và kiểm toán tuân thủ, KTNN đã loại ra khỏi quyết toán các khoản chi tiêu không đúng nội dung, vượt định mức của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp… để thu hồi các khoản chi không đúng chế độ, quy định nộp NSNN. Đồng thời kiến nghị, đưa ra những ý kiến tư vấn với các đơn vị được kiểm toán khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng ngân sách nhằm phát huy hiệu quả sử dụng NSNN, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước. Tạo ra những quan hệ tài chính công lành mạnh và việc sử dụng tài chính công một cách có hiệu quả. Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán được giao, KTNN chuyên ngành II đã có những đóng góp nhất định vào kết quả kiểm toán lĩnh vực NSNN nói riêng và thành tích chung của ngành. BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đánh giá thực trạng quản lý, điều hành và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, chỉ ra những thiếu sót, tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp Chính phủ, bộ và các đơn vị được kiểm toán khắc phục những yếu kém, bất cập, từng bước xác lập trật tự kỷ cương, đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý tài chính - ngân sách. 2.2.2. Những tồn tại, hạn chế Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác kiểm toán chi NSNN còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải đổi mới, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn. Các giai đoạn, các bước thực hiện kiểm toán chi NSNN có mối liên quan chặt chẽ , nếu giai đoạn này thực hiện không tốt thì các giai đoạn tiếp theo sẽ rất khó khăn và không hiệu quả dẫn đến chất lượng kiểm toán không cao. 2.2.2.1. Giai đoạn xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán 
46
8%
10%
16%
30%
30%
15%
42%
50%
50%
20%
10%
19%
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100%
KHKT đầy đủ nội dung, đảm bảo mục tiêu theo quy
định
KHKT bao quát hết các đối tượng được kiểm toán
Nội dung của KHKT có căn cứ, gắn liền với tình
hình, số liệu của đơn vị được kiểm toán
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng
( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả )
- Công tác khảo sát, thu thập thông tin tại đơn vị: hạn chế về phạm vi
slượng đơn vị khảo sát nên các thông tin thu thập được thể hiện trong
KHKT chưa đầy đủ, chưa sát thực tế, thiếu thông tin trọng yếu. Hiện nay, việc
khảo sát chủ yếu thực hiện tại VTài chính chưa thu thập thông tin tại
một số Vụ chức năng khác liên quan các đơn vị dự toán thuộc Bộ,
chẳng hạn Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Quản lý doanh nghiệp, Văn phòng Bộ
các Tổng cục… dẫn đến lập kế hoạch chưa sát, còn mất thời gian trong khâu
thực hiện kiểm toán để thu thập thêm thông tin. Qua phỏng vấn cho thấy chỉ
16% ý kiến hài lòng về các thông tin liên quan đến tình hình, số liệu của
đơn vị.
- Thời gian lập kế hoạch trước khi Bộ lập Báo cáo quyết toán ngân
sách, do vậy thông tin cung cấp chưa chính xác, chưa đầy đkhông kịp
thời, công tác lập kế hoạch kiểm toán tổng quát còn bị động.
- Việc thu thập thông tin chưa khai thác hết dữ liệu, tài liệu của các lần
kiểm toán trước. Đây là kho dữ liệu quan trọng và dễ khai thác, tuy nhiên hiện
nay chưa tận dụng hết thông tiny.
- Hiện nay các đơn vị được lựa chọn kiểm toán chưa bao quát hết đối
tượng được kiểm toán (toàn bộ các hoạt động liên quan đến ngân sách, tiền và
tài sản của Bộ và các đơn vị trực thuộc); các đơn vị được lựa chọn kiểm toán
46 8% 10% 16% 30% 30% 15% 42% 50% 50% 20% 10% 19% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% KHKT đầy đủ nội dung, đảm bảo mục tiêu theo quy định KHKT bao quát hết các đối tượng được kiểm toán Nội dung của KHKT có căn cứ, gắn liền với tình hình, số liệu của đơn vị được kiểm toán Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng ( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả ) - Công tác khảo sát, thu thập thông tin tại đơn vị: hạn chế về phạm vi và số lượng đơn vị khảo sát nên các thông tin thu thập được thể hiện trong KHKT chưa đầy đủ, chưa sát thực tế, thiếu thông tin trọng yếu. Hiện nay, việc khảo sát chủ yếu thực hiện tại Vụ Tài chính mà chưa thu thập thông tin tại một số Vụ chức năng khác có liên quan và các đơn vị dự toán thuộc Bộ, chẳng hạn Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Quản lý doanh nghiệp, Văn phòng Bộ và các Tổng cục… dẫn đến lập kế hoạch chưa sát, còn mất thời gian trong khâu thực hiện kiểm toán để thu thập thêm thông tin. Qua phỏng vấn cho thấy chỉ có 16% ý kiến hài lòng về các thông tin liên quan đến tình hình, số liệu của đơn vị. - Thời gian lập kế hoạch trước khi Bộ lập Báo cáo quyết toán ngân sách, do vậy thông tin cung cấp chưa chính xác, chưa đầy đủ và không kịp thời, công tác lập kế hoạch kiểm toán tổng quát còn bị động. - Việc thu thập thông tin chưa khai thác hết dữ liệu, tài liệu của các lần kiểm toán trước. Đây là kho dữ liệu quan trọng và dễ khai thác, tuy nhiên hiện nay chưa tận dụng hết thông tin này. - Hiện nay các đơn vị được lựa chọn kiểm toán chưa bao quát hết đối tượng được kiểm toán (toàn bộ các hoạt động liên quan đến ngân sách, tiền và tài sản của Bộ và các đơn vị trực thuộc); các đơn vị được lựa chọn kiểm toán
47
thường là các đơn vị có nguồn kinh phí NSNN cấp lớn, có hoạt động thu, chi
sự nghiệp, sản xuất kinh doanh lớn.
- Chất lượng kế hoạch kiểm toán chưa cao, nội dung chưa đầy đủ, xác
định rủi ro kiểm toán, đánh giá trọng yếu kiểm toán một số trường hợp còn
chung chung, dựa vào xét đoán mang tính cảm tính nghề nghiệp của KTV,
chưa có đầy đủ cơ sở xác định nội dung trọng tâm kiểm toán và chọn mẫu đơn
vị được kiểm toán.
Phân tích, đánh giá thông tin hiện nay thường chỉ thực hiện phân tích,
đánh giá các chỉ tiêu tổng hợp về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước (chủ
yếu là phân tích tổng quát báo cáo quyết toán ngân sách Bộ hoặc số ước thực
hiện) và đánh giá thuận lợi, khó khăn của hệ thống kiểm soát nội bộ; Đánh giá
về hoạt động kiểm soát, kiểm tra, của các cơ quan ngoài Bộ.
- Tìm hiểu, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
được kiểm toán chủ yếu qua các văn bản quy phạm pháp luật, kết quả thanh
tra, kiểm tra nội bộ; việc đánh giá tính chặt chẽ hiệu quả của các thủ tục
kiểm soát còn hạn chế, hầu như chưa có đánh giá ban đầu về vận hành của các
thủ tục kiểm soát nội bộ tại đơn vị kiểm toán chi tiết.
2.2.2.2. Giai đoạn thực hiện, áp dụng các phương pháp kiểm toán
a) Về tổ chức thực hiện KHKT
47 thường là các đơn vị có nguồn kinh phí NSNN cấp lớn, có hoạt động thu, chi sự nghiệp, sản xuất kinh doanh lớn. - Chất lượng kế hoạch kiểm toán chưa cao, nội dung chưa đầy đủ, xác định rủi ro kiểm toán, đánh giá trọng yếu kiểm toán một số trường hợp còn chung chung, dựa vào xét đoán mang tính cảm tính nghề nghiệp của KTV, chưa có đầy đủ cơ sở xác định nội dung trọng tâm kiểm toán và chọn mẫu đơn vị được kiểm toán. Phân tích, đánh giá thông tin hiện nay thường chỉ thực hiện phân tích, đánh giá các chỉ tiêu tổng hợp về tình hình thu, chi ngân sách nhà nước (chủ yếu là phân tích tổng quát báo cáo quyết toán ngân sách Bộ hoặc số ước thực hiện) và đánh giá thuận lợi, khó khăn của hệ thống kiểm soát nội bộ; Đánh giá về hoạt động kiểm soát, kiểm tra, của các cơ quan ngoài Bộ. - Tìm hiểu, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán chủ yếu qua các văn bản quy phạm pháp luật, kết quả thanh tra, kiểm tra nội bộ; việc đánh giá tính chặt chẽ và hiệu quả của các thủ tục kiểm soát còn hạn chế, hầu như chưa có đánh giá ban đầu về vận hành của các thủ tục kiểm soát nội bộ tại đơn vị kiểm toán chi tiết. 2.2.2.2. Giai đoạn thực hiện, áp dụng các phương pháp kiểm toán a) Về tổ chức thực hiện KHKT
48
ánh giá 
20%
10%
5%
10
20
50%
20%
40%
20
30
25%
30%
35%
40
40
5%
40%
20%
30
10
0% 50% 100%
Phạm vi, thời gian cuộc kiểm toán thực hiện
đúng theo KHKT được duyệt
Bố trí Đoàn kiểm toán hợp lý, hiệu quả về thời
gian, nhân sự
Quản lý, sử dụng đúng chế độ, tiết kiệm, hợp lý
nguồn lực phục vụ hoạt động kiểm toán
Phương pháp thu thập thông tin, bằng chứng hợp
Bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thể hiện rõ sai
phạm của đơn vị
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng
( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả )
- Vận dụng các phương pháp kiểm toán còn bị hạn chế nên kết quả
kiểm toán chưa cao. Việc sử dụng phương pháp hỗ trợ như lấy ý kiến chuyên
gia trong ngoài ngành, thẩm định của các tổ chức chuyên môn, xác
nhận, đối chiếu với bên thứ ba chưa được sử dụng nhiều. Các thủ tục
hướng dẫn phương pháp kiểm toán để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả
còn nhiều hạn chế.
- Chưa có quy định về sự phối hợp sử dụng các liệu, kết quả kiểm
toán giữa các kiểm toán chuyên ngành, KTNN các khu vực và các đoàn kiểm
toán với nhau để đảm bảo hoạt động kiểm toán hiệu quả. Mặt khác trong
nội bộ đoàn kiểm toán, các tổ kiểm toán chưa có sự trao đổi thông tin kịp thời
để nhân rộng phát hiện kiểm toán hoặc các đoàn kiểm toán chưa mạnh dạn
luân chuyển KTV chuyên môn sâu giữa các tổ kiểm toán để phát huy thế
mạnh của từng KTV, gim thiểu rủi ro kiểm toán trong quá trình thực hiện
kiểm toán tại Bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán.
48 ánh giá  20% 10% 5% 10 20 50% 20% 40% 20 30 25% 30% 35% 40 40 5% 40% 20% 30 10 0% 50% 100% Phạm vi, thời gian cuộc kiểm toán thực hiện đúng theo KHKT được duyệt Bố trí Đoàn kiểm toán hợp lý, hiệu quả về thời gian, nhân sự Quản lý, sử dụng đúng chế độ, tiết kiệm, hợp lý nguồn lực phục vụ hoạt động kiểm toán Phương pháp thu thập thông tin, bằng chứng hợp lý Bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thể hiện rõ sai phạm của đơn vị Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng ( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả ) - Vận dụng các phương pháp kiểm toán còn bị hạn chế nên kết quả kiểm toán chưa cao. Việc sử dụng phương pháp hỗ trợ như lấy ý kiến chuyên gia trong và ngoài ngành, thẩm định của các tổ chức có chuyên môn, xác nhận, đối chiếu với bên thứ ba chưa được sử dụng nhiều. Các thủ tục và hướng dẫn phương pháp kiểm toán để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả còn nhiều hạn chế. - Chưa có quy định về sự phối hợp sử dụng các tư liệu, kết quả kiểm toán giữa các kiểm toán chuyên ngành, KTNN các khu vực và các đoàn kiểm toán với nhau để đảm bảo hoạt động kiểm toán có hiệu quả. Mặt khác trong nội bộ đoàn kiểm toán, các tổ kiểm toán chưa có sự trao đổi thông tin kịp thời để nhân rộng phát hiện kiểm toán hoặc các đoàn kiểm toán chưa mạnh dạn luân chuyển KTV có chuyên môn sâu giữa các tổ kiểm toán để phát huy thế mạnh của từng KTV, giảm thiểu rủi ro kiểm toán trong quá trình thực hiện kiểm toán tại Bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán.
49
- Việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán còn hạn
chế, như áp dụng phần mềm kiểm toán, khai thác dữ liệu qua mạng internet,
kho dữ liệu nội bộ, các phần mềm công nghệ khác,...
- Bố trí thời gian giữa một số đơn vị được kiểm toán chưa hợp lý, chưa
đủ để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp.
- Việc tổ chức đoàn kiểm toán còn tồn tại bất cập như: Vai trò của phó
trưởng đoàn còn hạn chế, chỉ trợ giúp trưởng đoàn rất ít trong công tác ch
đạo chuyên môn, chưa các phó trưởng đoàn phụ trách từng lĩnh vực (như
lĩnh vực chi thường xuyên, chi đầu tư và thu ngân sách) mà phó trưởng đoàn
chủ yếu thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Tổ trưởng Tổ kiểm toán. Công tác chỉ
đạo một số nội dung chưa sát sao, thống nhất, chưa bao quát các kết quả, hoạt
động của các Tổ kiểm toán. Một số trường hợp, công tác chỉ đạo chưa kịp thời
ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc.
- Về phương thức thực hiện kiểm toán chi NSNN tại BNN&PTNT
hiện nay mới chỉ thực hiện trực tiếp tại các đơn vị được kiểm toán mà chưa
thực hiện kiểm toán tại trụ sở cơ quan kiểm toán (nghĩa là khi đó, các đơn vị
được kiểm toán sẽ cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác kiểm toán cho các
KTV ngay tại trụ sở của cơ quan KTNN và nhiệm vụ kiểm toán sẽ được thực
hiện ngay tại trụ sở này) và thực hiện hậu kiểm toán (sau khi kết thúc niên độ
ngân sách của Bộ). Với phương thức này dẫn đến chi phí cho các Tổ kiểm
toán còn chưa tiết kiệm hiệu quả do phải trang trải công tác phí và những
chi phí khác phục vụ cho Đoàn kiểm toán khi triển khai kiểm toán tại Bộ
NN&PTNT, một trong những Bộ phạm vi rộng, quy mô lớn trải khắp các
miền của đất nước (có 20% ý kiến không hài lòng về việc kinh phí cho các
Đoàn kiểm toán chưa tiết kiệm).
b) Việc tuân thủ quy định về ghi chép, lưu trữ Hồ sơ kiểm toán
49 - Việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán còn hạn chế, như áp dụng phần mềm kiểm toán, khai thác dữ liệu qua mạng internet, kho dữ liệu nội bộ, các phần mềm công nghệ khác,... - Bố trí thời gian giữa một số đơn vị được kiểm toán chưa hợp lý, chưa đủ để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp. - Việc tổ chức đoàn kiểm toán còn tồn tại bất cập như: Vai trò của phó trưởng đoàn còn hạn chế, chỉ trợ giúp trưởng đoàn rất ít trong công tác chỉ đạo chuyên môn, chưa có các phó trưởng đoàn phụ trách từng lĩnh vực (như lĩnh vực chi thường xuyên, chi đầu tư và thu ngân sách) mà phó trưởng đoàn chủ yếu thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Tổ trưởng Tổ kiểm toán. Công tác chỉ đạo một số nội dung chưa sát sao, thống nhất, chưa bao quát các kết quả, hoạt động của các Tổ kiểm toán. Một số trường hợp, công tác chỉ đạo chưa kịp thời ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc. - Về phương thức thực hiện kiểm toán chi NSNN tại Bộ NN&PTNT hiện nay mới chỉ thực hiện trực tiếp tại các đơn vị được kiểm toán mà chưa thực hiện kiểm toán tại trụ sở cơ quan kiểm toán (nghĩa là khi đó, các đơn vị được kiểm toán sẽ cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác kiểm toán cho các KTV ngay tại trụ sở của cơ quan KTNN và nhiệm vụ kiểm toán sẽ được thực hiện ngay tại trụ sở này) và thực hiện hậu kiểm toán (sau khi kết thúc niên độ ngân sách của Bộ). Với phương thức này dẫn đến chi phí cho các Tổ kiểm toán còn chưa tiết kiệm và hiệu quả do phải trang trải công tác phí và những chi phí khác phục vụ cho Đoàn kiểm toán khi triển khai kiểm toán tại Bộ NN&PTNT, một trong những Bộ có phạm vi rộng, quy mô lớn trải khắp các miền của đất nước (có 20% ý kiến không hài lòng về việc kinh phí cho các Đoàn kiểm toán chưa tiết kiệm). b) Việc tuân thủ quy định về ghi chép, lưu trữ Hồ sơ kiểm toán
50
3: 
10%
5%
10%
30%
25%
10%
45%
30%
20%
15%
40%
60%
0% 20% 40% 60% 80% 100%
Hồ sơ kiểm toán đầy đủ, đảm bảo các yêu
cầu theo quy định của KTNN
Bằng chứng kiểm toán được lưu trữ đầy đủ
và khoa học
Nhật ký làm việc của KTV phản ánh đầy
đủ các chỉ tiêu, nội dung đã quy định
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng
( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả )
- Xem xét hồ của các cuộc kiểm toán cho thấy, việc ghi chép Nhật
ký làm việc của nhiều KTV còn sơ sài, mang tính hình thức, chủ yếu là hoàn
thiện sau khi kết thúc công việc kiểm toán chưa đầy đủ các chỉ tiêu, nội
dung đã quy định như: không ghi số liệu cụ thể tại mục phát hiện của KTV,
trong khi đó KHKT chi tiết của tổ lại phân công rất cụ thể từng phần việc cho
KTV. Một số tổ kiểm toán KTV ghi chép nhật làm việc chưa nghiêm
túc. Hầu hết nhật ký làm việc của các KTV chưa ghi đúng, đủ các thủ tục và
phương pháp kiểm toán. Chính vì vậy, có đến 60% ý kiến không hài lòng về
việc ghi chép Nhật ký làm việc của các KTV.
- Chưa tổ chức lưu trữ các tài liệu, bằng chứng kiểm toán (hồ sơ kiểm
toán) một cách khoa học để thuận tiện trong việc tra cứu, khai thác và sử dụng
thông tin về các đối tượng kiểm toán.
50 3:  10% 5% 10% 30% 25% 10% 45% 30% 20% 15% 40% 60% 0% 20% 40% 60% 80% 100% Hồ sơ kiểm toán đầy đủ, đảm bảo các yêu cầu theo quy định của KTNN Bằng chứng kiểm toán được lưu trữ đầy đủ và khoa học Nhật ký làm việc của KTV phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu, nội dung đã quy định Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng ( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả ) - Xem xét hồ sơ của các cuộc kiểm toán cho thấy, việc ghi chép Nhật ký làm việc của nhiều KTV còn sơ sài, mang tính hình thức, chủ yếu là hoàn thiện sau khi kết thúc công việc kiểm toán và chưa đầy đủ các chỉ tiêu, nội dung đã quy định như: không ghi số liệu cụ thể tại mục phát hiện của KTV, trong khi đó KHKT chi tiết của tổ lại phân công rất cụ thể từng phần việc cho KTV. Một số tổ kiểm toán và KTV ghi chép nhật ký làm việc chưa nghiêm túc. Hầu hết nhật ký làm việc của các KTV chưa ghi đúng, đủ các thủ tục và phương pháp kiểm toán. Chính vì vậy, có đến 60% ý kiến không hài lòng về việc ghi chép Nhật ký làm việc của các KTV. - Chưa tổ chức lưu trữ các tài liệu, bằng chứng kiểm toán (hồ sơ kiểm toán) một cách khoa học để thuận tiện trong việc tra cứu, khai thác và sử dụng thông tin về các đối tượng kiểm toán.
51
2.2.2.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán
4
15%
10%
16%
25%
15%
44%
35%
35%
20%
25%
40%
20%
0% 20% 40% 60% 80% 100%
BCKT đúng mẫu biểu, chính xác, rõ ràng
BCKT xác nhận được tính đúng đắn, trung
thực của báo cáo quyết toán của đơn vị
BCKT đảm bảo đầy đủ mục tiêu của cuộc
kiểm toán
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng
( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả )
Mặc dù tiến hành kiểm toán chi NSNN tại Bộ NN&PTNT song BCKT
còn giới hạn trong phạm vi đánh giá, nhận xét và chỉ xác nhận số liệu tại các
đơn vị trực tiếp được kiểm toán mà chưa có các phương pháp kiểm toán thích
hợp nhằm đi đến xác nhận tính trung thực, hợp tình hình quyết ngân sách
của Bộ. Đây là một hạn chế rất lớn trong việc xác nhận tình hình sử dụng ngân
sách cũng như điều hành ngân sách của Bộ, Ngành và cần có những biện pháp
nghiên cứu hoàn thiện để khắc phục hạn chế này (chỉ có 15% ý kiến hài lòng).
Mẫu BCKT còn trùng lắp giữa phần kết quả kiểm toán và phần kết luận
và kiến nghị kiểm toán, có nội dung (phát hiện kiểm toán) được nhắc lại nhiều
lần trong BCKT, gây tâm lý không tốt (sự phản cảm) của người đọc, nhất là
đơn vị được kiểm toán. Do đó, 25% ý kiến không hài lòng về hình thức,
mẫu biểu của các BCKT đã được phát hành.
Thực trạng kết quả kiểm toán tại Bộ NN&PTNT hiện nay chưa đủ để
xác nhận được tính đúng đắn, hợp pháp của Báo cáo quyết toán ngân sách.
Nhiều BCKT không đưa ra được số liệu chính xác nên Bộ Tài chính không
lấy số liệu của kiểm toán để tổng hợp Báo cáo quyết toán NSNN, kết qu
51 2.2.2.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán 4 15% 10% 16% 25% 15% 44% 35% 35% 20% 25% 40% 20% 0% 20% 40% 60% 80% 100% BCKT đúng mẫu biểu, chính xác, rõ ràng BCKT xác nhận được tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán của đơn vị BCKT đảm bảo đầy đủ mục tiêu của cuộc kiểm toán Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng ( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả ) Mặc dù tiến hành kiểm toán chi NSNN tại Bộ NN&PTNT song BCKT còn giới hạn trong phạm vi đánh giá, nhận xét và chỉ xác nhận số liệu tại các đơn vị trực tiếp được kiểm toán mà chưa có các phương pháp kiểm toán thích hợp nhằm đi đến xác nhận tính trung thực, hợp lý tình hình quyết ngân sách của Bộ. Đây là một hạn chế rất lớn trong việc xác nhận tình hình sử dụng ngân sách cũng như điều hành ngân sách của Bộ, Ngành và cần có những biện pháp nghiên cứu hoàn thiện để khắc phục hạn chế này (chỉ có 15% ý kiến hài lòng). Mẫu BCKT còn trùng lắp giữa phần kết quả kiểm toán và phần kết luận và kiến nghị kiểm toán, có nội dung (phát hiện kiểm toán) được nhắc lại nhiều lần trong BCKT, gây tâm lý không tốt (sự phản cảm) của người đọc, nhất là đơn vị được kiểm toán. Do đó, có 25% ý kiến không hài lòng về hình thức, mẫu biểu của các BCKT đã được phát hành. Thực trạng kết quả kiểm toán tại Bộ NN&PTNT hiện nay chưa đủ để xác nhận được tính đúng đắn, hợp pháp của Báo cáo quyết toán ngân sách. Nhiều BCKT không đưa ra được số liệu chính xác nên Bộ Tài chính không lấy số liệu của kiểm toán để tổng hợp Báo cáo quyết toán NSNN, kết quả
52
kiểm toán chủ yếu chỉ ra các khoản thu, chi không đúng chế độ để kiến nghị
điều chỉnh, chưa xác định số liệu chính xác cho tổng thể quyết toán (số liệu
quyết toán phù hợp theo ý kiến kiểm toán). Do đó cần đổi mới, hoàn thiện
cách thức, phương pháp kim toán nhất là khâu kiểm toán tổng hợp và đồi chiếu
sổ liệu để có thể xác nhận được toàn bộ Báo cáo quyết toán ngân sách.
Định hướng thực hiện kiểm toán tổng hợp, đối chiếu số liệu chưa
đáp ứng được yêu cầu. Trình độ của đội ngũ KTV cũng nhiều hạn chế trong
việc phân tích, đánh giá, tổng hợp các thông tin về đơn vị được kiểm toán;
mẫu biểu hồ kiểm toán còn chưa phù hợp, thiếu tính nhất quán. Chưa
các qui định ràng về tài liệu kiểm toán, bằng chứng kiểm toán nên khó
khăn cho việc thu thập và lưu trữ hồ sơ. BCKT cũng chưa đồng nhất về cách
tiếp cận, đánh giá còn có sự khác nhau về chất lượng viết báo cáo; chưa
thống nhất các tiêu chí trong việc xác định cơ slựa chọn đơn vị thực hiện
kiểm tra kết luận, kiến nghị kiểm toán trong toàn ngành.
2.2.2.4. Việc thực hiện kiến nghị của KTNN
5: 
20%
10%
20%
20%
20%
40%
40%
30%
0% 50% 100%
Thực hiện kịp thời kiến nghị của KTNN
Tỷ lệ thực hiện của đơn vị so với kiến nghị
xử lý tài chính của KTNN
Rất hài lòng
Hài lòng
Bình thường
Không hài lòng
( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả )
Việc thực hiện kết luận, kiến nghị trong BCKT của đơn vị được kiểm
toán về cơ bản là nghiêm túc. Tuy nhiên, một số đơn vị được kiểm toán thực
hiện chậm hoặc không thực hiện được một số kiến nghị kiểm toán,
nguyên nhân những kiến nghị kiểm toán không tính khả thi, chưa sát
52 kiểm toán chủ yếu chỉ ra các khoản thu, chi không đúng chế độ để kiến nghị điều chỉnh, chưa xác định số liệu chính xác cho tổng thể quyết toán (số liệu quyết toán phù hợp theo ý kiến kiểm toán). Do đó cần đổi mới, hoàn thiện cách thức, phương pháp kiểm toán nhất là khâu kiểm toán tổng hợp và đồi chiếu sổ liệu để có thể xác nhận được toàn bộ Báo cáo quyết toán ngân sách. Định hướng và thực hiện kiểm toán tổng hợp, đối chiếu số liệu chưa đáp ứng được yêu cầu. Trình độ của đội ngũ KTV cũng nhiều hạn chế trong việc phân tích, đánh giá, tổng hợp các thông tin về đơn vị được kiểm toán; mẫu biểu hồ sơ kiểm toán còn chưa phù hợp, thiếu tính nhất quán. Chưa có các qui định rõ ràng về tài liệu kiểm toán, bằng chứng kiểm toán nên khó khăn cho việc thu thập và lưu trữ hồ sơ. BCKT cũng chưa đồng nhất về cách tiếp cận, đánh giá và còn có sự khác nhau về chất lượng viết báo cáo; chưa thống nhất các tiêu chí trong việc xác định cơ sở lựa chọn đơn vị thực hiện kiểm tra kết luận, kiến nghị kiểm toán trong toàn ngành. 2.2.2.4. Việc thực hiện kiến nghị của KTNN 5:  20% 10% 20% 20% 20% 40% 40% 30% 0% 50% 100% Thực hiện kịp thời kiến nghị của KTNN Tỷ lệ thực hiện của đơn vị so với kiến nghị xử lý tài chính của KTNN Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Không hài lòng ( Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu tác giả ) Việc thực hiện kết luận, kiến nghị trong BCKT của đơn vị được kiểm toán về cơ bản là nghiêm túc. Tuy nhiên, một số đơn vị được kiểm toán thực hiện chậm hoặc không thực hiện được một số kiến nghị kiểm toán, mà nguyên nhân là những kiến nghị kiểm toán không có tính khả thi, chưa sát