Luận văn đề tài: Quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945

1,790
18
96
người lao động lao lực, kiệt quệ vì đói rét, bệnh tật, tối tăm vì thất học, chiếm đa số mà
“chẳng thể đóng góp vào việc tạo tác những công trình văn hóa, cũng chẳng được thâu
thái, chẳng thâu thái nổi ảnh ởng của những công trình văn hóa” [33, tr.127].
ràng, trên nền tảng của kinh tế phụ thuộc, văn hóa dân tộc là “văn hóa nô dịch, văn hóa
ngu dân và phỉnh dân”. Khi Nhật vào Đông Dương cùng với Pháp làm tan rã nền kinh
tế ấy thì” Cây văn hóa vốn cằn cỗi lại càng khô héo hơn, tàn lụi bởi màu đất chẳng
còn” [33, tr.128]. Về chính trị, chính quyền thực dân thi hành chính sách đàn áp, độc
đoán, mất dân chủ. “Một nước nền kinh tế đã phụ thuộc vào người và mất chủ
quyền chính trị thì khỏi sao văn hóa nhiễm tính chất dịch phụ thuộc” [33,
tr.130]. Từ đó, tác giả đi đến kết luận: để cho văn hóa được phát triển thuận lợi thì điều
quan trọng là phải thoát khỏi ách thuộc địa, thực hiện nền độc lập dân tộc để có thể tổ
chức kinh tế, chính trị theo xu hướng tiến bộ của thế giới. Nhấn mạnh mối quan hệ
giữa văn hóa với kinh tế và chính trị ở phương diện trên nhưng cả trong tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đề cương văn hóa đều không đơn giản xem văn hóa đơn thuần chỉ là sự
phản ánh và phụ thuộc vào kinh tế, chính trị. Văn hóa là bộ phận của kiến trúc thượng
tầng nên tính độc lập tương đối với kinh tế chính trị. Trênsở quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, những người mác xít Việt Nam cũng chỉ ra vai trò của văn
hóa, coi văn hóa một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa mà người cộng
sản phải hoạt động. Cách mạng chính trị mới dừng lại việc giải phóng dân tộc ra
khỏi ách đô hộ của ngoại xâm, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, đem lại chính quyền
về tay nhân dân lao động cho nên muốn hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội thì không
chỉ dừng lại cách mạng chính trị mà phải hoàn thành cách mạng văn hóa. Bởi lẽ,
trong cuộc vận động xã hội to lớn này, không chỉ dừng lại ở phá đổ cái cũ mà phải xây
dựng cái mới như thế nào? Sau khi đánh đổ giai cấp thống trị, lực lượng cách mạng
phải đủ tài lực củng cố địa vị của mình, tiếp tục công việc xây dựng hội, gây
dựng một nền văn hóa mới, vì vậy “Công cuộc vận động về văn hóa cũng quan trọng như
cuộc vận động về kinh tế, chính trị. Nên vấn đề văn hóa ngày nay đã trở thành một mặt
trận thứ ba trên chiến tuyến của vô sản giai cấp” [33, tr.537].
2.3.2. Quan niệm về nền văn hóa mới và chương trình hành động văn hóa
người lao động lao lực, kiệt quệ vì đói rét, bệnh tật, tối tăm vì thất học, chiếm đa số mà “chẳng thể đóng góp vào việc tạo tác những công trình văn hóa, cũng chẳng được thâu thái, chẳng thâu thái nổi ảnh hưởng của những công trình văn hóa” [33, tr.127]. Rõ ràng, trên nền tảng của kinh tế phụ thuộc, văn hóa dân tộc là “văn hóa nô dịch, văn hóa ngu dân và phỉnh dân”. Khi Nhật vào Đông Dương cùng với Pháp làm tan rã nền kinh tế ấy thì” Cây văn hóa vốn cằn cỗi lại càng khô héo hơn, tàn lụi bởi màu đất chẳng còn” [33, tr.128]. Về chính trị, chính quyền thực dân thi hành chính sách đàn áp, độc đoán, mất dân chủ. “Một nước mà nền kinh tế đã phụ thuộc vào người và mất chủ quyền chính trị thì khỏi sao văn hóa nhiễm tính chất nô dịch và phụ thuộc” [33, tr.130]. Từ đó, tác giả đi đến kết luận: để cho văn hóa được phát triển thuận lợi thì điều quan trọng là phải thoát khỏi ách thuộc địa, thực hiện nền độc lập dân tộc để có thể tổ chức kinh tế, chính trị theo xu hướng tiến bộ của thế giới. Nhấn mạnh mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế và chính trị ở phương diện trên nhưng cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh và Đề cương văn hóa đều không đơn giản xem văn hóa đơn thuần chỉ là sự phản ánh và phụ thuộc vào kinh tế, chính trị. Văn hóa là bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên nó có tính độc lập tương đối với kinh tế và chính trị. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, những người mác xít Việt Nam cũng chỉ ra vai trò của văn hóa, coi văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa mà người cộng sản phải hoạt động. Cách mạng chính trị mới dừng lại ở việc giải phóng dân tộc ra khỏi ách đô hộ của ngoại xâm, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, đem lại chính quyền về tay nhân dân lao động cho nên muốn hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội thì không chỉ dừng lại ở cách mạng chính trị mà phải hoàn thành cách mạng văn hóa. Bởi lẽ, trong cuộc vận động xã hội to lớn này, không chỉ dừng lại ở phá đổ cái cũ mà phải xây dựng cái mới như thế nào? Sau khi đánh đổ giai cấp thống trị, lực lượng cách mạng phải có đủ tài lực củng cố địa vị của mình, tiếp tục công việc xây dựng xã hội, gây dựng một nền văn hóa mới, vì vậy “Công cuộc vận động về văn hóa cũng quan trọng như cuộc vận động về kinh tế, chính trị. Nên vấn đề văn hóa ngày nay đã trở thành một mặt trận thứ ba trên chiến tuyến của vô sản giai cấp” [33, tr.537]. 2.3.2. Quan niệm về nền văn hóa mới và chương trình hành động văn hóa
Danh từ tân văn hóa (văn hóa mới) xuất hiện trong các sách báo công khai
đầu những năm 40. Nhóm Hàn Thuyên xuất bản loại sách Tân văn hóa và tạp chí Văn
mới nghị luận cổ động cho phong trào Tân văn hóa rất rầm rộ nhưng họ không dám
chống lại chính sách văn hóa của Pháp Nhật lúc đó, không chỉ ra được phương
châm vận động tân văn hóa ở Việt Nam phải như thế nào. Do đó, khẩu hiệu của họ đưa
ra hoàn toàn xa lạ với một nền văn hóa mới mà dân tộc đang đòi hỏi. Đối với những
người mácxít, để vạch ra đặc trưng của nền văn hóa mới của dân tộc phải sự phân
tích sâu sắc tính chất của văn hóa cũ và chương trình hành động để xây dựng nền văn
hóa đó. Về tình trạng của văn hóa Việt Nam, Trường Chinh - nhà lý luận mác xít chỉ ra
ba căn bệnh lớn:
Thứ nhất là phản dân tộc, do điều kiện là một nước thuộc địa, dưới quyền thống
trị của thực dân Pháp, văn hóa Việt Nam “hóa thành nô dịch bị chia rẽ, phát triển
không đồng đều, thiếu hẳn tinh thần độc lập tự do dân tộc thống nhất” [33, tr.50].
Những tinh hoa của văn hóa dân tộc không được tìm tòi, vun bón, phát triển mà lại Âu
hóa, Nhật hóa hoặc nệ cổ theo lối Tống Nho. Với sự phát triển không đồng đều giữa
các vùng, lại bị Pháp chia thành các vùng miền có tổ chức chính trị, giáo dục khác
nhau làm cho đất nước chia rẽ, văn hóa Việt Nam thiếu hẳn tính cách dân tộc thống
nhất.
Thứ hai phản khoa học, nước ta là một nước nông nghiệp, chính sách thuộc
địa của Pháp là hạn chế khoa học phát triển làm cho “óc khoa học của đồng bào ta
thế rất mỏng manh, kém cỏi” [33, tr.51]. Điều đó đã ảnh hưởng không tốt đến các
ngành văn học, nghệ thuật. Mặt khác, để tiện cho việc cai trị, thực dân Pháp đã duy trì
những sản phẩm văn hóa thời phong kiến mà mang tính duy tâm, phản khoa học.
Thứ ba phản đại chúng: đông đảo quần chúng mù chữ, gần như đứng ngoài
các hoạt động văn hóa, không được thưởng thức các sản phẩm văn hóa. Trong khi đại
chúng là người “mang sức sống vật chất của xã hội” thì các nhà văn hóa đáng lẽ phải
phục vụ đại chúng, quan hệ mật thiết với đại chúng nhưng đằng này lại “phản bội đại
Danh từ tân văn hóa (văn hóa mới) xuất hiện trong các sách báo công khai ở đầu những năm 40. Nhóm Hàn Thuyên xuất bản loại sách Tân văn hóa và tạp chí Văn mới nghị luận cổ động cho phong trào Tân văn hóa rất rầm rộ nhưng họ không dám chống lại chính sách văn hóa của Pháp và Nhật lúc đó, không chỉ ra được phương châm vận động tân văn hóa ở Việt Nam phải như thế nào. Do đó, khẩu hiệu của họ đưa ra hoàn toàn xa lạ với một nền văn hóa mới mà dân tộc đang đòi hỏi. Đối với những người mácxít, để vạch ra đặc trưng của nền văn hóa mới của dân tộc phải có sự phân tích sâu sắc tính chất của văn hóa cũ và chương trình hành động để xây dựng nền văn hóa đó. Về tình trạng của văn hóa Việt Nam, Trường Chinh - nhà lý luận mác xít chỉ ra ba căn bệnh lớn: Thứ nhất là phản dân tộc, do điều kiện là một nước thuộc địa, dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, văn hóa Việt Nam “hóa thành nô dịch và bị chia rẽ, phát triển không đồng đều, thiếu hẳn tinh thần độc lập tự do và dân tộc thống nhất” [33, tr.50]. Những tinh hoa của văn hóa dân tộc không được tìm tòi, vun bón, phát triển mà lại Âu hóa, Nhật hóa hoặc nệ cổ theo lối Tống Nho. Với sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, lại bị Pháp chia thành các vùng miền có tổ chức chính trị, giáo dục khác nhau làm cho đất nước chia rẽ, văn hóa Việt Nam thiếu hẳn tính cách dân tộc thống nhất. Thứ hai là phản khoa học, nước ta là một nước nông nghiệp, chính sách thuộc địa của Pháp là hạn chế khoa học phát triển làm cho “óc khoa học của đồng bào ta vì thế rất mỏng manh, kém cỏi” [33, tr.51]. Điều đó đã ảnh hưởng không tốt đến các ngành văn học, nghệ thuật. Mặt khác, để tiện cho việc cai trị, thực dân Pháp đã duy trì những sản phẩm văn hóa thời phong kiến mà mang tính duy tâm, phản khoa học. Thứ ba là phản đại chúng: đông đảo quần chúng mù chữ, gần như đứng ngoài các hoạt động văn hóa, không được thưởng thức các sản phẩm văn hóa. Trong khi đại chúng là người “mang sức sống vật chất của xã hội” thì các nhà văn hóa đáng lẽ phải phục vụ đại chúng, quan hệ mật thiết với đại chúng nhưng đằng này lại “phản bội đại
chúng, xa đại chúng” làm cho văn hóa không “bắt rễ thẳng ở đại chúng. Kết quả văn
hóa cằn cỗi héo hon” [33, tr.52].
Nhiệm vụ của các nhà văn hóa lúc này là phải chống lại ba căn bệnh trên, thực
hiện cuộc vận động “tân văn hóa” để xây dựng nền văn hóa mới cho dân tộc.
Văn hóa mới gì? Trong Đề cương văn hóa đã xác định rõ văn hóa mới Việt
Nam chưa phải văn hóa hội chủ nghĩa “một thứ văn hóa có tính chất dân
tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung” [33, tr.137]. Qua việc đưa ra ba nguyên
tắc trong cuộc vận động văn hóa mới: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa. Đảng
ta khẳng định văn hóa mới chúng ta hướng tới xây dựng nền văn hóa của một
dân tộc độc lập, của nhân dân, phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân và chống
lại những gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ. Là người mở đường cho việc
xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, khi còn trong nhàcủa Tưởng Giới Thạch,
Hồ Chí Minh đã chỉ ra năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc:
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong
xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền.
5. Xây dựng kinh tế [35, tr.431].
Như vậy, việc xây dựng nền văn hóa mới không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực văn
hóa mà nó liên quan đến tất cả các mặt của đời sống xã hội cả về vật chất và tinh thần.
Về tinh thần, phải biết khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc với khát vọng độc lập tự
cường, đưa đất nước ra khỏi kiếp nô lệ. Về kinh tế, xây dựng kinh tế như một điều
kiện không thể thiếu được để gây dựng nền văn hóa mới. Trong đó, Hồ Chí Minh luôn
nhấn mạnh đến nhân tố con người, tới nhân dân lao động, xây dựng luân lý, hội,
chúng, xa đại chúng” làm cho văn hóa không “bắt rễ thẳng ở đại chúng. Kết quả văn hóa cằn cỗi héo hon” [33, tr.52]. Nhiệm vụ của các nhà văn hóa lúc này là phải chống lại ba căn bệnh trên, thực hiện cuộc vận động “tân văn hóa” để xây dựng nền văn hóa mới cho dân tộc. Văn hóa mới là gì? Trong Đề cương văn hóa đã xác định rõ văn hóa mới Việt Nam chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa mà là “một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung” [33, tr.137]. Qua việc đưa ra ba nguyên tắc trong cuộc vận động văn hóa mới: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa. Đảng ta khẳng định văn hóa mới mà chúng ta hướng tới xây dựng là nền văn hóa của một dân tộc độc lập, của nhân dân, phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân và chống lại những gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ. Là người mở đường cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, khi còn ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh đã chỉ ra năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc: 1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4. Xây dựng chính trị: dân quyền. 5. Xây dựng kinh tế [35, tr.431]. Như vậy, việc xây dựng nền văn hóa mới không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực văn hóa mà nó liên quan đến tất cả các mặt của đời sống xã hội cả về vật chất và tinh thần. Về tinh thần, phải biết khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc với khát vọng độc lập tự cường, đưa đất nước ra khỏi kiếp nô lệ. Về kinh tế, xây dựng kinh tế như một điều kiện không thể thiếu được để gây dựng nền văn hóa mới. Trong đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến nhân tố con người, tới nhân dân lao động, xây dựng luân lý, xã hội,
chính trị, kinh tế cũng làm lợi cho dân, đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc của
nhân dân và quyền sống của nhân dân. Sau khi cách mạng thành công, giữa lúc chính
quyền non trẻ còn phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, Hồ Chí Minh đã đề
cập đến tính chất của nền văn hóa mới chúng ta cần bắt tay xây dựng: “Cái văn hóa
mới này cần phải có tính chất khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu
tiến hóa của tư tưởng hiện đại” [37, tr.13]. Đồng thời, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến
tính dân tộc của nền văn hóa mới, Hồ Chí Minh cho rằng nền văn hóa mới mà chúng ta
xây dựng phải mang tính dân tộc, Người nói: “Phải trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật
tinh thần thuần túy Việt Nam, phải lột cho hết tinh thần dân tộc” [27, tr.181].
Nhưng cái “tinh thần thuần túy Việt Nam” ấy lại phải hợp với “tinh thần dân chủ”,
điều đó có nghĩa nền văn hóa mới phải kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền
thống dân tộc đồng thời phải tiếp thu cái hay, cái đẹp của nhân loại, để cho nền văn
hóa Việt Nam mang trong mình những giá trị chung của thế giới. Tư tưởng này của Hồ
Chí Minh ý nghĩa to lớn trong việc định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay.
Đề cương văn hóa cũng không chỉ dừng lại những quan niệm về văn hóa, tính
chất nền văn hóa mà trong điều kiện chuẩn bị giành chính quyền, mang tính chất
của một cương lĩnh văn hóa, đưa ra chương trình hành động và nhiệm vụ cụ thể của
những nhà văn hóa mác xít Việt Nam. Trước hết Đề cương nêu lên mục đích trước mắt
là chống lại văn hóa phát xít, phong kiến, văn hóa ngu dân và lừa phỉnh nhân dân, sau
đó là công việc phải làm: đấu tranh với các học thuyết tư tưởng, ít nhiều ảnh hưởng tai
hại ở nước ta như triết học Khổng Mạnh, Đềcáctơ, Bécxông, Canto...; khẳng định tính
đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử; đấu tranh
chống các trường phái văn nghệ như chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa
tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng…để đưa xu hướng tả thực hội chủ nghĩa giữa vai
trò chủ đạo. Đề cương cũng đề cập đến việc thống nhất làm giàu thêm tiếng nói,
chữ viết cải cách chữ quốc ngữ. Sau cùng Đề cương nêu lên cách vận động như
tuyên truyền xuất bản, tổ chức các nhà văn, chống nạn mù chữ…để thống nhất mọi
hoạt động văn hóa tiến bộ dưới quyền lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy, chương
trình và những nhiệm vụ cụ thể mà Đề cương nêu ra đã đáp ứng được yêu cầu của văn
chính trị, kinh tế cũng là vì làm lợi cho dân, đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc của nhân dân và quyền sống của nhân dân. Sau khi cách mạng thành công, giữa lúc chính quyền non trẻ còn phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, Hồ Chí Minh đã đề cập đến tính chất của nền văn hóa mới chúng ta cần bắt tay xây dựng: “Cái văn hóa mới này cần phải có tính chất khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại” [37, tr.13]. Đồng thời, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến tính dân tộc của nền văn hóa mới, Hồ Chí Minh cho rằng nền văn hóa mới mà chúng ta xây dựng phải mang tính dân tộc, Người nói: “Phải trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam, phải lột cho hết tinh thần dân tộc” [27, tr.181]. Nhưng cái “tinh thần thuần túy Việt Nam” ấy lại phải hợp với “tinh thần dân chủ”, điều đó có nghĩa là nền văn hóa mới phải kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc đồng thời phải tiếp thu cái hay, cái đẹp của nhân loại, để cho nền văn hóa Việt Nam mang trong mình những giá trị chung của thế giới. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn trong việc định hướng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay. Đề cương văn hóa cũng không chỉ dừng lại những quan niệm về văn hóa, tính chất nền văn hóa mà trong điều kiện chuẩn bị giành chính quyền, nó mang tính chất của một cương lĩnh văn hóa, đưa ra chương trình hành động và nhiệm vụ cụ thể của những nhà văn hóa mác xít Việt Nam. Trước hết Đề cương nêu lên mục đích trước mắt là chống lại văn hóa phát xít, phong kiến, văn hóa ngu dân và lừa phỉnh nhân dân, sau đó là công việc phải làm: đấu tranh với các học thuyết tư tưởng, ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở nước ta như triết học Khổng Mạnh, Đềcáctơ, Bécxông, Canto...; khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đấu tranh chống các trường phái văn nghệ như chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng…để đưa xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa giữa vai trò chủ đạo. Đề cương cũng đề cập đến việc thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói, chữ viết và cải cách chữ quốc ngữ. Sau cùng Đề cương nêu lên cách vận động như tuyên truyền xuất bản, tổ chức các nhà văn, chống nạn mù chữ…để thống nhất mọi hoạt động văn hóa tiến bộ dưới quyền lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn cho thấy, chương trình và những nhiệm vụ cụ thể mà Đề cương nêu ra đã đáp ứng được yêu cầu của văn
hóa dân tộc lúc đó, chính vì thế sau khi Đề cương ra đời, các văn nghệ sĩ đã tập hợp lại
trong Hội Văn hóa cứu quốc tạo thành lực lượng quan trọng đóng góp cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc.
Tóm lại, nội dung cơ bản trong nhận thức lý luận văn hóa nước ta giai đoạn
nửa đầu thế knhững quan niệm về văn hóa, văn hóa dân tộc và quan niệm của
những người mácxít Việt Nam, trong đó chiếm vị trí nổi bật là quan niệm về văn hóa
dân tộc. Hàng loạt vấn đề được đặt ra trong các cuộc tranh luận xung quanh chủ đề
này: bản sắc dân tộc là gì? Nước ta có bản sắc hay không? Làm cách nào để gây dựng
cho dân tộc một nền văn hóa riêng? Nhiều ý kiến đã được các học giả đưa ra rất phong
phú với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện đất nước đang trong
vòng nô lệ, con đường phát triển văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới chỉ thành công
khi đặt trong quỹ đạo của cách mạng giải phóng dân tộc. Chính vì thế, những quan
niệm văn hóa theo khuynh hướng mácxít đã khẳng định được vai trò của mình và trở
thành ngọn cờ chủ đạo trong sự nghiệp xây dựng văn hóa của dân tộc.
hóa dân tộc lúc đó, chính vì thế sau khi Đề cương ra đời, các văn nghệ sĩ đã tập hợp lại trong Hội Văn hóa cứu quốc tạo thành lực lượng quan trọng đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tóm lại, nội dung cơ bản trong nhận thức lý luận văn hóa ở nước ta giai đoạn nửa đầu thế kỷ là những quan niệm về văn hóa, văn hóa dân tộc và quan niệm của những người mácxít Việt Nam, trong đó chiếm vị trí nổi bật là quan niệm về văn hóa dân tộc. Hàng loạt vấn đề được đặt ra trong các cuộc tranh luận xung quanh chủ đề này: bản sắc dân tộc là gì? Nước ta có bản sắc hay không? Làm cách nào để gây dựng cho dân tộc một nền văn hóa riêng? Nhiều ý kiến đã được các học giả đưa ra rất phong phú với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện đất nước đang trong vòng nô lệ, con đường phát triển văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới chỉ thành công khi đặt trong quỹ đạo của cách mạng giải phóng dân tộc. Chính vì thế, những quan niệm văn hóa theo khuynh hướng mácxít đã khẳng định được vai trò của mình và trở thành ngọn cờ chủ đạo trong sự nghiệp xây dựng văn hóa của dân tộc.
Chương 3
Những đặc điểm của quá trình nhận thức lý luận
văn hóa giai đoạn nửa đầu thế kỷ xx và bàI học
kinh nghiệm rút ra đối với việc phát triển lý luận văn hóa ở nước ta hiện nay
3.1. Nhận định chung
3.1.1. Những đặc điểm
Trong cuốn sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” GS, TS Trần Ngọc Thêm
có đánh giá những công trình nghiên cứu nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam: tuyệt đại bộ
phận các công trình được viết ra mang tính chất miêu tả, giá trị tư liệu hết sức quý
báu nhưng bên cạnh đó còn tồn tại ba nhược điểm chủ yếu là:
- Tản mạn, thiếu tính hệ thống, tính quy luật.
- Chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại.
- Thường bị chi phối một cách vô thức bởi căn bệnh lấy “Trung Hoa làm trung
tâm” [62, tr.12]
Đây những nhận định tương đối thuyết phục đối với các công trình nghiên
cứu văn hóa nói chung hơn một thế kỷ qua. Trong khuôn khổ của luận văn, bước đầu
chúng tôi chỉ đưa ra một số nhận xét về quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Thứ nhất về phương diện nội dung, những nhận thức luận về văn hóa của
giai đoạn này kết quả của quá trình tiếp thu luận văn hóa thế giới phản ánh
thực tiễn văn hóa Việt Nam.
Những nội dung cơ bản trong nhận thức lý luận văn hóa đầu thế kỷ XX cho đến
năm 1945 được trình bày trên đây bao gồm: quan niệm về văn hóa; vvăn hóa dân
Chương 3 Những đặc điểm của quá trình nhận thức lý luận văn hóa giai đoạn nửa đầu thế kỷ xx và bàI học kinh nghiệm rút ra đối với việc phát triển lý luận văn hóa ở nước ta hiện nay 3.1. Nhận định chung 3.1.1. Những đặc điểm Trong cuốn sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” GS, TS Trần Ngọc Thêm có đánh giá những công trình nghiên cứu nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam: tuyệt đại bộ phận các công trình được viết ra mang tính chất miêu tả, có giá trị tư liệu hết sức quý báu nhưng bên cạnh đó còn tồn tại ba nhược điểm chủ yếu là: - Tản mạn, thiếu tính hệ thống, tính quy luật. - Chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại. - Thường bị chi phối một cách vô thức bởi căn bệnh lấy “Trung Hoa làm trung tâm” [62, tr.12] Đây là những nhận định tương đối thuyết phục đối với các công trình nghiên cứu văn hóa nói chung hơn một thế kỷ qua. Trong khuôn khổ của luận văn, bước đầu chúng tôi chỉ đưa ra một số nhận xét về quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Thứ nhất về phương diện nội dung, những nhận thức lý luận về văn hóa của giai đoạn này là kết quả của quá trình tiếp thu lý luận văn hóa thế giới và phản ánh thực tiễn văn hóa Việt Nam. Những nội dung cơ bản trong nhận thức lý luận văn hóa đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945 được trình bày trên đây bao gồm: quan niệm về văn hóa; về văn hóa dân
tộc; quan niệm của những người mác xít. Những nội dung này đã khái quát quá trình
nhận thức lý luận về văn hóa ở nước ta: từ việc tiếp thu thành tựu lý luận của thế giới
đi đến nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong đó, quan điểm về văn hóa của những người
mác xít Việt Nam là sự tiếp thu và vận dụng thành công chủ nghĩa Mác - Lênin trong
việc xây dựng một nền văn hóa mới của dân tộc gắn liền với công cuộc giải phóng đất
nước ra khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân.
Như đã trình bày, cho đến đầu thế kXX, nước ta chưa có chuyên ngành
luận văn hóa, nghiên cứu luận văn hóa hầu như chưa gì. Trước đó, các nhà
tưởng của dân tộc cũng đã từng đề cập đến văn hóa nhưng chưa thể gọi đó là luận
với cách hệ thống tri thức bản trên lĩnh vực n hóa. luận nói chung,
luận văn hóa nói riêng ra đời dựa trên những tiền đề, cả trên phương diện lý luận
thực tiễn. Trong một nước nông nghiệp phương Đông khép kín với thế giới bên ngoài,
chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Nho giáo cùng với những điều kiện riêng về
lịch sử, Việt Nam không có tiền đề để cho lý luận văn hóa có khả năng xuất hiện. Mặc
nước ta vẫn những sách ský, địa dư, lịch sử, văn chương nhưng không
những cuộc tranh luận về phương pháp viết sách học thuật, không có một môn học
chuyên biệt về những phương pháp tìm chân lý, phát triển duy khoa học. Nói cách
khác, chúng ta không có một “lý luận học được quan niệm là một môn riêng biệt, được
vun bón cẩn thận, chăm chút kỹ ỡng” [33; tr.663]. Cuộc giao lưu văn hóa với
phương Tây từ cuối thế kỷ XIX, mở cửa với thế giới bên ngoài sau một thời gian dài
bế quan tỏa cảng đã tạo hội cho trí thức dân tộc tiếp xúc với những thành tựu của
văn minh nhân loại. Qua phong trào Tân thư, qua việc truyền chủ nghĩa Mác -
Lênin, những thành tựu này tác động mạnh mẽ vào Việt Nam, được nhiều trí thức dân
tộc đón nhận một cách hào hứng. Những cuộc tranh luận mang tính học thuật, những
cuốn sách khảo cứu về triết học, sử học, văn hóa, kinh tế đã bắt đầu xuất hiện. Cuốn
sách đầu tiên có liên quan đến lý luận văn hóa mang dấu ấn của sự tiếp thu lý luận của
thế giới là Văn minh tân học sách. Tác phẩm này được các sĩ phu yêu nước sáng lập
Đông Kinh nghĩa thục biên soạn năm 1904, cương lĩnh văn hóa, ngọn cờ tư tưởng
cho phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Các tác giả của cuốn sách đã trình bày những
nét khái quát về khái niệm văn minh, phân biệt sự khác nhau giữa văn minh Việt Nam
tộc; quan niệm của những người mác xít. Những nội dung này đã khái quát quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở nước ta: từ việc tiếp thu thành tựu lý luận của thế giới đi đến nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong đó, quan điểm về văn hóa của những người mác xít Việt Nam là sự tiếp thu và vận dụng thành công chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc xây dựng một nền văn hóa mới của dân tộc gắn liền với công cuộc giải phóng đất nước ra khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân. Như đã trình bày, cho đến đầu thế kỷ XX, nước ta chưa có chuyên ngành lý luận văn hóa, nghiên cứu lý luận văn hóa hầu như chưa có gì. Trước đó, các nhà tư tưởng của dân tộc cũng đã từng đề cập đến văn hóa nhưng chưa thể gọi đó là lý luận với tư cách là hệ thống tri thức cơ bản trên lĩnh vực văn hóa. Lý luận nói chung, lý luận văn hóa nói riêng ra đời dựa trên những tiền đề, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong một nước nông nghiệp phương Đông khép kín với thế giới bên ngoài, chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Nho giáo cùng với những điều kiện riêng về lịch sử, Việt Nam không có tiền đề để cho lý luận văn hóa có khả năng xuất hiện. Mặc dù nước ta vẫn có những sách sử ký, địa dư, lịch sử, văn chương nhưng không có những cuộc tranh luận về phương pháp viết sách học thuật, không có một môn học chuyên biệt về những phương pháp tìm chân lý, phát triển tư duy khoa học. Nói cách khác, chúng ta không có một “lý luận học được quan niệm là một môn riêng biệt, được vun bón cẩn thận, chăm chút kỹ lưỡng” [33; tr.663]. Cuộc giao lưu văn hóa với phương Tây từ cuối thế kỷ XIX, mở cửa với thế giới bên ngoài sau một thời gian dài bế quan tỏa cảng đã tạo cơ hội cho trí thức dân tộc tiếp xúc với những thành tựu của văn minh nhân loại. Qua phong trào Tân thư, qua việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, những thành tựu này tác động mạnh mẽ vào Việt Nam, được nhiều trí thức dân tộc đón nhận một cách hào hứng. Những cuộc tranh luận mang tính học thuật, những cuốn sách khảo cứu về triết học, sử học, văn hóa, kinh tế đã bắt đầu xuất hiện. Cuốn sách đầu tiên có liên quan đến lý luận văn hóa mang dấu ấn của sự tiếp thu lý luận của thế giới là Văn minh tân học sách. Tác phẩm này được các sĩ phu yêu nước sáng lập Đông Kinh nghĩa thục biên soạn năm 1904, là cương lĩnh văn hóa, ngọn cờ tư tưởng cho phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Các tác giả của cuốn sách đã trình bày những nét khái quát về khái niệm văn minh, phân biệt sự khác nhau giữa văn minh Việt Nam
(văn minh tĩnh) với văn minh phương Tây (văn minh động), chỉ ra nguyên nhân tụt
hậu và cách thức để đưa đất nước phát triển theo con đường văn minh. Rõ ràng, những
nội dung này dựa trên sự kế thừa tác phẩm Văn minh luận chi khái lượccủa Phúc
Trạch Dụ Cát, một học giả Nhật Bản, người đã công trong việc dịch chuyển văn
hóa phương Tây vào Nhật Bản. Trong buổi đầu, như mọi sự tiếp xúc một cái gì mới lạ
sự tiếp thu còn mang tính “bắt chước”, dịch những sách của nước ngoài về lý luận văn
hóa. Văn minh luận do Phạm Quỳnh biên dịch là một ví dụ, tác giả đã giải nghĩa khái
niệm văn minh bằng cách đưa ra các quan niệm của các học giả phương Tây bàn về
văn minh như Littre, Guizot, Gibbon… với bốn đặc điểm: có tiến bộ về khoa học; về
dân chủ, về kinh tế và về quan hệ quốc tế, từ đó, tác giả đi đến chứng minh nước Pháp
có đầy đủ các yếu tố đó, là một nước văn minh. Trong cuộc tranh luận về Quốc học mà
người khởi xướng, ông đã đưa ra định nghĩa Quốc học theo tinh thần của
người Nhật Bản, nghiên cứu nền Quốc học của Nhật Bản để từ đó chứng minh nước ta
cũng có một nền Quốc học cũng không kém gì Nhật Bản cả. Quan niệm của Lê Dư đã
gây ra cuộc tranh luận thu hút nhiều học giả đương thời tham gia, sự không thống nhất
giữa các ý kiến này khởi nguồn từ định nghĩa của Lê Dư và chính sau này ông đã phải
đưa ra một định nghĩa mới phù hợp với Việt Nam hơn. Để viết được Việt Nam văn hóa
sử cương, trước hết Đào Duy Anh đã dựa vào khái niệm văn hóa của các học giả Pháp
và Trung Quốc lúc đó là F. Sartiaux và Dương Đông, cả hai người này khi đưa ra khái
niệm văn hóa đều chú trọng những yếu tố hội tinh thần hơn yếu tố kinh tế.
Đào Duy Anh cho những quan niệm đó là phù hợp với yêu cầu của cuốn sách, ông đã
tiếp thu cách tiếp cận đó để đi vào nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông còn tham khảo
cách sắp xếp của F. Sartiaux chia cuốn Việt Nam văn a sử cương ra làm ba phần
lớn: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt hội và chính trị, sinh hoạt về kinh tế và đặt thêm
một phần tự luận nêu lên điều kiện địa lý của Việt Nam. Dần dần, sự tiếp thu của các
học giả Việt Nam đi vào chiều sâu hơn, thoát khỏi “sự bắt chước vụng về”, có sự chọn
lọc trong việc tiếp nhận, thẩm thấu được những tư tưởng mới đó để tự mình có những
kiến giải riêng. Điều đó thể hiện những nghiên cứu về văn hóa dân tộc chiếm một
phần lớn, quan trọng trong những nhận thức luận về văn hóa giai đoạn này
được. Từ sự tiếp thu lý luận văn hóa của thế giới, các học giả tập trung vào nghiên cứu
(văn minh tĩnh) với văn minh phương Tây (văn minh động), chỉ ra nguyên nhân tụt hậu và cách thức để đưa đất nước phát triển theo con đường văn minh. Rõ ràng, những nội dung này dựa trên sự kế thừa tác phẩm “Văn minh luận chi khái lược” của Phúc Trạch Dụ Cát, một học giả Nhật Bản, người đã có công trong việc dịch chuyển văn hóa phương Tây vào Nhật Bản. Trong buổi đầu, như mọi sự tiếp xúc một cái gì mới lạ sự tiếp thu còn mang tính “bắt chước”, dịch những sách của nước ngoài về lý luận văn hóa. Văn minh luận do Phạm Quỳnh biên dịch là một ví dụ, tác giả đã giải nghĩa khái niệm văn minh bằng cách đưa ra các quan niệm của các học giả phương Tây bàn về văn minh như Littre, Guizot, Gibbon… với bốn đặc điểm: có tiến bộ về khoa học; về dân chủ, về kinh tế và về quan hệ quốc tế, từ đó, tác giả đi đến chứng minh nước Pháp có đầy đủ các yếu tố đó, là một nước văn minh. Trong cuộc tranh luận về Quốc học mà Lê Dư là người khởi xướng, ông đã đưa ra định nghĩa Quốc học theo tinh thần của người Nhật Bản, nghiên cứu nền Quốc học của Nhật Bản để từ đó chứng minh nước ta cũng có một nền Quốc học cũng không kém gì Nhật Bản cả. Quan niệm của Lê Dư đã gây ra cuộc tranh luận thu hút nhiều học giả đương thời tham gia, sự không thống nhất giữa các ý kiến này khởi nguồn từ định nghĩa của Lê Dư và chính sau này ông đã phải đưa ra một định nghĩa mới phù hợp với Việt Nam hơn. Để viết được Việt Nam văn hóa sử cương, trước hết Đào Duy Anh đã dựa vào khái niệm văn hóa của các học giả Pháp và Trung Quốc lúc đó là F. Sartiaux và Dương Đông, cả hai người này khi đưa ra khái niệm văn hóa đều chú trọng những yếu tố xã hội và tinh thần hơn là yếu tố kinh tế. Đào Duy Anh cho những quan niệm đó là phù hợp với yêu cầu của cuốn sách, ông đã tiếp thu cách tiếp cận đó để đi vào nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông còn tham khảo cách sắp xếp của F. Sartiaux chia cuốn Việt Nam văn hóa sử cương ra làm ba phần lớn: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội và chính trị, sinh hoạt về kinh tế và đặt thêm một phần tự luận nêu lên điều kiện địa lý của Việt Nam. Dần dần, sự tiếp thu của các học giả Việt Nam đi vào chiều sâu hơn, thoát khỏi “sự bắt chước vụng về”, có sự chọn lọc trong việc tiếp nhận, thẩm thấu được những tư tưởng mới đó để tự mình có những kiến giải riêng. Điều đó thể hiện ở những nghiên cứu về văn hóa dân tộc chiếm một phần lớn, quan trọng trong những nhận thức lý luận về văn hóa mà giai đoạn này có được. Từ sự tiếp thu lý luận văn hóa của thế giới, các học giả tập trung vào nghiên cứu
văn hóa Việt Nam, những vấn đề liên quan đến văn hóa dân tộc như bản sắc văn hóa,
dân tộc Việt Nam bản sắc hay không, con đường để xây dựng văn hóa dân tộc…
được đem ra tranh luận hết sức quyết liệt. Những nhận thức lý luận về văn hóa dân tộc
xuất hiện ngày càng nhiều, với các cách tiếp cận đa dạng từ các cuộc tranh luận. Thực
tiễn sự vận động của văn hóa Việt Nam trong cuộc giao lưu tiếp xúc với văn hóa
phương Tây đã được phản ánh rất rõ thông qua các quan niệm về bản sắc dân tộc.
Ngay như Đề cương văn hóa Việt Nam, một tác phẩm chịu ảnh hưởng của lý luận văn
hóa của Liên Xô lúc đó, đặc biệt chịu ảnh hưởng của Bài nói chuyện tại Hội nghị
văn nghệ Diên An của Trung Quốc năm 1942 nhưng đã thể hiện sức sống mới, sự
sáng tạo khi giải quyết những vấn đề thực tiễn của văn hóa Việt Nam, để cuối cùng
đóng góp vị trí quan trọng trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng văn hóa của dân
tộc.
Thứ hai, về phương diện mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu lý luận về văn hóa
trong giai đoạn này để giải quyết những vấn đề của văn hóa dân tộc, không hướng tới
xây dựng lý thuyết văn hóa
Khảo cứu các tác phẩm của các học giả Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ
XX có bàn đến lý luận về văn hóa cho thấy những quan niệm về văn hóa mang tính
luận tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, tìm ra con đường, cách
thức để giữ gìn bản sắc văn hóa, tiếp thu tinh hoa của nhân loại để cho văn hóa dân tộc
mạnh cũng chỉ được đề cập rải rác chứ không tập trung thành một công trình nghiên
cứu có hệ thống. Điều kiện của một thuyết khoa học nói chung, một lý thuyết văn
hóa nói riêng là phải đưa ra được một hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật.
Thử đối sánh điều kiện này với những nghiên cứu về văn hóa trong giai đoạn này:
Phạm Quỳnh đưa ra một định nghĩa coi văn hóa như đời sống tinh thần, Ngô Đức
Kế coi văn hóa đồng nhất với ngôn ngữ, văn tự nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó, các ông
không có những kiến giải về định nghĩa mà mình đưa ra, chưa nói đến việc xây dựng
một hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Mặt khác, cách định nghĩa của các
học giả này như là những phát biểu mang tính chất cảm nhận, xét về mặt lôgic các khái
niệm đưa ra chưa thể coi là một thuật ngữ khoa học bởi không thể xác định chính xác
văn hóa Việt Nam, những vấn đề liên quan đến văn hóa dân tộc như bản sắc văn hóa, dân tộc Việt Nam có bản sắc hay không, con đường để xây dựng văn hóa dân tộc… được đem ra tranh luận hết sức quyết liệt. Những nhận thức lý luận về văn hóa dân tộc xuất hiện ngày càng nhiều, với các cách tiếp cận đa dạng từ các cuộc tranh luận. Thực tiễn sự vận động của văn hóa Việt Nam trong cuộc giao lưu tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã được phản ánh rất rõ thông qua các quan niệm về bản sắc dân tộc. Ngay như Đề cương văn hóa Việt Nam, một tác phẩm chịu ảnh hưởng của lý luận văn hóa của Liên Xô lúc đó, đặc biệt là chịu ảnh hưởng của “Bài nói chuyện tại Hội nghị văn nghệ Diên An” của Trung Quốc năm 1942 nhưng đã thể hiện sức sống mới, sự sáng tạo khi giải quyết những vấn đề thực tiễn của văn hóa Việt Nam, để cuối cùng đóng góp vị trí quan trọng trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng văn hóa của dân tộc. Thứ hai, về phương diện mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu lý luận về văn hóa trong giai đoạn này để giải quyết những vấn đề của văn hóa dân tộc, không hướng tới xây dựng lý thuyết văn hóa Khảo cứu các tác phẩm của các học giả Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX có bàn đến lý luận về văn hóa cho thấy những quan niệm về văn hóa mang tính lý luận tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu văn hóa dân tộc, tìm ra con đường, cách thức để giữ gìn bản sắc văn hóa, tiếp thu tinh hoa của nhân loại để cho văn hóa dân tộc mạnh cũng chỉ được đề cập rải rác chứ không tập trung thành một công trình nghiên cứu có hệ thống. Điều kiện của một lý thuyết khoa học nói chung, một lý thuyết văn hóa nói riêng là phải đưa ra được một hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật. Thử đối sánh điều kiện này với những nghiên cứu về văn hóa trong giai đoạn này: Phạm Quỳnh có đưa ra một định nghĩa coi văn hóa như đời sống tinh thần, Ngô Đức Kế coi văn hóa đồng nhất với ngôn ngữ, văn tự nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó, các ông không có những kiến giải về định nghĩa mà mình đưa ra, chưa nói đến việc xây dựng một hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Mặt khác, cách định nghĩa của các học giả này như là những phát biểu mang tính chất cảm nhận, xét về mặt lôgic các khái niệm đưa ra chưa thể coi là một thuật ngữ khoa học bởi không thể xác định chính xác
nội hàm và ngoại diên của các khái niệm đó. Điểm nổi bật trong các quan niệm về văn
hóa đây vẫn những gì liên quan đến văn hóa dân tộc, giải quyết những vấn đề
đang đặt ra với văn hóa dân tộc. Đào Duy Anh đã đi những bước xa hơn trên con
đường nghiên cứu luận văn hóa so với các nhà nghiên cứu khác với hai cuốn sách
Việt nam văn hóa sử cương Văn hóa là , song hầu hết các nội dung của luận
văn hóa được ông đề cập đến vẫn chỉ là sự kế thừa, là những cái mà ông thừa nhận
từ những thành tựuluận văn hóa của thế giới lúc đó. Hai công trình cũng chỉ được
ra đời trong những tình huống cụ thể, trước những đòi hỏi của thực tiễn. Việt Nam văn
hóa sử cương được viết năm 1938 với cách cuốn sách tham khảo để giảng dạy
môn văn hóa Việt Nam ở chương trình giáo dục của cấp Cao đẳng tiểu học, ngay lời
tựa tác giả đã nói rằng “sách này chỉ là một mớ tài liệu tham khảo” và sau này khi nhắc
lại, Đào Duy Anh coi đó chỉ là “những điều cũ lặt ở các sách đã đọc được mà chưa hề
có nhãn quan mới để nhìn và lựa chọn” [1, tr.79]. Cuốn “Văn hóa là gìlà tập hợp các
bài viết của Đào Duy Anh nhằm mục đích đưa ra một cách hiểu thống nhất về văn hóa
khi mà trong ủy ban Văn hóa cứu quốc lúc đó đang tồn tại nhiều quan niệm rất khác
nhau về khái niệm này. Như vậy, ngay cả Đào Duy Anh, một học giả đóng góp
quan trọng trong nghiên cứu văn hóa thì những quan niệm của ông đưa ra, mặc dù rất
phong phú và toàn diện cũng chưa thể tạo nên một lý thuyết văn hóa mới. Do đó, các
kết quả nghiên cứu về văn hóa của các học giả mới chỉ dừng lại ở những nhận thức lý
luận về văn hóa thôi. Đề cương văn hóa Việt Nam, ra đời năm 1943, trong điều
kiện đất nước, văn hóa dân tộc còn chìm trong vòng nô lệ nhằm mục đích tập hợp giới
trí thức lập nên mặt trận văn hóa của những người yêu nước chống Pháp, Nhật. Đây
công trình nêu lên những tư tưởng lý luận văn hóa đầu tiên ở nước ta theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước đòi hỏi của thực tiễn phải chỉ ra những nhiệm vụ hết
sức cụ thể cho văn hóa dân tộc. Đề cương mang tính chất của một cương lĩnh văn hóa
có giá trị chỉ đạo thực tiễn trong một không gian, thời gian nhất định.
Thứ ba, về lực lượng nghiên cứu luận văn hóa: quá trình nhận thức lý luận
về văn hóa là hành trình đi từ tinh thần yêu nước, yêu văn hóa dân tộc đến khoa học.
Điều đầu tiên có thể thấy ở lực lượng này là họ không phải là những người nghiên cứu
lý luận văn hóa chuyên nghiệp cho nên thành phần khá đa dạng. Có người là những sĩ
nội hàm và ngoại diên của các khái niệm đó. Điểm nổi bật trong các quan niệm về văn hóa ở đây vẫn là những gì liên quan đến văn hóa dân tộc, giải quyết những vấn đề đang đặt ra với văn hóa dân tộc. Đào Duy Anh đã đi những bước xa hơn trên con đường nghiên cứu lý luận văn hóa so với các nhà nghiên cứu khác với hai cuốn sách Việt nam văn hóa sử cương và Văn hóa là gì, song hầu hết các nội dung của lý luận văn hóa được ông đề cập đến vẫn chỉ là sự kế thừa, là những cái mà ông “thừa nhận” từ những thành tựu lý luận văn hóa của thế giới lúc đó. Hai công trình cũng chỉ được ra đời trong những tình huống cụ thể, trước những đòi hỏi của thực tiễn. Việt Nam văn hóa sử cương được viết năm 1938 với tư cách là cuốn sách tham khảo để giảng dạy môn văn hóa Việt Nam ở chương trình giáo dục của cấp Cao đẳng tiểu học, ngay lời tựa tác giả đã nói rằng “sách này chỉ là một mớ tài liệu tham khảo” và sau này khi nhắc lại, Đào Duy Anh coi đó chỉ là “những điều cũ lặt ở các sách đã đọc được mà chưa hề có nhãn quan mới để nhìn và lựa chọn” [1, tr.79]. Cuốn “Văn hóa là gì” là tập hợp các bài viết của Đào Duy Anh nhằm mục đích đưa ra một cách hiểu thống nhất về văn hóa khi mà trong ủy ban Văn hóa cứu quốc lúc đó đang tồn tại nhiều quan niệm rất khác nhau về khái niệm này. Như vậy, ngay cả Đào Duy Anh, một học giả có đóng góp quan trọng trong nghiên cứu văn hóa thì những quan niệm của ông đưa ra, mặc dù rất phong phú và toàn diện cũng chưa thể tạo nên một lý thuyết văn hóa mới. Do đó, các kết quả nghiên cứu về văn hóa của các học giả mới chỉ dừng lại ở những nhận thức lý luận về văn hóa mà thôi. Đề cương văn hóa Việt Nam, ra đời năm 1943, trong điều kiện đất nước, văn hóa dân tộc còn chìm trong vòng nô lệ nhằm mục đích tập hợp giới trí thức lập nên mặt trận văn hóa của những người yêu nước chống Pháp, Nhật. Đây là công trình nêu lên những tư tưởng lý luận văn hóa đầu tiên ở nước ta theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước đòi hỏi của thực tiễn phải chỉ ra những nhiệm vụ hết sức cụ thể cho văn hóa dân tộc. Đề cương mang tính chất của một cương lĩnh văn hóa có giá trị chỉ đạo thực tiễn trong một không gian, thời gian nhất định. Thứ ba, về lực lượng nghiên cứu lý luận văn hóa: quá trình nhận thức lý luận về văn hóa là hành trình đi từ tinh thần yêu nước, yêu văn hóa dân tộc đến khoa học. Điều đầu tiên có thể thấy ở lực lượng này là họ không phải là những người nghiên cứu lý luận văn hóa chuyên nghiệp cho nên thành phần khá đa dạng. Có người là những sĩ