Luận văn: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Vĩnh Long

8,470
65
72
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
NỘI DUNG BÁO CÁO
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN.
I. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG.
1. Khái niệm về tín dụng.
Tín dụng một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp
các sử dụng khác) , trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng một phạm trù kinh tế phản ánh sự chuyển nhượng quyền sử dụng
vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định và với một
khoản chi phí nhất định.
Các hình thức tín dụng:
- Tín dụng thương mại: tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các công ty,
xí nghiệp, tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng
hoá cho nhau. Tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ
vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời.
- Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các
tổ chức tín dụng, doanh nghiệp các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế.
- Tín dụng Nhà nước: Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với
các đơn vị và cá nhân trong xã hội, trong đó chủ yếu nhà nước đứng ra huy động vốn
của các tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để xử dụng vì mục đích và
lợi ích chung của toàn xã hội.
- Tín dụng Quốc tế: Đây quan hệ tín dụng giữa các Chính phủ, giữa các tổ
chức tiền tài chính tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ
giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 1 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 NỘI DUNG BÁO CÁO CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN. I. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG. 1. Khái niệm về tín dụng. Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các sử dụng khác) , trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định và với một khoản chi phí nhất định.  Các hình thức tín dụng: - Tín dụng thương mại: tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá cho nhau. Tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ vai trò là cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời. - Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế. - Tín dụng Nhà nước: Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các đơn vị và cá nhân trong xã hội, trong đó chủ yếu nhà nước đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để xử dụng vì mục đích và lợi ích chung của toàn xã hội. - Tín dụng Quốc tế: Đây là quan hệ tín dụng giữa các Chính phủ, giữa các tổ chức tiền tài chính tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 1 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
2. Tín dụng ngân hàng
2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các xí nghiệp, tổ
chức tín dụng, các thành phần kinh tế các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình
thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các xí nghiệp, tổ
chức kinh tế, tổ chức và cá nhân.
2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng.
- Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền sở hữu vốn.
- Quá trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn này được xác định
dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ tín dụng.
- Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín
dụng.
2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng.
2.3.1 Căn cứ vào yếu tố thời hạn tín dụng.
Gồm có 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn.
- Tín dụng trung hạn.
- Tín dụng dài hạn.
2.3.2 Căn cứ vào yếu tố đối tượng thực hiện vốn tín dụng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng vốn lưu động.
- Tín dụng vốn cố định.
2.3.3 Căn cứ vào yếu tố mục đích sử dụng.
- Tín dụng phục vụ sản xuất lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng.
Căn cứ váo hình thức cấp tín dụng, tín dụng tiêu dùng có 2 loại:
+ Hình thức cấp tín dụng bằng tiền.
+ Hình thức cấp tín dụng bằng hàng hóa.
- Cho vay mua bán bất động sản.
- Cho vay sản xuất nông nghiệp.
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu,…
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 2 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 2. Tín dụng ngân hàng 2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức tín dụng, các thành phần kinh tế các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức và cá nhân. 2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng. - Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền sở hữu vốn. - Quá trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn này được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ tín dụng. - Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng. 2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng. 2.3.1 Căn cứ vào yếu tố thời hạn tín dụng. Gồm có 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn. - Tín dụng trung hạn. - Tín dụng dài hạn. 2.3.2 Căn cứ vào yếu tố đối tượng thực hiện vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Tín dụng vốn lưu động. - Tín dụng vốn cố định. 2.3.3 Căn cứ vào yếu tố mục đích sử dụng. - Tín dụng phục vụ sản xuất lưu thông hàng hóa. - Tín dụng tiêu dùng. Căn cứ váo hình thức cấp tín dụng, tín dụng tiêu dùng có 2 loại: + Hình thức cấp tín dụng bằng tiền. + Hình thức cấp tín dụng bằng hàng hóa. - Cho vay mua bán bất động sản. - Cho vay sản xuất nông nghiệp. - Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu,… GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 2 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
2.3.4 Căn cứ vào tính chất đảm bảo tín dụng.
- Tín dụng không có đảm bảo trực tiếp ( còn gọi là tín dụng tín chấp).
- Tín dụng có đảm bảo trực tiếp.
2.3.5 Dựa vào phương thức cho vay.
- Cho vay theo món.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi.
2.3.6 Dựa vào phương thức hòan trả nợ vay.
- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần
khi đáo hạn.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả
năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế.
3.1 Tín dụng là công cụ thực hiện tích tụ, tập trung vốn và tài trợ vốn cho
các ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn
trong nước và ngoài nước. Tín dụng khai thác các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội, các
quỹ tiền tệ đang tồn động trong lưu thông đưa nhanh vào phục vụ cho sản xuất tiêu
dùng xã hội, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất
kinh doanh không bị gián đoạn.
Phát triển là giải pháp để tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường, do đó các
doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, vì vậy nhu cầu về
vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Bởi lẽ trên thực tế quá trình tích tụ vốn không bao
giờ tăng kịp so với tốc độ mở rộng quy sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tận dụng các dòng chảy của vốn trong hội để thực hiện quá trình tập
trung vốn. Tín dụng với tư cách tập trung và phân phối lại vốn, sẽ là trung tâm đáp ứng
nhu cầu về vốn cho xã hội, tạo nên một động lực lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển. Phân phối qua kênh tín dụng là phương thức phân phối vốn có hoàn trả và có lợi
ích kinh tế cho nên tín dụng góp phần thực hiện bình quân hóa lợi nhuận, giúp các
doanh nghiệp đầu vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, kích thích khả năng
cạnh tranh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 3 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 2.3.4 Căn cứ vào tính chất đảm bảo tín dụng. - Tín dụng không có đảm bảo trực tiếp ( còn gọi là tín dụng tín chấp). - Tín dụng có đảm bảo trực tiếp. 2.3.5 Dựa vào phương thức cho vay. - Cho vay theo món. - Cho vay theo hạn mức tín dụng. - Cho vay theo hạn mức thấu chi. 2.3.6 Dựa vào phương thức hòan trả nợ vay. - Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào. 3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế. 3.1 Tín dụng là công cụ thực hiện tích tụ, tập trung vốn và tài trợ vốn cho các ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và ngoài nước. Tín dụng khai thác các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội, các quỹ tiền tệ đang tồn động trong lưu thông đưa nhanh vào phục vụ cho sản xuất tiêu dùng xã hội, góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Phát triển là giải pháp để tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường, do đó các doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, vì vậy nhu cầu về vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Bởi lẽ trên thực tế quá trình tích tụ vốn không bao giờ tăng kịp so với tốc độ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tận dụng các dòng chảy của vốn trong xã hội để thực hiện quá trình tập trung vốn. Tín dụng với tư cách tập trung và phân phối lại vốn, sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu về vốn cho xã hội, tạo nên một động lực lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Phân phối qua kênh tín dụng là phương thức phân phối vốn có hoàn trả và có lợi ích kinh tế cho nên tín dụng góp phần thực hiện bình quân hóa lợi nhuận, giúp các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, kích thích khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 3 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
Như vậy, tín dụng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn,
nhanh chóng mở rộng đầu tư sản xuất, vừa góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tập trung
và tích lũy vốn cho nền kinh tế.
Tín dụng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, các ngành
kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Sự phát triển đồng
đều của các ngành kinh tế, trong đó có các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển mạnh,
tạo động lực lôi cuốn các ngành kinh tế khác. Từ đó, sẽ tạo ra tác động lan truyền
hứơng đến việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
ổn định và bền vững.
3.2 Tín dụngcông cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cảkiềm
chế kiểm soát lạm phát.
Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn cho vay, thực hiện
nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ
luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Luợng tiền tồn đọng trong lưu thông giảm
xuống nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu luân chuyển hàng hóa bình thừơng, thiết lập
mối quan hệ cân đối tiền – hàng làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn, nhà
nước có thể thu hút được một lượng tiền mặt dư thừa trong lưu thông vừa không phải
phát hành tiền thêm mà tình trạng thiếu tiền mặt cục bộ được giải quyết. Tín dụng
một biện pháp quan trọng được nhà nước sử dụng trong giai đoạn nền kinh tế rơi vào
tình trạng suy thoái, khủng hoảng, việc mở rộng quan hệ tín dụng nhà nước với các
nước và các tổ chức tiền tệ quốc tế sẽ làm tăng các nguồn tài chính, điều chỉnh cán cân
thanh toán, góp phần giúp cho doanh nghiệp cá thể can thiệp hữu hiệu vào thị trường,
ổn định tình hình tài chính tiền tệ quốc gia. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ tín dụng
làm gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, làm gia tăng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho
thị trường, tạo cơ sở vững chắc cho sự ổn định giá cả hàng hóa. Như vậy, hoạt động tín
dụng đã từng bước củng cố và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, từ đó ổn định
lưu thông tiền tệ và sức mua đồng tiền.
Bên cạnh đó, hoạt động của tín dụng tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán
không dùng tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực tiết giảm lượng tiền mặt
trong lưu thông, giúp cho nhà nước quản lý và điều hành hữu hiệu chính sách tiền tệ.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 4 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 Như vậy, tín dụng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn, nhanh chóng mở rộng đầu tư sản xuất, vừa góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế. Tín dụng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Sự phát triển đồng đều của các ngành kinh tế, trong đó có các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển mạnh, tạo động lực lôi cuốn các ngành kinh tế khác. Từ đó, sẽ tạo ra tác động lan truyền hứơng đến việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. 3.2 Tín dụng là công cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế kiểm soát lạm phát. Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Luợng tiền tồn đọng trong lưu thông giảm xuống nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu luân chuyển hàng hóa bình thừơng, thiết lập mối quan hệ cân đối tiền – hàng làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn, nhà nước có thể thu hút được một lượng tiền mặt dư thừa trong lưu thông vừa không phải phát hành tiền thêm mà tình trạng thiếu tiền mặt cục bộ được giải quyết. Tín dụng là một biện pháp quan trọng được nhà nước sử dụng trong giai đoạn nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng, việc mở rộng quan hệ tín dụng nhà nước với các nước và các tổ chức tiền tệ quốc tế sẽ làm tăng các nguồn tài chính, điều chỉnh cán cân thanh toán, góp phần giúp cho doanh nghiệp cá thể can thiệp hữu hiệu vào thị trường, ổn định tình hình tài chính tiền tệ quốc gia. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ tín dụng làm gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, làm gia tăng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường, tạo cơ sở vững chắc cho sự ổn định giá cả hàng hóa. Như vậy, hoạt động tín dụng đã từng bước củng cố và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, từ đó ổn định lưu thông tiền tệ và sức mua đồng tiền. Bên cạnh đó, hoạt động của tín dụng tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là một trong những nhân tố tích cực tiết giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giúp cho nhà nước quản lý và điều hành hữu hiệu chính sách tiền tệ. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 4 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
3.3 Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định
trật tự xã hội.
Vai trò này của tín dụng được coi hệ quả tất yếu của hai vai trò trên. Nền
kinh tế trong một môi trường ổn định về tiền tệ và giá cả, sẽ là điều kiện cơ bản nâng
cao dần đời sống của các tầng lớp dân tronghội. Hoạt động tín dụng còn đáp
ứng nhu cầu nâng cao đời sống xã hội của dân cư. Đặc biệt đối với loại hình tín dụng
tiêu dùng, những nhà sản xuất kinh hoặc các tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới hình
thức hàng hóa, tiêu dùng như mua sắm nhà cửa , các tư liệu sinh hoạt…đáp ứng nhu
cầu trong cuộc sống, sinh hoạt ngày càng cao của người dân, khi mà họ chưa đủ
điều kiện về thu nhập. Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, Nhà nước còn vận dụng quan
hệ tín dụng Nhà nước như là công cụ tài chính để thực hiện vai trò quản lý điều tiết vĩ
mô nền kinh tếhội. Điều này, được thể hiện các chương trình hỗ trợ tài chính của
Nhà nước như: chương trình cho vay xóa đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm,
… .Trong thời gian qua, các chương trình này đã mang lại hiệu quả rất lớn, đời sống
của người nghèo từng bước được cải thiện, một số vấn đề xã hội phát sinh trong cơ chế
kinh tế thị trường được giải quyết tốt. Như vậy, tín dụng đã góp phần quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ
thất nghiệp và từ đó từng bước ổn định trật tự chính trị xã hội.
3.4 Tín dụng là một trong những phương tiện kết nối nền kinh tế quốc gia
với nền kinh tế của cộng đồng thế giới, góp phần phát triển mối quan hệ đối
ngoại.
Trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, sự vận động của vốn tín dụng quốc tế
phản ánh sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác. Biểu hiện các mối
quan hệ trong hoạt động tín dụngđây là giữa chính phủ của các nước, giữa Chính
phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới giữa các tổ chức kinh tế với nhau.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế
giới, các nước thực hiện chính sách mở thì tín dụng trở nên cần thiết. Tín dụng quốc tế
tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia thực hiện nhanh
hơn, góp phần làm cho các nứơc chậm phát triển trong thời gian ngắn có thể có được
một nền sản xuất với kỹ nghệ cao mà các nước phát triển trước đây phải mất hàng trăm
năm mới có được.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 5 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 3.3 Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Vai trò này của tín dụng được coi là hệ quả tất yếu của hai vai trò trên. Nền kinh tế trong một môi trường ổn định về tiền tệ và giá cả, sẽ là điều kiện cơ bản nâng cao dần đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Hoạt động tín dụng còn đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống xã hội của dân cư. Đặc biệt đối với loại hình tín dụng tiêu dùng, những nhà sản xuất kinh hoặc các tổ chức tín dụng cấp tín dụng dưới hình thức hàng hóa, tiêu dùng như mua sắm nhà cửa , các tư liệu sinh hoạt…đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống, sinh hoạt ngày càng cao của người dân, khi mà họ chưa có đủ điều kiện về thu nhập. Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, Nhà nước còn vận dụng quan hệ tín dụng Nhà nước như là công cụ tài chính để thực hiện vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội. Điều này, được thể hiện các chương trình hỗ trợ tài chính của Nhà nước như: chương trình cho vay xóa đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm, … .Trong thời gian qua, các chương trình này đã mang lại hiệu quả rất lớn, đời sống của người nghèo từng bước được cải thiện, một số vấn đề xã hội phát sinh trong cơ chế kinh tế thị trường được giải quyết tốt. Như vậy, tín dụng đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và từ đó từng bước ổn định trật tự chính trị xã hội. 3.4 Tín dụng là một trong những phương tiện kết nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế của cộng đồng thế giới, góp phần phát triển mối quan hệ đối ngoại. Trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, sự vận động của vốn tín dụng quốc tế phản ánh sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác. Biểu hiện các mối quan hệ trong hoạt động tín dụng ở đây là giữa chính phủ của các nước, giữa Chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới và giữa các tổ chức kinh tế với nhau. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, các nước thực hiện chính sách mở thì tín dụng trở nên cần thiết. Tín dụng quốc tế tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia thực hiện nhanh hơn, góp phần làm cho các nứơc chậm phát triển trong thời gian ngắn có thể có được một nền sản xuất với kỹ nghệ cao mà các nước phát triển trước đây phải mất hàng trăm năm mới có được. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 5 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN.
1. Khái niệm tín dụng trung – dài hạn.
a. Khái niệm tín dụng trung hạn.
Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm. Loại tín
dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ
thuật, mở rộng xây dụng các công trình quy nhỏ thời gian thu hồi vốn
nhanh.
b. Khái niệm tín dụng dài hạn.
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn được
sử dụng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn,
kỹ thuật và công nghệ hiện đại có thời gian hoàn vốn dài.
2. Sự cần thiết và ý nghĩa của tín dụng trung dài hạn.
a. Sự cần thiết của tín dụng trung dài hạn.
Tín dụng trung, dài hạn nhằm thỏa mãn các nhu cầu về mua sắm máy móc thiết
bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của một doanh nghiệp và một phần vốn lưu động
tối thiểu của một doanh nghiệp.
Trong một nền kinh tế, nhu cầu tín dụng trung - dài hạn thường xuyên phát sinh
do các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công
nghệ, đổi mới phương tiện vận chuyển, kỹ thuật, tin học,…
Đặc biệt đối với nền kinh tế của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn xây dựng cơ
bản rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích lũy được nhiều, chưa có thời gian
để tích lũy vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn rất
hạn chế. Do vậy đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp mới chủ yếu là dựa vào vốn tự
có của các nhà kinh doanh và biện pháp chủ yếu còn lại phải nhờ vào sự tài trợ của hệ
thống ngân hàng.
Tín dụng trung dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp yêu thích hơn vì phù
hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp.thể nói rằng, tín dụng trung - dài
hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thỏa mãn các cơ hội kinh
doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp cần phải mở rộng sản xuất, gia tăng
lượng sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường, khi hội sản xuất không còn vốn được
hoàn trả ngân hàng cho vay. Đómột ưu thế của vốn trung - dài hạn. Nó linh hoạt
hơn các hình thức huy động vốn dài hạn khác như: trái phiếu, cổ phiếu. Hơn nữa việc
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 6 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN. 1. Khái niệm tín dụng trung – dài hạn. a. Khái niệm tín dụng trung hạn. Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dụng các công trình có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. b. Khái niệm tín dụng dài hạn. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn được sử dụng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại có thời gian hoàn vốn dài. 2. Sự cần thiết và ý nghĩa của tín dụng trung dài hạn. a. Sự cần thiết của tín dụng trung dài hạn. Tín dụng trung, dài hạn nhằm thỏa mãn các nhu cầu về mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của một doanh nghiệp và một phần vốn lưu động tối thiểu của một doanh nghiệp. Trong một nền kinh tế, nhu cầu tín dụng trung - dài hạn thường xuyên phát sinh do các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi mới phương tiện vận chuyển, kỹ thuật, tin học,… Đặc biệt đối với nền kinh tế của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn xây dựng cơ bản rất lớn, trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích lũy được nhiều, chưa có thời gian để tích lũy vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Do vậy đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp mới chủ yếu là dựa vào vốn tự có của các nhà kinh doanh và biện pháp chủ yếu còn lại phải nhờ vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng. Tín dụng trung dài hạn ngày càng được các doanh nghiệp yêu thích hơn vì phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp. Có thể nói rằng, tín dụng trung - dài hạn là người trợ thủ đắc lực của các doanh nghiệp trong việc thỏa mãn các cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh các doanh nghiệp cần phải mở rộng sản xuất, gia tăng lượng sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường, khi cơ hội sản xuất không còn vốn được hoàn trả ngân hàng cho vay. Đó là một ưu thế của vốn trung - dài hạn. Nó linh hoạt hơn các hình thức huy động vốn dài hạn khác như: trái phiếu, cổ phiếu. Hơn nữa việc GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 6 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
vay vốn trung, dài hạn tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng
chứng khoán,…
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn chi đầu tư xây dựng công
trình sản xuất kinh doanh mới, hiện đại hóa các công nghệ sản xuất, mở rộng các
ngành sản xuất đang có,… đòi hỏi có một nhu cầu rất lớn. Nhu cầu vốn này vốn này
đựơc thỏa mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp phát, vay nước ngoàimột phần
như huy động từ dân cư. Nhưng cho là nguồn vốn xuất phát từ đâu thì việc cung
cấp tín dụng thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại dưới hình thức cho vay
trung - dài hạn rất quan trọng và khả thi. Thông qua tín dụng trung - dài hạn góp
phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, khuyến khích các ngành, các thành phần kinh
tế tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, làm ra ngày
càng nhiều sản phẩm cho xã hội.
b. Ý nghĩa của tín dụng trung – dài hạn.
- Trước hết , tín dụng trung – dài hạn loại đầu tư có hoàn trả trực tiếp, nó
thúc đẩy việc sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả.
- Đầu tư qua tín dụng ngân hàng là hình thức đấu tư linh họat có thể xâm nhập
vào nhiều ngành nghề với những quy lớn, vừa và nhỏ, do vậycho phép thỏa
mãn nhiều nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị, thay đổi dây chuyền
công nghệ,…
- Đầu tư qua tín dụng là đầu tư bằng nguồn vốn tiết kiệm và tích lũy trong xã
hội, vì vậy nó cho phép khai thác và sử dụng triệt để các nguồn vốn trong xã hội để
tận dụngkhai thác các tiềm năng về lao động , đất đai, tài nguyên thiên nhiên để
phát triển và mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh.
Sự cần thiết và ý nghĩa của tín dụng đầu tư là rất to lớn do đó việc mở rộng tín
dụng đầu tư không những là đòi hỏi khách quan mà còn rất bức bách trong điều kiện
hiện nay ở Việt Nam.
3. Các loại tín dụng trung dài hạn.
Tín dụng trung- dài hạn là một nghiệp vụ đang được tồn tại cùng với nghiệp vụ
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngày nay, trong điều kiện hoạt động của
nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, do đó nghiệp vụ tín
dụng trung – dài hạn đòi hỏi phát triển theo góp phần quan trọng trong việc đổi mới
hiện đại hóa trang thiết bị và công nghệ sản xuất cho các ngành kinh tế của mọi thành
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 7 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 vay vốn trung, dài hạn tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán,… Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn chi đầu tư xây dựng công trình sản xuất kinh doanh mới, hiện đại hóa các công nghệ sản xuất, mở rộng các ngành sản xuất đang có,… đòi hỏi có một nhu cầu rất lớn. Nhu cầu vốn này vốn này đựơc thỏa mãn một phần bằng vốn ngân sách cấp phát, vay nước ngoài và một phần như huy động từ dân cư. Nhưng cho dù là nguồn vốn xuất phát từ đâu thì việc cung cấp tín dụng thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại dưới hình thức cho vay trung - dài hạn là rất quan trọng và khả thi. Thông qua tín dụng trung - dài hạn góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, khuyến khích các ngành, các thành phần kinh tế tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, làm ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội. b. Ý nghĩa của tín dụng trung – dài hạn. - Trước hết , tín dụng trung – dài hạn là loại đầu tư có hoàn trả trực tiếp, nó thúc đẩy việc sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả. - Đầu tư qua tín dụng ngân hàng là hình thức đấu tư linh họat có thể xâm nhập vào nhiều ngành nghề với những quy mô lớn, vừa và nhỏ, do vậy nó cho phép thỏa mãn nhiều nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị, thay đổi dây chuyền công nghệ,… - Đầu tư qua tín dụng là đầu tư bằng nguồn vốn tiết kiệm và tích lũy trong xã hội, vì vậy nó cho phép khai thác và sử dụng triệt để các nguồn vốn trong xã hội để tận dụng và khai thác các tiềm năng về lao động , đất đai, tài nguyên thiên nhiên để phát triển và mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh. Sự cần thiết và ý nghĩa của tín dụng đầu tư là rất to lớn do đó việc mở rộng tín dụng đầu tư không những là đòi hỏi khách quan mà còn rất bức bách trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam. 3. Các loại tín dụng trung dài hạn. Tín dụng trung- dài hạn là một nghiệp vụ đang được tồn tại cùng với nghiệp vụ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngày nay, trong điều kiện hoạt động của nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, do đó nghiệp vụ tín dụng trung – dài hạn đòi hỏi phát triển theo góp phần quan trọng trong việc đổi mới hiện đại hóa trang thiết bị và công nghệ sản xuất cho các ngành kinh tế của mọi thành GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 7 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
phần kinh tế. Nghiệp vụ tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng trong những năm
gần đây đã triển khai theo các hình thức sau:
a. Cho vay theo dự án
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét khẳng định tính
hiệu quả, tính khả thi của dự án đó. Các hình thức cho vay theo dự án gồm:
- Tín dụng hợp vốn (Cho vay đồng tài trợ).
- Tín dụng trực tiếp.
b.Tín dụng tuần hoàn.
Tín dụng tuần hoàn được coi tín dụng trung- dài hạn khi thời hạn của hợp
đồng được kéo dài từ một đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ
khi có nguồn, trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực.
c. Tín dụng thuê mua.
Tín dụng thuê mua một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng chuyên môn theo
hợp đồng. Tài sản thuê bao gồm động sản và bất động sản như nhà cửa, máy móc, thiết
bị văn phòng,…
d. Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Đây cũng là nghiệp vụ sinh lời của NHTM,
trong nghiệp vụ này Ngân hàng đầu vào 2 loại chứng khoán chứng khoán Nhà
nước và chứng khoán công ty.
4. Các nguồn vốn hình thành nên nguồn cho vay trung dài hạn.
Để có thể đáp ứng nhu cầu vay đầu tư trung và dài hạn của nền kimh tế, các NHTM
quốc doanh, thương mại cổ phần, các ngân hàng liên doanh cần có kế hoạch về nguồn
vốn cho vay trung và dài hạn, các nguồn vốn này gồm:
- Ngồn vốn huy động có kỳ hạn ổn định từ 1 năm trở lên.
- Vốn vay trong nước thông qua việc phát hành trái phiếu ngân hàng.
- Vốn vay ngân hàng nước ngoài.
- Một phần vốn tự có và quỹ dự trữ của ngân hàng.
- Vốn tài trợ ủy thác của Nhà nước và các tổ chức quốc tế.
- Một phần nguồn vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay trung, dài hạn
theo tỷ lệ cho phép.
5. Nguyên tắc cho vay trung dài hạn.
- Tín dụng đầu phải bám sát phương hướng mục tiêu của kế hoạch Nhà
nước và có hiệu quả.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 8 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 phần kinh tế. Nghiệp vụ tín dụng trung – dài hạn của các ngân hàng trong những năm gần đây đã triển khai theo các hình thức sau: a. Cho vay theo dự án Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó. Các hình thức cho vay theo dự án gồm: - Tín dụng hợp vốn (Cho vay đồng tài trợ). - Tín dụng trực tiếp. b.Tín dụng tuần hoàn. Tín dụng tuần hoàn được coi là tín dụng trung- dài hạn khi thời hạn của hợp đồng được kéo dài từ một đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ khi có nguồn, trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực. c. Tín dụng thuê mua. Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng chuyên môn theo hợp đồng. Tài sản thuê bao gồm động sản và bất động sản như nhà cửa, máy móc, thiết bị văn phòng,… d. Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Đây cũng là nghiệp vụ sinh lời của NHTM, trong nghiệp vụ này Ngân hàng đầu tư vào 2 loại chứng khoán là chứng khoán Nhà nước và chứng khoán công ty. 4. Các nguồn vốn hình thành nên nguồn cho vay trung dài hạn. Để có thể đáp ứng nhu cầu vay đầu tư trung và dài hạn của nền kimh tế, các NHTM quốc doanh, thương mại cổ phần, các ngân hàng liên doanh cần có kế hoạch về nguồn vốn cho vay trung và dài hạn, các nguồn vốn này gồm: - Ngồn vốn huy động có kỳ hạn ổn định từ 1 năm trở lên. - Vốn vay trong nước thông qua việc phát hành trái phiếu ngân hàng. - Vốn vay ngân hàng nước ngoài. - Một phần vốn tự có và quỹ dự trữ của ngân hàng. - Vốn tài trợ ủy thác của Nhà nước và các tổ chức quốc tế. - Một phần nguồn vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay trung, dài hạn theo tỷ lệ cho phép. 5. Nguyên tắc cho vay trung dài hạn. - Tín dụng đầu tư phải bám sát phương hướng mục tiêu của kế hoạch Nhà nước và có hiệu quả. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 8 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn.
- Tránh rủi ro, đảm bảo khả năng thanh toán.
6. Hồ sơ thủ tục, điều kiện và thời gian cho vay tín dụng trung và dài hạn.
6.1 Hồ sơ vay vốn.
- Hồ sơ cho vay.
- Giấy đề nghị vay vốn ( theo mẫu của ngân hàng).
- Sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép kinh doanh.
- Dự án/ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
- Hợp đồng tín dụng.
6.2 Điều kiện cho vay trung dài hạn.
Tín dụng trung dài hạn thực hiện đối với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế (bên
vay) phải có đủ các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ.
- Có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ đầy đủ đúng hạn.
- Mục đích sử dụng vốn phù hợp với mục tiêu đầu tư và hợp pháp.
- Dự án đầu tư là dự án có tính khả thi, tính toán được hiệu quả trực tiếp.
- Thực hiện đúng các quy định về đảm bảo tiền vay như thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh của bên thứ ba hoặc được tín chấp theo quy định của Chính phủ.
6.3 Thời gian cho vay tín dụng trung - dài hạn.
Là thời gian kể từ ngày phát sinh khoản vay đầu tiên để thực hiện việc thi công
công trình, dự án đầu tư trải qua giai đoạn thi công, công trình hoàn thành đưa vào sử
dụng cho đến khi bên vay trả hết nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Ở Việt Nam, cho vay trung hạn tối đa là 5 năm, thời hạn cho vay dài hạn không
giới hạn nhưng sẽ không vượt quá thời hạn khai thác sử dụng công trình.
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 9 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 - Sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả. - Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn. - Tránh rủi ro, đảm bảo khả năng thanh toán. 6. Hồ sơ thủ tục, điều kiện và thời gian cho vay tín dụng trung và dài hạn. 6.1 Hồ sơ vay vốn. - Hồ sơ cho vay. - Giấy đề nghị vay vốn ( theo mẫu của ngân hàng). - Sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân. - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép kinh doanh. - Dự án/ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ. - Hợp đồng tín dụng. 6.2 Điều kiện cho vay trung dài hạn. Tín dụng trung dài hạn thực hiện đối với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế (bên vay) phải có đủ các điều kiện sau: - Có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ. - Có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ đầy đủ đúng hạn. - Mục đích sử dụng vốn phù hợp với mục tiêu đầu tư và hợp pháp. - Dự án đầu tư là dự án có tính khả thi, tính toán được hiệu quả trực tiếp. - Thực hiện đúng các quy định về đảm bảo tiền vay như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc được tín chấp theo quy định của Chính phủ. 6.3 Thời gian cho vay tín dụng trung - dài hạn. Là thời gian kể từ ngày phát sinh khoản vay đầu tiên để thực hiện việc thi công công trình, dự án đầu tư trải qua giai đoạn thi công, công trình hoàn thành đưa vào sử dụng cho đến khi bên vay trả hết nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Ở Việt Nam, cho vay trung hạn tối đa là 5 năm, thời hạn cho vay dài hạn không giới hạn nhưng sẽ không vượt quá thời hạn khai thác sử dụng công trình. GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 9 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN TẠI NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH VĨNH LONG.
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG.
I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH VĨNH LONG.
TP Vĩnh Long nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng giữa
sông Tiền sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 136 km với tọa độ địa từ
9
o
52
45
đến 10
o
19
50
vĩ độ Bắc và từ 104
o
41
25
đến 106
0
17
00
kinh độ Đông. Vị trí
giáp giới như sau:
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.
- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng.
- Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh.
- Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.
Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn
trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ
Thành phố Hồ Chí Minh. Chính nơi đây vừa trungm kinh tế - khoa học kỹ
thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa thị trường lớn sẽ tác động mạnh mẽ đến sự
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân
bố sử dụng đất đai. Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học
công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu
Công nghiệp Trà Nóc...) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong
những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai.
Với vị trí địa như trên trong tương lai Vĩnh Long nơi hội tụ giao lưu
giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp
mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu
trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam
sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của
TPHCM và các khu công nghiệp miền Đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông
sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiềnn TPHCM hàng công nghiệp tiêu dùng từ
TPHCM về các tỉnh miền tây. Mặt khác, đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch
xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn. Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ
phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã
nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển KTXH theo các hướng trục giao thông thủy
GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 10 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp K30 – Tài chính tín dụng 1 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH VĨNH LONG. A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG. I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH VĨNH LONG. TP Vĩnh Long nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng giữa sông Tiền và sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 136 km với tọa độ địa lý từ 9 o 52 ’ 45 ” đến 10 o 19 ’ 50 ” vĩ độ Bắc và từ 104 o 41 ’ 25 ” đến 106 0 17 ’ 00 ” kinh độ Đông. Vị trí giáp giới như sau: - Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre. - Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. - Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh. - Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai. Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Nóc...) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai. Với vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TPHCM và các khu công nghiệp miền Đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TPHCM và hàng công nghiệp tiêu dùng từ TPHCM về các tỉnh miền tây. Mặt khác, đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn. Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển KTXH theo các hướng trục giao thông thủy GVHD: Th.S Trương Thị Nhi Trang 10 HSTH: Lý Đặng Minh Hoàng