Luận văn: Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam

5,009
771
79
7
ph các nước s ti vi các điu khon “mm” v lãi sut, thi gian n hn, thi hn tr dài
nhưng có nhng rng buc nht định).
- Vn nước ngoài dưới dng đầu tư danh mc chng khoán (FPI)
Đây là dng đầu tư gián tiếp thông qua th trường chng khoán, các nhà đầu tư nước
ngoài b tin ra mua chng khoán (gm c phiếu, trái phiếu, và các chng t phái sinh) để
thu li nhun thông qua c tc, trái tc hoc chênh lch giá nh đầu cơ chng khoán.
Ngun vn này đã và đang ngày càng đóng mt vai trò quan trng trong hu khp các nn
kinh tế, trên thc tế nhiu các quc gia đã s dng kênh này để huy động ngun tài tr t
bên ngoài mt cách có hiu qu.
Ngoài ra vn nước ngoài còn có các ngun vn khác như kiu hi, các khon quà
tng, quà biếu, tha kế, chuyn tin t nước ngoài … cũng đáng lưu tâm, đặc bit là các
quc gia có s lượng công dân sng và làm vic nước ngoài ln. Tuy nhiên nếu xét v
tng th thì các ngun này thường là nh và không có nh hưởng ln đến nn kinh tế vĩ
mô. Ta có th b qua các khon này.
Để phc v mc đích nghiên cu ca khoá lun, ta có th khái quát cơ cu ngun vn
vào mt quc gia thành 4 ngun vn nước ngoài chính:
- Vn đầu tư nước ngoài trc tiếp (FDI)
- H tr phát trin chính thc (ODA)
- Tín dng thương mi
- Đầu tư danh mc chng khoán (FPI)
II. LÝ LUN V NGUN VN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA TH
TRƯỜNG CHNG KHOÁN (FPI)
1. Khái nim
Như đã nói trên, đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán là mt trong nhng
ngun vn nước ngoài chính và nó ngày càng tr nên quan trng, chiếm t l ln trong cơ
cu vn nước ngoài.
Th trường chng khoán đã ra đời t rt sm, bn thân nó là mt kênh huy động vn
trc tiếp trong nn kinh tế quc dân. Đó là nơi mà các nhà đầu tư tìm kiếm, thay đổi cơ
hi và lĩnh vc đầu tư ca mình. Nếu khung pháp lý cho hot động này ch bó hp đối vi
các nhà đầu tư trong nước thì th trường chng khoán ch đơn thun là mt kênh huy động
vn trong nước. Nhưng nếu khung pháp lý m rng ra cho các nhà đầu tư nước ngoài thì
đây li là mt kênh huy động vn nước ngoài cho nn kinh tế. Trên thc tế, do nhng ưu
đim ni bt ca th trường chng khoán, do xu hướng t do hoá tài chính, hu hết các
quc gia có th trường chng khoán đều cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép
7 phủ các nước sở tại với các điều khoản “mềm” về lãi suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài nhưng có những rằng buộc nhất định). - Vốn nước ngoài dưới dạng đầu tư danh mục chứng khoán (FPI) Đây là dạng đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư nước ngoài bỏ tiền ra mua chứng khoán (gồm cổ phiếu, trái phiếu, và các chứng từ phái sinh) để thu lợi nhuận thông qua cổ tức, trái tức hoặc chênh lệch giá nhờ đầu cơ chứng khoán. Nguồn vốn này đã và đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong hầu khắp các nền kinh tế, trên thực tế nhiều các quốc gia đã sử dụng kênh này để huy động nguồn tài trợ từ bên ngoài một cách có hiệu quả. Ngoài ra vốn nước ngoài còn có các nguồn vốn khác như kiều hối, các khoản quà tặng, quà biếu, thừa kế, chuyển tiền từ nước ngoài … cũng đáng lưu tâm, đặc biệt là các quốc gia có số lượng công dân sống và làm việc ở nước ngoài lớn. Tuy nhiên nếu xét về tổng thể thì các nguồn này thường là nhỏ và không có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế vĩ mô. Ta có thể bỏ qua các khoản này. Để phục vụ mục đích nghiên cứu của khoá luận, ta có thể khái quát cơ cấu nguồn vốn vào một quốc gia thành 4 nguồn vốn nước ngoài chính: - Vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) - Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) - Tín dụng thương mại - Đầu tư danh mục chứng khoán (FPI) II. LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (FPI) 1. Khái niệm Như đã nói ở trên, đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán là một trong những nguồn vốn nước ngoài chính và nó ngày càng trở nên quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu vốn nước ngoài. Thị trường chứng khoán đã ra đời từ rất sớm, bản thân nó là một kênh huy động vốn trực tiếp trong nền kinh tế quốc dân. Đó là nơi mà các nhà đầu tư tìm kiếm, thay đổi cơ hội và lĩnh vực đầu tư của mình. Nếu khung pháp lý cho hoạt động này chỉ bó hẹp đối với các nhà đầu tư trong nước thì thị trường chứng khoán chỉ đơn thuần là một kênh huy động vốn trong nước. Nhưng nếu khung pháp lý mở rộng ra cho các nhà đầu tư nước ngoài thì đây lại là một kênh huy động vốn nước ngoài cho nền kinh tế. Trên thực tế, do những ưu điểm nổi bật của thị trường chứng khoán, do xu hướng tự do hoá tài chính, hầu hết các quốc gia có thị trường chứng khoán đều cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép
8
tham gia vào th trường chng khoán. Nhng nước này, mt chng mc nào đó, đã thành
công trong vic thu hút vn nước ngoài qua th trường chng khoán.
Đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán là vic nhà đầu tư nước ngoài (có
th là cá nhân hoc t chc) b tin ra mua chng khoán ca mt t chc hay ca nhà
nước được phát hành trên th trường chng khoán nhm kiếm li t thu nhp c tc
hay trái tc hoc t chênh lch giá do kinh doanh chng khoán đem li.
2. Đặc đim
Đầu tư nước ngoài thông qua th trường chng khoán hay đầu tư danh mc chng
khoán (FPI) là mt b phn cu thành ca tng lung vn chu chuyn chu chuyn vào và
ra mt quc gia. Xét v mt bn cht, đầu tư danh mc chng khoán FPI rt gn vi đầu tư
trc tiếp FDI, vì nó đều là nhng khon đầu tư trc tiếp vào doanh nghip và trc tiếp
hưởng li t kết qu hot động ca doanh nghip. Điu khác nhau ln nht gia FDI và
FPI chính là ch nhà đầu tư nước ngoài có hay không tham gia qun lý doanh nghip.
Chính vì vy mà ti nhiu nước FDI và FPI được điu chnh chung trong mt b lut và
thường ly mt t l
nht định v nm gia ca bên nước ngoài để phân định gia FDI và
FPI (ví d Nht là 10%, New Zealand là 25%). Đây là mt đặc đim đáng lưu ý trong quan
nim v FDI và FPI. Th nht: FPI là loi hình đầu tư không tham gia qun lý, không
chuyn giao công ngh và d đột biến, nhưng khi “lượng” FPI đạt đến mt mc độ nht
định thì s biến v “cht”: tham gia qun lý, chuyn giao công ngh và ít đột biến hn. Th
hai: đim để lượng FPI biến thành FDI có th khác nhau do các nhà hoch định chính sách
tng nước n định, da vào điu kin c th v kinh tế, trình độ qun lý, tp quán kinh
doanh nước đó.
Các quc gia huy động vn nước ngoài thông qua th trường chng khoán thường
thông qua vic phát hành trái phiếu chính ph, trái phiếu công ty và c phiếu ca các
doanh nghip cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Do tính cht ca trái phiếu và c phiếu rt khác nhau do vy vn nước ngoài huy
động bng trái phiếu và c phiếu cũng rt khác nhau. Ngoài đặc đim chung là đầu tư vi
mc đích li nhun và có tính đầu cơ, ngun vn đầu tư nước ngoài thông qua th trường
chng khoán còn có các đặc đim khác nhau tu thuc vào vic nó là vn huy động t c
phiếu hay trái phiếu.
a) Đặc đim v vn đầu tư nước ngoài huy động thông qua vic phát hành trái phiếu.
Chính ph và hu hết các công ty phát hành trái phiếu đều vi mc đích thu được
ngun vn s dng cho mc tiêu dài hn vì vy ngun vn dng này có mt s đặc đim
sau:
8 tham gia vào thị trường chứng khoán. Những nước này, ở một chừng mực nào đó, đã thành công trong việc thu hút vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán. Đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán là việc nhà đầu tư nước ngoài (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) bỏ tiền ra mua chứng khoán của một tổ chức hay của nhà nước được phát hành trên thị trường chứng khoán nhằm kiếm lời từ thu nhập cổ tức hay trái tức hoặc từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem lại. 2. Đặc điểm Đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán hay đầu tư danh mục chứng khoán (FPI) là một bộ phận cấu thành của tổng luồng vốn chu chuyển chu chuyển vào và ra một quốc gia. Xét về mặt bản chất, đầu tư danh mục chứng khoán FPI rất gần với đầu tư trực tiếp FDI, vì nó đều là những khoản đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp và trực tiếp hưởng lợi từ kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Điều khác nhau lớn nhất giữa FDI và FPI chính là ở chỗ nhà đầu tư nước ngoài có hay không tham gia quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy mà tại nhiều nước FDI và FPI được điều chỉnh chung trong một bộ luật và thường lấy một tỷ l ệ nhất định về nắm giữa của bên nước ngoài để phân định giữa FDI và FPI (ví dụ Nhật là 10%, New Zealand là 25%). Đây là một đặc điểm đáng lưu ý trong quan niệm về FDI và FPI. Thứ nhất: FPI là loại hình đầu tư không tham gia quản lý, không chuyển giao công nghệ và dễ đột biến, nhưng khi “lượng” FPI đạt đến một mức độ nhất định thì sẽ biến về “chất”: tham gia quản lý, chuyển giao công nghệ và ít đột biến hớn. Thứ hai: điểm để lượng FPI biến thành FDI có thể khác nhau do các nhà hoạch định chính sách ở từng nước ấn định, dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế, trình độ quản lý, tập quán kinh doanh ở nước đó. Các quốc gia huy động vốn nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán thường thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty và cổ phiếu của các doanh nghiệp cho các nhà đầu tư nước ngoài. Do tính chất của trái phiếu và cổ phiếu rất khác nhau do vậy vốn nước ngoài huy động bằng trái phiếu và cổ phiếu cũng rất khác nhau. Ngoài đặc điểm chung là đầu tư với mục đích lợi nhuận và có tính đầu cơ, nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán còn có các đặc điểm khác nhau tuỳ thuộc vào việc nó là vốn huy động từ cổ phiếu hay trái phiếu. a) Đặc điểm về vốn đầu tư nước ngoài huy động thông qua việc phát hành trái phiếu. Chính phủ và hầu hết các công ty phát hành trái phiếu đều với mục đích thu được nguồn vốn sử dụng cho mục tiêu dài hạn vì vậy nguồn vốn dạng này có một số đặc điểm sau:
9
- Thi hn s dng khá dài, thi hn ca ngun vn thu t vic bán trái phiếu chính ph
thường dài hơn so vi doanh nghip.
Không ch các quc gia đang phát trin mà ngay c các quc gia phát trin cũng có lúc
cn phi huy động ngun vn nước ngoài bng vic phát hành trái phiếu. Khon vn này
được dùng cho các chương trình, d án hoc đểđắp tm thi ngân sách b thiếu ht.
Thi hn ca các khon vay này thường rt dài vì mc đích s dng ngun vn này hu hết
dành cho các d án ln, lâu dài ca chính ph. Đối vi các công ty, khi cn m rng kinh
doanh, nâng cao trình độ kĩ thut công ngh hoc thc hin chiến lược đầu tư lâu dài ca
mình cũng cn phi có mt lượng vn khá ln trong khong thi gian dài.
- Lãi sut ca loi này thường cao hơn so vi lãi sut vay bng ODA.
Vì mc đích ca nhà đầu tư là thu li nhun thông qua khon lãi sut được hưởng t
vic mua trái phiếu, nên các nhà đầu tư luôn đặt yêu cu lãi sut lên hàng đầu. Do vy,
công ty hoc chính ph khi phát hành trái phiếu luôn phi định ra mc lãi sut đủ cao để
thu hút nhà đầu tư nước ngoài, thm chí lãi sut loi này còn cao hơn c lãi sut trung bình
trên thế gii bi vì lãi sut loi này còn tính đến c yếu t ri ro lm phát và mt s ri ro
khác.
- Không kèm theo bt k mt điu kin gì hay mt s rng buc nào t phía bên cung
cp vn.
Đây là mt ưu đim ni bt so vi vn ODA ca loi vn này, nó rt có li cho bên tiếp
nhn vn vì s không phi chu các điu kin bt li khác t phía bên cung cp.
- Không b hn chế v mc đích s dng và chu s giám sát trong vic s dng vn.
Đây là mt ưu đim na so vi ngun vn ODA, vì nn kinh tế không phi chu s chi
phi v mc đích s dng ca nhà đầu tư. Chính vì vy mà nn kinh tế có th tn dng ti
đa tác dng ca vn, s d
ng phc v cho đúng mc đích phát trin ca mình.
- Phát sinh n cho bên tiếp nhn.
Thc cht đây là mt khon vn vay dài hn ca bên phát hành trái phiếu vi nhà đầu
tư, trái phiếu luôn có mt khong thi gian n xác định trước và vic tr n được đảm bo
bng cam kết ca chính ph và các doanh nghip.
b) Đặc đim v vn đầu tư nước ngoài huy động thông qua vic phát hành c
phiếu ca doanh nghip.
Tu thuc vào khung pháp lý ca nước huy động qui định v tính cht ca c phiếu mà
ngun vn nước ngoài huy động t c phiếu có khác nhau. Nhưng ch yếu là có các đặc
đim sau:
9 - Thời hạn sử dụng khá dài, thời hạn của nguồn vốn thu từ việc bán trái phiếu chính phủ thường dài hơn so với doanh nghiệp. Không chỉ các quốc gia đang phát triển mà ngay cả các quốc gia phát triển cũng có lúc cần phải huy động nguồn vốn nước ngoài bằng việc phát hành trái phiếu. Khoản vốn này được dùng cho các chương trình, dự án hoặc để bù đắp tạm thời ngân sách bị thiếu hụt. Thời hạn của các khoản vay này thường rất dài vì mục đích sử dụng nguồn vốn này hầu hết dành cho các dự án lớn, lâu dài của chính phủ. Đối với các công ty, khi cần mở rộng kinh doanh, nâng cao trình độ kĩ thuật công nghệ hoặc thực hiện chiến lược đầu tư lâu dài của mình cũng cần phải có một lượng vốn khá lớn trong khoảng thời gian dài. - Lãi suất của loại này thường cao hơn so với lãi suất vay bằng ODA. Vì mục đích của nhà đầu tư là thu lợi nhuận thông qua khoản lãi suất được hưởng từ việc mua trái phiếu, nên các nhà đầu tư luôn đặt yêu cầu lãi suất lên hàng đầu. Do vậy, công ty hoặc chính phủ khi phát hành trái phiếu luôn phải định ra mức lãi suất đủ cao để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí lãi suất loại này còn cao hơn cả lãi suất trung bình trên thế giới bởi vì lãi suất loại này còn tính đến cả yếu tố rủi ro lạm phát và một số rủi ro khác. - Không kèm theo bất kỳ một điều kiện gì hay một sự rằng buộc nào từ phía bên cung cấp vốn. Đây là một ưu điểm nổi bật so với vốn ODA của loại vốn này, nó rất có lợi cho bên tiếp nhận vốn vì sẽ không phải chịu các điều kiện bất lợi khác từ phía bên cung cấp. - Không bị hạn chế về mục đích sử dụng và chịu sự giám sát trong việc sử dụng vốn. Đây là một ưu điểm nữa so với nguồn vốn ODA, vì nền kinh tế không phải chịu sự chi phối về mục đích sử dụng của nhà đầu tư. Chính vì vậy mà nền kinh tế có thể tận dụng tối đa tác dụng của vốn, sử dụ ng phục vụ cho đúng mục đích phát triển của mình. - Phát sinh nợ cho bên tiếp nhận. Thực chất đây là một khoản vốn vay dài hạn của bên phát hành trái phiếu với nhà đầu tư, trái phiếu luôn có một khoảng thời gian nợ xác định trước và việc trả nợ được đảm bảo bằng cam kết của chính phủ và các doanh nghiệp. b) Đặc điểm về vốn đầu tư nước ngoài huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào khung pháp lý của nước huy động qui định về tính chất của cổ phiếu mà nguồn vốn nước ngoài huy động từ cổ phiếu có khác nhau. Nhưng chủ yếu là có các đặc điểm sau:
10
- Thi hn s dng dài và ph thuc vào (ti Vit Nam) doanh nghip nhn vn .
- Lãi sut rt cao, nó tương đương vi mc li nhun được chia mà các doanh nghip
trong nước to ra.
Đặc đim ca c phiếu là: các nhà đầu tư s hu hp pháp c phiếu đó s được
hưởng mt khon lãi sut tính trên cơ s kết qu hot động kinh doanh ca công ty. Mt
khác, kết qu kinh doanh thường cao hơn rt nhiu so vi lãi sut tin gi thông thường.
Do vy lãi sut ca c phiếu thường cao hơn lãi sut thông thường.
- Vic s dng ngun vn này có th hoc không ph thuc vào bên cung cp vn tu
theo qui định pháp lý v vic t l mua c phiếu ca bên nước ngoài đối v
i doanh nghip
trong nước.
Khi cho ra đời th trường chng khoán, các nước đang phát trin có nn kinh tế đang
cn được bo h mc cao luôn phi cân nhc vn đề nên hay không nên cho phép bên
nước ngoài mua c phiếu ca các công ty trong nước, và nếu cho phép thì t l mua này là
bao nhiêu. Thường thì các nước này luôn chn gii pháp cho phép nhà đầu tư nước ngoài
mua c phiếu ca các công ty trong nước nhưng vi t l không quá mt mc
độ nào đó để
h không có quyn thâu tóm công ty. Và như vy, nước tiếp nhn vn vn có th huy động
được ngun vn nước ngoài mà không b l thuc vào nhà đầu tư mc cao.
- Không làm phát sinh n cho nước tiếp nhn.
- Không b rng buc bi bt c điu kin nào t phía cung cp vn.
Đặc đim này có được là vì khi quyết định đầu tư bng vic mua c phiếu, các nhà
đầu tư nước ngoài luôn phi tính toán cân nhc rt k lưỡng, và khi đã đầu tư vào thì
không được phép nêu ra bt k mt rng buc hay điu kin gì. Như vy, vic đầu tư hoàn
toàn trên cơ s t nguyn, không được phép có thêm mt điu kin gì.
3. Vai trò ca ngun vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng
khoán
Thu hút ngun vn nước ngoài qua th trường chng khoán để b sung cho các
ngun vn khác trong và ngoài nước nhm phát trin kinh tế là mt ch trương ln ca
Đảng và chính ph.
3.1. Vai trò chung ca ngun vn nước ngoài:
Các nước đang phát trin là nhng nước đang trong quá trình chuyn đổi nn kinh tế
mt cách toàn din và sâu sc. Nhu cu v vn trong giai đon này là rt ln; vn phc v
cho vic chuyn đổi cơ cu nn kinh tế, vn cho vic xây dng và ci to nâng cp cơ s
h tng, vn cho vic xây dng và phát trin các ngành công nghip mi mang tính ch
đạo, vn cho vic gii quyết các vn đề kinh tế ny sinh trong thi k chuyn đổi như tht
10 - Thời hạn sử dụng dài và phụ thuộc vào (tại Việt Nam) doanh nghiệp nhận vốn . - Lãi suất rất cao, nó tương đương với mức lợi nhuận được chia mà các doanh nghiệp trong nước tạo ra. Đặc điểm của cổ phiếu là: các nhà đầu tư sở hữu hợp pháp cổ phiếu đó sẽ được hưởng một khoản lãi suất tính trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Mặt khác, kết quả kinh doanh thường cao hơn rất nhiều so với lãi suất tiền gửi thông thường. Do vậy lãi suất của cổ phiếu thường cao hơn lãi suất thông thường. - Việc sử dụng nguồn vốn này có thể hoặc không phụ thuộc vào bên cung cấp vốn tuỳ theo qui định pháp lý về việc tỷ lệ mua cổ phiếu của bên nước ngoài đối vớ i doanh nghiệp trong nước. Khi cho ra đời thị trường chứng khoán, các nước đang phát triển có nền kinh tế đang cần được bảo hộ ở mức cao luôn phải cân nhắc vấn đề nên hay không nên cho phép bên nước ngoài mua cổ phiếu của các công ty trong nước, và nếu cho phép thì tỷ lệ mua này là bao nhiêu. Thường thì các nước này luôn chọn giải pháp cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu của các công ty trong nước nhưng với tỷ lệ không quá một mức độ nào đó để họ không có quyền thâu tóm công ty. Và như vậy, nước tiếp nhận vốn vẫn có thể huy động được nguồn vốn nước ngoài mà không bị lệ thuộc vào nhà đầu tư ở mức cao. - Không làm phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. - Không bị rằng buộc bởi bất cứ điều kiện nào từ phía cung cấp vốn. Đặc điểm này có được là vì khi quyết định đầu tư bằng việc mua cổ phiếu, các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải tính toán cân nhắc rất kỹ lưỡng, và khi đã đầu tư vào thì không được phép nêu ra bất kỳ một rằng buộc hay điều kiện gì. Như vậy, việc đầu tư hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện, không được phép có thêm một điều kiện gì. 3. Vai trò của nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Thu hút nguồn vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán để bổ sung cho các nguồn vốn khác trong và ngoài nước nhằm phát triển kinh tế là một chủ trương lớn của Đảng và chính phủ. 3.1. Vai trò chung của nguồn vốn nước ngoài: Các nước đang phát triển là những nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế một cách toàn diện và sâu sắc. Nhu cầu về vốn trong giai đoạn này là rất lớn; vốn phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, vốn cho việc xây dựng và cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, vốn cho việc xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp mới mang tính chủ đạo, vốn cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế nảy sinh trong thời kỳ chuyển đổi như thất
11
nghip, trình độ lao động…, vn cho vic nhp khu công ngh máy móc hin đại đáp ng
yêu cu đổi mi và cnh trên trường quc tế.Chính vì vy vic huy động thêm các ngun
lc t bên ngoài trong giai đon này là thc s cn thiết.
Trong tình trng nn kinh tế kém phát trin, ch yếu da vào nông nghip và công
nghip chế biến thô sơ, tích lu t bn thân nn kinh tế còn quá thp. Hơn na, cũng t
vic sn xut kém phát trin dn đến thu nhp ca người dân thp t đó làm cho tiết kim
trong dân rt ít. Tích lu (mc độ tái đầu tư trích t li nhun) ca nn kinh tế thp, tiết
kim trong dân thp dn đến không đáp ng được nhu cu v vn cho đổi mi. Vì vy
ngun vn nước ngoài có vai trò b sung ngun vn đầu tư, tăng tc độ tái đầu tư, cn thiết
cho mt tiến trình tăng tc nhanh.
3.2.Vai trò riêng ngun vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng
khoán
Vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán có nhng đặc đim riêng do vy
nó cũng có nhng vai trò riêng đối vi s phát trin kinh tế ca nước tiếp nhn.
- Vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán có vai trò cung cp, b sung
ngun vn trung và dài hn cho cho các doanh nghip, giúp các doanh nghip m rng qui
mô sn xut. Trong bi cnh vic huy động ngun vn trung và dài hn trong nước còn
nhiu khó khăn, nht là Vit Nam phi s dng c các khon tin gi ngn hn ti các
ngân hàng để tài tr, thì vic thu hút s dng vn nước ngoài qua th trường chng khoán
là cn thiết.
- Vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán ch yếu là dưới dng tin t,
do vy nó cũng giúp chính phđắp phn nào cán cân thanh toán, t đ
ó gim bt áp lc
v cu ngoi t. Các nước đang phát trin đều ra sc thc hin công nghip hoá- hin đại
hoá nn kinh tế, cn phi nhp khu nhiu máy móc thiết b, công ngh… và các yếu t sn
xut khác t bên ngoài, do vy rt cn ngoi t để có th nhp khu. Các nước này thường
xy ra tình trng thiếu ngoi t, nh hưởng xu đến kh năng thanh toán. Thu hút vn nước
ngoài qua th trường chng khoán cũng là mt bin pháp để điu chnh s thiếu ht ca cán
cân thanh toán.
- Vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán còn có vai trò tăng kh năng
thanh toán và hiu sut ca th trường vn ni địa. Và mt th trường vn vi kh năng
thanh toán và hiu su
t cao s cho phép các ngun lc được s dng mt cách có hiu qu
nht. Khi có mt lượng vn gián tiếp chy vào theo hình thc đầu tư qua Th trường chng
khoán, dung lượng vn ca th trường chng khoán s cao hơn, kh năng thanh khon s
cao hơn, thúc đẩy các nhà đầu tư tiến hành nghiên cu, rót thêm vn vào nn kinh tế, làm
cho th trường vn phát trin. Khi th trường vn phát trin, tính thanh khon tăng, ri ro
thanh toán cũng gim xung, các khon đầu tư dài hn cũng hp dn hơn, cho phép các nhà
11 nghiệp, trình độ lao động…, vốn cho việc nhập khẩu công nghệ máy móc hiện đại đáp ứng yêu cầu đổi mới và cạnh trên trường quốc tế.Chính vì vậy việc huy động thêm các nguồn lực từ bên ngoài trong giai đoạn này là thực sự cần thiết. Trong tình trạng nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến thô sơ, tích luỹ từ bản thân nền kinh tế còn quá thấp. Hơn nữa, cũng từ việc sản xuất kém phát triển dẫn đến thu nhập của người dân thấp từ đó làm cho tiết kiệm trong dân rất ít. Tích luỹ (mức độ tái đầu tư trích từ lợi nhuận) của nền kinh tế thấp, tiết kiệm trong dân thấp dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu về vốn cho đổi mới. Vì vậy nguồn vốn nước ngoài có vai trò bổ sung nguồn vốn đầu tư, tăng tốc độ tái đầu tư, cần thiết cho một tiến trình tăng tốc nhanh. 3.2.Vai trò riêng nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán có những đặc điểm riêng do vậy nó cũng có những vai trò riêng đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận. - Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán có vai trò cung cấp, bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất. Trong bối cảnh việc huy động nguồn vốn trung và dài hạn trong nước còn nhiều khó khăn, nhất là ở Việt Nam phải sử dụng cả các khoản tiền gửi ngắn hạn tại các ngân hàng để tài trợ, thì việc thu hút sử dụng vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán là cần thiết. - Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán chủ yếu là dưới dạng tiền tệ, do vậy nó cũng giúp chính phủ bù đắp phần nào cán cân thanh toán, từ đ ó giảm bớt áp lực về cầu ngoại tệ. Các nước đang phát triển đều ra sức thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá nền kinh tế, cần phải nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, công nghệ… và các yếu tố sản xuất khác từ bên ngoài, do vậy rất cần ngoại tệ để có thể nhập khẩu. Các nước này thường xảy ra tình trạng thiếu ngoại tệ, ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán. Thu hút vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán cũng là một biện pháp để điều chỉnh sự thiếu hụt của cán cân thanh toán. - Vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán còn có vai trò tăng khả năng thanh toán và hiệu suất của thị trường vốn nội địa. Và một thị trường vốn với khả năng thanh toán và hiệu su ất cao sẽ cho phép các nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Khi có một lượng vốn gián tiếp chảy vào theo hình thức đầu tư qua Thị trường chứng khoán, dung lượng vốn của thị trường chứng khoán sẽ cao hơn, khả năng thanh khoản sẽ cao hơn, thúc đẩy các nhà đầu tư tiến hành nghiên cứu, rót thêm vốn vào nền kinh tế, làm cho thị trường vốn phát triển. Khi thị trường vốn phát triển, tính thanh khoản tăng, rủi ro thanh toán cũng giảm xuống, các khoản đầu tư dài hạn cũng hấp dẫn hơn, cho phép các nhà
12
đầu tư la chn đầu tư chng khoán như là mt hình thc hp dn hơn gi tiết kim ngân
hàng, t đó vn cho nn kinh tế được tăng cường vi mc chi phí thp hơn và năng lc sn
xut theo đó cũng được phát trin. Đó là chưa k các tác động khác khi Th trường chng
khoán phát trin như: tăng cường tính minh bch và kh năng qun tr ca công ty, cung
cp các phương tin bo him cho các t chc tài chính, gim tính bt n định ca ngoi
hi…
- Dòng vn vượt qua biên gii này cũng đạt ra yêu cu to điu kin tăng cường cht
lượng hot động ca các trung gian tài chính. Các định chế tài chính nước ngoài có th
mang các k thut qun lý, các giáo trình đào to, công ngh, sn phm mi vào th trường
trong nước. Sc ép cnh tranh mà các định chế tài chính nước ngoài to ra buc các t
chc trong nước phi ci cách hot động hiu qu hơn, linh hot hơn vi chi phí thp hơn.
Nó cũng thúc đẩy s phát trin ca các t chc ph tr trên th trường như định mc tín
nhim, kế toán, kim toán, các đơn v chuyên thu thp và cung cp tin tc.
- Ngun vn đầu tư nước ngoài qua th trường chng khoán cũng yêu cu nn kinh tế
phát trin lành mnh, duy trì mt h thng chính sách tt, có kh năng kim soát d đoán
trước, minh bch, công bng. to tâm lý tin cy cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Vì
ngun vn này có tính d đột biến, nếu không to được tâm lý tin cy cho các nhà đầu tư,
rt d xy ra tình trng đào tháo vn là mt trong nguyên nhân gây nên khng hong.
III. KINH NGHIM THU HÚT VÀ QUN LÝ VN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI QUA TH TRƯỜNG CHNG KHOÁN MT S NƯỚC
TRONG K NGUYÊN TOÀN CU HOÁ CÁC NN KINH T HIN NAY,
NN KINH T CA MT QUC GIA NÓI CHUNG VÀ TH TRƯỜNG CHNG
KHOÁN NÓI RIÊNG KHÔNG TH TN TI NHƯ MT C ĐẢO RIÊNG BIT. S
THAM GIA, THÂM NHP CA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (BAO GM C
NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN VÀ NHÀ ĐẦU TƯ CÓ T CHC) VÀO TH TRƯỜNG
CHNG KHOÁN CA MT NƯỚC LÀ ĐIU ĐƯƠNG NHIÊN VÀ HIN NAY TRÊN
TH GII THM CHÍ ĐANG CÓ XU HƯỚNG NHT TH HOÁ TH TRƯỜNG
CHNG KHOÁN CA NHIU QUC GIA TRONG KHU VC.
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NGUN FPI HIN ĐANG ĐƯỢC CÁC NHÀ KINH T
VÀ HOCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CA CÁC NƯỚC S DNG LÀ MÔ HÌNH ĐẦU
TƯ- HAY MÔ HÌNH “KÉO”. CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LUÔN ĐÁNH GIÁ
CÁC CƠ HI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC, VÀ KHI H
THY RNG CƠ HI CA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIN TO RA LI TC
CAO HƠN THÌ H S QUYT ĐỊNH ĐẦU TƯ. YU T THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU
12 đầu tư lựa chọn đầu tư chứng khoán như là một hình thức hấp dẫn hơn gửi tiết kiệm ở ngân hàng, từ đó vốn cho nền kinh tế được tăng cường với mức chi phí thấp hơn và năng lực sản xuất theo đó cũng được phát triển. Đó là chưa kể các tác động khác khi Thị trường chứng khoán phát triển như: tăng cường tính minh bạch và khả năng quản trị của công ty, cung cấp các phương tiện bảo hiểm cho các tổ chức tài chính, giảm tính bất ổn định của ngoại hối… - Dòng vốn vượt qua biên giới này cũng đạt ra yêu cầu tạo điều kiện tăng cường chất lượng hoạt động của các trung gian tài chính. Các định chế tài chính nước ngoài có thể mang các kỹ thuật quản lý, các giáo trình đào tạo, công nghệ, sản phẩm mới vào thị trường trong nước. Sức ép cạnh tranh mà các định chế tài chính nước ngoài tạo ra buộc các tổ chức trong nước phải cải cách hoạt động hiệu quả hơn, linh hoạt hơn với chi phí thấp hơn. Nó cũng thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức phụ trợ trên thị trường như định mức tín nhiệm, kế toán, kiểm toán, các đơn vị chuyên thu thập và cung cấp tin tức. - Nguồn vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán cũng yêu cầu nền kinh tế phát triển lành mạnh, duy trì một hệ thống chính sách tốt, có khả năng kiểm soát dự đoán trước, minh bạch, công bằng. tạo tâm lý tin cậy cho nhà đầu tư trong và ngoài nước. Vì nguồn vốn này có tính dễ đột biến, nếu không tạo được tâm lý tin cậy cho các nhà đầu tư, rất dễ xảy ra tình trạng đào tháo vốn là một trong nguyên nhân gây nên khủng hoảng. III. KINH NGHIỆM THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN MỘT SỐ NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ CÁC NỀN KINH TẾ HIỆN NAY, NỀN KINH TẾ CỦA MỘT QUỐC GIA NÓI CHUNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NÓI RIÊNG KHÔNG THỂ TỒN TẠI NHƯ MỘT ỐC ĐẢO RIÊNG BIỆT. SỰ THAM GIA, THÂM NHẬP CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (BAO GỒM CẢ NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN VÀ NHÀ ĐẦU TƯ CÓ TỔ CHỨC) VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA MỘT NƯỚC LÀ ĐIỀU ĐƯƠNG NHIÊN VÀ HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI THẬM CHÍ ĐANG CÓ XU HƯỚNG NHẤT THỂ HOÁ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA NHIỀU QUỐC GIA TRONG KHU VỰC. MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NGUỒN FPI HIỆN ĐANG ĐƯỢC CÁC NHÀ KINH TẾ VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC SỬ DỤNG LÀ MÔ HÌNH ĐẦU TƯ- HAY MÔ HÌNH “KÉO”. CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LUÔN ĐÁNH GIÁ CÁC CƠ HỘI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC, VÀ KHI HỌ THẤY RẰNG CƠ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TẠO RA LỢI TỨC CAO HƠN THÌ HỌ SẼ QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ. YẾU TỐ THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU
13
TƯ LÀ CÁC YU T CƠ BN CA TH TRƯỜNG NƯỚC TIP NHN, HAY TRIN
VNG TĂNG TRƯỞNG CAO LÀ TIN ĐỀ VÀ DN TI ĐẦU TƯ VN. MUN THU
HÚT VÀ GI LI VN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÌ PHI TIN HÀNH CI CÁCH
NN KINH T NHM CI THIN CƠ CU, TĂNG KH NĂNG TĂNG TRƯỞNG
CAO, GIM CÁC RI RO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ. MT S BIN PHÁP
ĐỂ THC HIN CHÍNH SÁCH TRÊN NHƯ : T DO HOÁ TH TRƯỜNG, CI T
H THNG NGÂN HÀNG, TÀI CHÍNH, THU, QUN TR DOANH NGHIP,
KHUYN KHÍCH ĐẦU TƯ VÀ HI NHP KINH T, TƯ NHÂN HOÁ.
TRONG SUT MY THP K TRƯỚC KHI DIN RA CUC KHNG
HONG TÀI CHÍNH TIN T, CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á NH NHNG CHÍNH
SÁCH M CA, DUY TRÌ ĐƯỢC MC TĂNG TRƯỞNG CAO, ĐÃ TO RA ĐƯỢC
CÁC YU T “KÉO” ĐẦY HP DN, THU HÚT ĐƯỢC MT KHI LƯỢNG VN
KHNG L, GÓP PHN KHÔNG NH VÀO S PHÁT TRIN NHANH CHÓNG
CA CÁC NƯỚC NÀY.
TUY NHIÊN, FPI LÀ NGUN VN CÓ ĐỘ NHY CM CAO, TRONG GIAI
ĐON ĐẦU, ĐỂ ĐẢM BO TÍNH N ĐỊNH VÀ BN VNG CA TH TRƯỜNG,
TRÁNH ĐƯỢC NHNG TÁC ĐỘNG TIÊU CC T BÊN NGOÀI, HU HT CÁC
NƯỚC ĐỀU CÓ CHÍNH SÁCH QUN LÝ VÀ HN CH S THAM GIA CA NƯỚC
NGOÀI VÀO TH TRƯỜNG CHNG KHOÁN. SAU ĐÓ KHI TH TRƯỜNG PHÁT
TRIN, CÁC QUY ĐỊNH HN CH NÀY S ĐƯỢC DN NI LNG HOC BÃI
B.
DƯỚI ĐÂY LÀ KINH NGHIM CA INDONESISA VÀ HÀN QUC, NHNG
NƯỚC MÀ TH TRƯỜNG CHNG KHOÁN ĐÃ PHÁT TRIN TRƯỚC VIT NAM
ĐÃ TRI QUA CÁC ĐIU KIN KINH T GING VIT NAM NGÀY NAY.
1. Kinh nghi
m ca Indonesia
Indonesisa đã đạt được mc tăng tăng trưởng kinh tế cao trong giai đon 1970- 1997
trước khi khng hong bùng n, trong thi gian đó tăng trưởng GDP ca Indonesia trung
bình đạt 6,8% năm, tình trng nghèo đói gim và lm phát được gi mc va phi.
Trong giai đon phát trin ban đầu, Indonesia tp trung xây dng cơ s h tng ca
đất nước, đây là quá trình được đầu t
ư dài hn. Trong khi tiết kim trong nước còn ít,
ngun đầu tư được ly t các t chc quc tế đa phương, các chính ph nước ngoài và các
nhà cho vay tư nhân quc tế. Tăng trưởng nhanh trong hot động ca khu vc tư nhân cũng
làm tăng dòng vn đổ vào. Đầu tư vào khu vc tư nhân có thi gian đáo hn ngn hơn, dn
13 TƯ LÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG NƯỚC TIẾP NHẬN, HAY TRIỂN VỌNG TĂNG TRƯỞNG CAO LÀ TIỀN ĐỀ VÀ DẪN TỚI ĐẦU TƯ VỐN. MUỐN THU HÚT VÀ GIỮ LẠI VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÌ PHẢI TIẾN HÀNH CẢI CÁCH NỀN KINH TẾ NHẰM CẢI THIỆN CƠ CẤU, TĂNG KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG CAO, GIẢM CÁC RỦI RO TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRÊN NHƯ : TỰ DO HOÁ THỊ TRƯỜNG, CẢI TỔ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG, TÀI CHÍNH, THUẾ, QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ, TƯ NHÂN HOÁ. TRONG SUỐT MẤY THẬP KỶ TRƯỚC KHI DIỄN RA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ, CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á NHỜ NHỮNG CHÍNH SÁCH MỞ CỬA, DUY TRÌ ĐƯỢC MỨC TĂNG TRƯỞNG CAO, ĐÃ TẠO RA ĐƯỢC CÁC YẾU TỐ “KÉO” ĐẦY HẤP DẪN, THU HÚT ĐƯỢC MỘT KHỐI LƯỢNG VỐN KHỔNG LỒ, GÓP PHẦN KHÔNG NHỎ VÀO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH CHÓNG CỦA CÁC NƯỚC NÀY. TUY NHIÊN, FPI LÀ NGUỒN VỐN CÓ ĐỘ NHẠY CẢM CAO, TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU, ĐỂ ĐẢM BẢO TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ BỀN VỮNG CỦA THỊ TRƯỜNG, TRÁNH ĐƯỢC NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ BÊN NGOÀI, HẦU HẾT CÁC NƯỚC ĐỀU CÓ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ HẠN CHẾ SỰ THAM GIA CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. SAU ĐÓ KHI THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN, CÁC QUY ĐỊNH HẠN CHẾ NÀY SẼ ĐƯỢC DẦN NỚI LỎNG HOẶC BÃI BỎ. DƯỚI ĐÂY LÀ KINH NGHIỆM CỦA INDONESISA VÀ HÀN QUỐC, NHỮNG NƯỚC MÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐÃ PHÁT TRIỂN TRƯỚC VIỆT NAM VÀ ĐÃ TRẢI QUA CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ GIỐNG VIỆT NAM NGÀY NAY. 1. Kinh nghiệ m của Indonesia Indonesisa đã đạt được mức tăng tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn 1970- 1997 trước khi khủng hoảng bùng nổ, trong thời gian đó tăng trưởng GDP của Indonesia trung bình đạt 6,8% năm, tình trạng nghèo đói giảm và lạm phát được giữ ở mức vừa phải. Trong giai đoạn phát triển ban đầu, Indonesia tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng của đất nước, đây là quá trình được đầu t ư dài hạn. Trong khi tiết kiệm trong nước còn ít, nguồn đầu tư được lấy từ các tổ chức quốc tế đa phương, các chính phủ nước ngoài và các nhà cho vay tư nhân quốc tế. Tăng trưởng nhanh trong hoạt động của khu vực tư nhân cũng làm tăng dòng vốn đổ vào. Đầu tư vào khu vực tư nhân có thời gian đáo hạn ngắn hơn, dẫn
14
đến n ngn hn tăng nhanh,. S tăng vt ca các khon đầu tư ngn hn làm tăng ri ro
các dòng vn đổ vào, góp phn gây nên cuc khng hong 1997.
Vào khong thp k 70 và 80, hu hết dòng vn vào dưới hình thc ODA. T cui
nhng năm 80 đến nay, cơ cu dòng vn đã chuyn theo hướng t trng vn tư nhân ngày
càng tăng tương ng vi vai trò ngày càng tăng ca khu vc tư nhân trong nn kinh tế
Indonesia. Dòng vn đổ vào Indonesia đã tăng nhanh trong giai đon t 1990 đến 1996, do
xut hin nhng khon vay không chính thc trên cơ s ni lng xoá b nhng hn chế đối
vi các khon vay thương mi, được s dng công c swap và lãi sut trong nước tăng cao
so vi lãi xut bên ngoài. S dư các khon vay tư nhân đã thay đổi t
mc cho vay 0,1 t
USD năm 1989 sang mc đi vay 0,5 t USD năm 1990, và con s này tăng lên đến 2,6 t
USD vào năm 1996.
Đầu tư gián tiếp FPI tăng t 0,4 t USD trong 2 năm 1989 lên mc 2 t đô la năm
1990, nhưng sau đó gim xung 1 t USD trong hai năm 1991 và 1992. Đầu tư gián tiếp có
xu hương gia tăng nh nhng bin pháp chính sách khuyến khích ca chính ph đối vi th
trường vn và nh có lãi sut t
ăng lên. Trong giai đon đầu, đầu tư gián tiếp tăng lên vào
năm 1990 ch yếu là nh s điu chnh các văn bn pháp quy th trường vn. Sau năm
1992 dòng vn gián tiếp vào Indonesia không ngng tăng lên đạt mc ti đa vào cui năm
1996 trước khi đi xung vào năm 1997. Năm 1997, sau nhng biến động ln trên S giao
dch chng khoán Jakarta, dòng vn đầu tư gián tiếp đã suy gim hết sc nhanh chóng do
các nhà đầu tư nước ngoài đã bán tng bán tháo các tài sn ca mình.
Có th rút ra kinh nghim t cuc khng hong tài chính-tin t 1997 ca Indonesia,
cuc khng hong có mt nguyên nhân quan trng là do không qun lý được ngun vn
đầu tư gián tiếp FPI. Vic phân b ngun vn này kém hiu qu do s yếu kém ca h
thng giám sát các công ty niêm yết, qun tr công ty kém, các thông tin sai lch nh
hưở
ng đến quyết định ca các nhà đầu tư nước ngoài vào th trường chng khoán
Indonesia. Chính ph Indonesia li không duy trì được cơ cu hp lý các ngun vn, t
trng ngun vn vay ngn hn và ngun vn đầu tư vào th trường chng khoán FPI chiếm
t l cao trong tng ngun vn vào, đây là hai dòng vn có nguy cơ ri ro cao nht nên khi
khng hong xy ra đã dn đến tình tr
ng dào thoát nhanh chóng ca các ngun vn này.
Trong điu kin nn kinh tế Indonesia đã m ca tương đối thông thoáng và ngày càng ph
thuc vào bên ngoài, ngun vn nước ngoài chiếm t trng cao trong tng ngun vn đầu
tư, tác động ca cuc khng hong li càng trm trng hơn.
14 đến nợ ngắn hạn tăng nhanh,. Sự tăng vọt của các khoản đầu tư ngắn hạn làm tăng rủi ro các dòng vốn đổ vào, góp phần gây nên cuộc khủng hoảng 1997. Vào khoảng thập kỷ 70 và 80, hầu hết dòng vốn vào dưới hình thức ODA. Từ cuối những năm 80 đến nay, cơ cấu dòng vốn đã chuyển theo hướng tỷ trọng vốn tư nhân ngày càng tăng tương ứng với vai trò ngày càng tăng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế Indonesia. Dòng vốn đổ vào Indonesia đã tăng nhanh trong giai đoạn từ 1990 đến 1996, do xuất hiện những khoản vay không chính thức trên cơ sở nới lỏng xoá bỏ những hạn chế đối với các khoản vay thương mại, được sử dụng công cụ swap và lãi suất trong nước tăng cao so với lãi xuất bên ngoài. Số dư các khoản vay tư nhân đã thay đổi t ừ mức cho vay 0,1 tỷ USD năm 1989 sang mức đi vay 0,5 tỷ USD năm 1990, và con số này tăng lên đến 2,6 tỷ USD vào năm 1996. Đầu tư gián tiếp FPI tăng từ 0,4 tỷ USD trong 2 năm 1989 lên mức 2 tỷ đô la năm 1990, nhưng sau đó giảm xuống 1 tỷ USD trong hai năm 1991 và 1992. Đầu tư gián tiếp có xu hương gia tăng nhờ những biện pháp chính sách khuyến khích của chính phủ đối với thị trường vốn và nhờ có lãi suất t ăng lên. Trong giai đoạn đầu, đầu tư gián tiếp tăng lên vào năm 1990 chủ yếu là nhờ sự điều chỉnh các văn bản pháp quy thị trường vốn. Sau năm 1992 dòng vốn gián tiếp vào Indonesia không ngừng tăng lên đạt mức tối đa vào cuối năm 1996 trước khi đi xuống vào năm 1997. Năm 1997, sau những biến động lớn trên Sở giao dịch chứng khoán Jakarta, dòng vốn đầu tư gián tiếp đã suy giảm hết sức nhanh chóng do các nhà đầu tư nước ngoài đã bán tống bán tháo các tài sản của mình. Có thể rút ra kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997 của Indonesia, cuộc khủng hoảng có một nguyên nhân quan trọng là do không quản lý được nguồn vốn đầu tư gián tiếp FPI. Việc phân bổ nguồn vốn này kém hiệu quả do sự yếu kém của hệ thống giám sát các công ty niêm yết, quản trị công ty kém, các thông tin sai lệch ảnh hưở ng đến quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Indonesia. Chính phủ Indonesia lại không duy trì được cơ cấu hợp lý các nguồn vốn, tỷ trọng nguồn vốn vay ngắn hạn và nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán FPI chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn vào, đây là hai dòng vốn có nguy cơ rủi ro cao nhất nên khi khủng hoảng xảy ra đã dẫn đến tình tr ạng dào thoát nhanh chóng của các nguồn vốn này. Trong điều kiện nền kinh tế Indonesia đã mở cửa tương đối thông thoáng và ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài, nguồn vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn đầu tư, tác động của cuộc khủng hoảng lại càng trầm trọng hơn.
15
2. Kinh nghim ca Hàn Quc
Kinh nghim Hàn Quc cho thy, trong thi gian đầu ch cho phép người đầu tư
nước ngoài đầu tư gián tiếp thông qua các qu đầu tư, qu tín thác, sau đó mi cho phép
đầu tư trc tiếp nhưng dưới mt mc trn nht định. Mc trn này có th được nâng lên,
hoc bãi b tr đối vi mt s ngành kinh tế quan trng như bưu chính vin thông, đin
lc, hàng không...
Các quy định v qun lý đầu tư nước ngoài Hàn Quc được thay đổi gn lin vi
tiến trình phát trin ca th trường và thông qua nhng quyết sách ca Chính ph đối vi
nn kinh tế qua các giai đon phát trin kinh tế khác nhau:
- 1981: Chính ph cho phép đầu tư nước ngoài thông qua các qu.
- 1985: Chính ph cho phép phát hành trái phiếu chuyn đổi ra nước ngoài;
- 1990: Chính ph cho phép phát hành chng ch lưu ký ra nước ngoài;
- 1991: Chính ph cho phép các công ty chng khoán nước ngoài m chi nhánh ti
Hàn Quc và cho phép mt s công ty chng khoán nước ngoài tr thành thành viên ca
S giao dch Chng khoán Hàn Quc;
- 1992: Chính ph cho phép đầu tư trc tiếp nhưng vi mc trn là 10%, t l này
được nâng dn lên 55%;
1998: bãi b mc trn này (do Chính ph Hàn Quc mun tăng cường thu hút đầu
tư nước ngoài và do nh hưởng ca khng hong tài chính Châu á).
Mc trn đối vi cá nhân nước ngoài Hàn Quc tăng chm, t 3% lên 6%. Đối vi
t chc nước ngoài thì mc này tăng nhanh hơn t 10% lên 26%. Tuy nhiên trong thc tế,
gii hn trn đối vi tng cá nhân đầu tư nước ngoài có th b phá v trong trường hp các
qu đầu tư thông nhau.
3. Kinh nghim mt s nước khác
Đài Loan, lut pháp quy định nhà đầu tư là t
chc hoc cá nhân nước ngoài có
đủ năng lc để có th mua ti 15% tng s c phiếu đang lưu hành ca bt k mt công ty
niêm yết nào. Nhưng tng s vn c phn do các nhà đầu tư nước ngoài nm gi không
quá 30% vn c phn ca mt công ty.
Thái Lan, các cá nhân hoc t chc nước ngoài có th s hu tng cng không
quá 49% c phiếu ca mt công ty và 25% c phiếu ca mt t chc tài chính. Riêng vi
Trung Quc thì ch cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào mt loi c phiếu riêng bit
(c phiếu B) để d b qun lý.
Ngay ti M, không phi chng khoán ca công ty bt k nào cũng có th tham gia
vào bng định giá ca NYSE. Đối vi các công ty nước ngoài, điu kin còn cht ch hơn.
15 2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, trong thời gian đầu chỉ cho phép người đầu tư nước ngoài đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ đầu tư, quỹ tín thác, sau đó mới cho phép đầu tư trực tiếp nhưng dưới một mức trần nhất định. Mức trần này có thể được nâng lên, hoặc bãi bỏ trừ đối với một số ngành kinh tế quan trọng như bưu chính viễn thông, điện lực, hàng không... Các quy định về quản lý đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc được thay đổi gắn liền với tiến trình phát triển của thị trường và thông qua những quyết sách của Chính phủ đối với nền kinh tế qua các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau: - 1981: Chính phủ cho phép đầu tư nước ngoài thông qua các quỹ. - 1985: Chính phủ cho phép phát hành trái phiếu chuyển đổi ra nước ngoài; - 1990: Chính phủ cho phép phát hành chứng chỉ lưu ký ra nước ngoài; - 1991: Chính phủ cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài mở chi nhánh tại Hàn Quốc và cho phép một số công ty chứng khoán nước ngoài trở thành thành viên của Sở giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc; - 1992: Chính phủ cho phép đầu tư trực tiếp nhưng với mức trần là 10%, tỷ lệ này được nâng dần lên 55%; 1998: bãi bỏ mức trần này (do Chính phủ Hàn Quốc muốn tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu á). Mức trần đối với cá nhân nước ngoài ở Hàn Quốc tăng chậm, từ 3% lên 6%. Đối với tổ chức nước ngoài thì mức này tăng nhanh hơn từ 10% lên 26%. Tuy nhiên trong thực tế, giới hạn trần đối với từng cá nhân đầu tư nước ngoài có thể bị phá vỡ trong trường hợp các quỹ đầu tư thông nhau. 3. Kinh nghiệm một số nước khác ở Đài Loan, luật pháp quy định nhà đầu tư là t ổ chức hoặc cá nhân nước ngoài có đủ năng lực để có thể mua tới 15% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của bất kỳ một công ty niêm yết nào. Nhưng tổng số vốn cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ không quá 30% vốn cổ phần của một công ty. ở Thái Lan, các cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài có thể sở hữu tổng cộng không quá 49% cổ phiếu của một công ty và 25% cổ phiếu của một tổ chức tài chính. Riêng với Trung Quốc thì chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một loại cổ phiếu riêng biệt (cổ phiếu B) để dễ bề quản lý. Ngay tại Mỹ, không phải chứng khoán của công ty bất kỳ nào cũng có thể tham gia vào bảng định giá của NYSE. Đối với các công ty nước ngoài, điều kiện còn chặt chẽ hơn.
16
Các công ty này phi có mt s các ch tiêu v s lượng tin mt đáng k. Hơn na, ngoài
vic tr l phí bước đầu và các khon tin khác, công ty phi có nghĩa v cung cp bng
thông báo có đăng ký v tình hình tài chính 3 tháng mt ln, phi chp nhn vic không
được bán c phn nếu không được s cho phép ca th trường chng khoán New York,
duy trì đại lý chuyn giao để x lý các văn bn ca các c đông... Đây là nhng tiêu chun
căn bn mà nếu không đáp ng được, công ty có th b loi ra khi danh sách.
Riêng Lut chng khoán Thái Lan có quy định rt rng rãi vi phía nước ngoài.
Người nước ngoài có th s hu 49% vn ca mt Công ty, ngành ngân hàng, tài chính là
25%. Mt phn nào đó vì lý do này mà khi cuc khng hong tin t Châu á n ra, các nhà
đầu tư gián tiếp t rút vn khi th trường làm th trường chng khoán Thái Lan sp đổ,
càng làm cho tc độ khng hong nn kinh tế tăng cao.
Như vy, vic qun lý và hn chế s tham gia ca nước ngoài vào th trường chng
khoán trong giai đon đầu, đặc bit là đối vi các nước đang phát trin là hết sc cn thiết
nhm tránh kh năng thao túng và gây ri lon th trường trong khi kinh nghim qun lý,
cơ s vt cht k thut còn lc hu, mc dù nó s làm gim mc hp dn ca th trường đối
vi các nhà đầu tư nước ngoài.
16 Các công ty này phải có một số các chỉ tiêu về số lượng tiền mặt đáng kể. Hơn nữa, ngoài việc trả lệ phí bước đầu và các khoản tiền khác, công ty phải có nghĩa vụ cung cấp bảng thông báo có đăng ký về tình hình tài chính 3 tháng một lần, phải chấp nhận việc không được bán cổ phần nếu không được sự cho phép của thị trường chứng khoán New York, duy trì đại lý chuyển giao để xử lý các văn bản của các cổ đông... Đây là những tiêu chuẩn căn bản mà nếu không đáp ứng được, công ty có thể bị loại ra khỏi danh sách. Riêng Luật chứng khoán Thái Lan có quy định rất rộng rãi với phía nước ngoài. Người nước ngoài có thể sở hữu 49% vốn của một Công ty, ngành ngân hàng, tài chính là 25%. Một phần nào đó vì lý do này mà khi cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á nổ ra, các nhà đầu tư gián tiếp ồ ạt rút vốn khỏi thị trường làm thị trường chứng khoán Thái Lan sụp đổ, càng làm cho tốc độ khủng hoảng nền kinh tế tăng cao. Như vậy, việc quản lý và hạn chế sự tham gia của nước ngoài vào thị trường chứng khoán trong giai đoạn đầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển là hết sức cần thiết nhằm tránh khả năng thao túng và gây rối loạn thị trường trong khi kinh nghiệm quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, mặc dù nó sẽ làm giảm mức hấp dẫn của thị trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài.