Luận văn đề tài: Quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945

1,742
18
96
Các học giả còn lại: Phan Khôi, Thiếu Sơn, Phạm Quỳnh phản đối quan niệm
của Lê Dư đều có chung ý kiến nước ta chưa có Quốc học. Những học giả này đã nêu
lên một số nền Quốc học như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp để từ đó xem xét nền Quốc
học của Việt Nam. Người Trung Quốc có Bách gia chư tử, từ Lão tử, Khổng tử, Mặc
tử, Tuân tử, Mạnh tử, Trang tử… cho đến các đại nho đời Hán, đời Tống, đời Minh,
đời Thanh, mỗi người đều lập thành một thuyết. Ngay học thuyết Nho, do Khổng tử
sáng lập chia ra làm nhiều phái, không ai giống ai cả, tạo nên sự “sầm uất, thịnh
vượng, đủ đối lập với cõi học của các nước ngoài [67, tr.168]. Sự học của người
Trung Quốc đủ “đại biểu cho một dân tộc, không giống với ai, cũng giống như y phục
cờ hiệu của nước họ không giống với ai” [67, tr.168], họ xứng đáng một nền
Quốc học. Người Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng họ không lựa
chọn Tống Nho mà là Minh Nho. Minh Nho do Vương Dương Minh khởi xướng, phản
đối cái Nho học hẹp hòi của Tống Nho, rất thịnh hành ở Nhật Bản. Thuyết mới này đã
ảnh hưởng không những đối với giới trí thức mà cả với phong tục của họ. Cũng là
“học trò” của Trung Quốc như Việt Nam, cũng “mô phỏng” văn hóa Trung Hoa trong
thời gian dài nhưng họ biết “lựa lọc kén chọn” cho nên mặc dù về tư tưởng học thuật
vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Hoa, họ vẫn “một nền quốc học của họ,
không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn đặc sắc khác người” [33, tr.502]. Nước Pháp cũng
chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp, La như nước Anh, nước Đức nhưng họ
chủ nghĩa duy lý của Đềcáctơ, triết học của Rútxô, khoa học thực nghiệm của Auguste
Comte… Những học truyết này đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội Pháp. Thế
kỷ VIII, nước Pháp tôn thờ lý trí, thế kỷ XIX chịu ảnh hưởng của Rutxô, sang thế kỷ
XX học thuyết của Auguste Comte làm hướng đạo cho tư tưởng của người Pháp. Như
vậy, họ văn minh học thuật riêng không giống với những nước khác, đó nền
Quốc học riêng” của họ. Có thể nói, mỗi dân tộc tiếp thu giá trị văn hóa của bên ngoài
biến hóa theo tinh thần riêng của mình thành riêng của mình, đặc sắc so với các
nước khác, tạo nên nền Quốc học riêng của mình. Từ những lập luận này, Trịnh Đình
Rư là người đầu tiên phản bác Lê Dư. Trong bài phê bình bộ sách Quốc học tùng san,
ông viết “Nước ta từ xưa đến nay, chưa từng thấy cụ nào đứng ra được một học thuyết
gì to tát riêng; xét đến những lịch sử những học giả Đông Tây mà nghĩ lại đến Quốc
Các học giả còn lại: Phan Khôi, Thiếu Sơn, Phạm Quỳnh phản đối quan niệm của Lê Dư đều có chung ý kiến nước ta chưa có Quốc học. Những học giả này đã nêu lên một số nền Quốc học như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp để từ đó xem xét nền Quốc học của Việt Nam. Người Trung Quốc có Bách gia chư tử, từ Lão tử, Khổng tử, Mặc tử, Tuân tử, Mạnh tử, Trang tử… cho đến các đại nho đời Hán, đời Tống, đời Minh, đời Thanh, mỗi người đều lập thành một thuyết. Ngay học thuyết Nho, do Khổng tử sáng lập mà chia ra làm nhiều phái, không ai giống ai cả, tạo nên sự “sầm uất, thịnh vượng, đủ đối lập với cõi học của các nước ngoài” [67, tr.168]. Sự học của người Trung Quốc đủ “đại biểu cho một dân tộc, không giống với ai, cũng giống như y phục và cờ hiệu của nước họ không giống với ai” [67, tr.168], họ xứng đáng có một nền Quốc học. Người Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng họ không lựa chọn Tống Nho mà là Minh Nho. Minh Nho do Vương Dương Minh khởi xướng, phản đối cái Nho học hẹp hòi của Tống Nho, rất thịnh hành ở Nhật Bản. Thuyết mới này đã ảnh hưởng không những đối với giới trí thức mà cả với phong tục của họ. Cũng là “học trò” của Trung Quốc như Việt Nam, cũng “mô phỏng” văn hóa Trung Hoa trong thời gian dài nhưng họ biết “lựa lọc kén chọn” cho nên mặc dù về tư tưởng học thuật vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Hoa, họ vẫn có “một nền quốc học của họ, dù không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn đặc sắc khác người” [33, tr.502]. Nước Pháp cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp, La Mã như nước Anh, nước Đức nhưng họ có chủ nghĩa duy lý của Đềcáctơ, triết học của Rútxô, khoa học thực nghiệm của Auguste Comte… Những học truyết này đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội Pháp. Thế kỷ VIII, nước Pháp tôn thờ lý trí, thế kỷ XIX chịu ảnh hưởng của Rutxô, sang thế kỷ XX học thuyết của Auguste Comte làm hướng đạo cho tư tưởng của người Pháp. Như vậy, họ có văn minh học thuật riêng không giống với những nước khác, đó là “nền Quốc học riêng” của họ. Có thể nói, mỗi dân tộc tiếp thu giá trị văn hóa của bên ngoài biến hóa theo tinh thần riêng của mình mà thành riêng của mình, đặc sắc so với các nước khác, tạo nên nền Quốc học riêng của mình. Từ những lập luận này, Trịnh Đình Rư là người đầu tiên phản bác Lê Dư. Trong bài phê bình bộ sách Quốc học tùng san, ông viết “Nước ta từ xưa đến nay, chưa từng thấy cụ nào đứng ra được một học thuyết gì to tát riêng; xét đến những lịch sử những học giả Đông Tây mà nghĩ lại đến Quốc
học nước nhà, ta tưởng tự lấy làm thẹn” [67, tr.168]. Cái tâm trạng “thẹn” của Trịnh
Đình Rư phản ánh quan niệm của ông rằng dân tộc ta chưa hề có Quốc học. Cùng quan
điểm với Trịnh Đình Rư, Phạm Quỳnh cho rằng ở nước ta có anh hùng, có liệt nữ, có
danh sĩ cao tăng nhưng từ xưa đến nay vẫn chưa có ai sáng lập ra được những tư tưởng
mới, học thuyết mới như kiểu Bách gia chư tử của Trung Quốc, cho nên “Nói đến học
thuật chơn chánh thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám bội bạc tiền nhân, nhưng thật
ra không có người nào vậy” [33, tr.125]. Cả Phạm Quỳnh và Phan Khôi đều thử kiểm
kê lại vốn liếng” của dân tộc nhưng theo cách hiểu của các ông, những tác phẩm của
các bậc học giả uyên thâm như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm quan
niệm là Quốc học thì chỉ thấy Chu Văn An là một nhà nho khảng khái, Nguyễn Bỉnh
Khiêm là một nhà thuật số chứ các cụ cũng không phát minh được điều gì, cũng không
để lại cuốn sách gì có giá trị cho nền học thuật của đất nước. Trong những di sản do
người xưa để lại cũng có thể tìm được vài ý kiến lạ nhưng nó không có sức ảnh hưởng
mạnh tới hội tạo ra những phong trào tưởng, chủ yếu “ngâm hoa vịnh
nguyệt, dặm lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ,
không khám phá ra được điều mới lạ về trụ nhân sinh” [33, tr.503] cho nên
không thể nói nước ta Quốc học. So sánh với Nhật Bản cũng là một dân tộc chịu
ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Hoa, cũng là “học trò” của Trung Hoa như Việt Nam
nhưng vẫn có cái “đặc sắc khác Tàu”, Phạm Quỳnh đã chỉ ra ba nguyên nhân dẫn đến
việc nước ta không có Quốc học:
Một là địa lý: nước ta tiếp cận ngay với Trung Quốc, sau khi được độc lập vẫn
bị coi là nước phiên thuộc, người Trung Quốc luôn tràn sang trong chiến tranh cũng
như trong hòa bình.
Hai là lịch sử: quan hệ của nước ta với Trung Quốc mật thiết. Trong mười thế
kỷ bị thống trị, nước ta là bộ phận của Trung Quốc, đến khi giành được quyền tự chủ
từ thế kỷ X thì “cái dấu vết của người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi
[33, tr.506]. Bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ lúc nào cũng lăm le muốn chiếm
đất, tất cả tinh lực của dân tộc chỉ dành cho việc giữ gìn độc lập cho dân tộc, không
còn sức lực, thời giờ cho những việc khác như văn hóa, mĩ thuật…
học nước nhà, ta tưởng tự lấy làm thẹn” [67, tr.168]. Cái tâm trạng “thẹn” của Trịnh Đình Rư phản ánh quan niệm của ông rằng dân tộc ta chưa hề có Quốc học. Cùng quan điểm với Trịnh Đình Rư, Phạm Quỳnh cho rằng ở nước ta có anh hùng, có liệt nữ, có danh sĩ cao tăng nhưng từ xưa đến nay vẫn chưa có ai sáng lập ra được những tư tưởng mới, học thuyết mới như kiểu Bách gia chư tử của Trung Quốc, cho nên “Nói đến học thuật chơn chánh thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám bội bạc tiền nhân, nhưng thật ra không có người nào vậy” [33, tr.125]. Cả Phạm Quỳnh và Phan Khôi đều thử kiểm kê lại “vốn liếng” của dân tộc nhưng theo cách hiểu của các ông, những tác phẩm của các bậc học giả uyên thâm như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm mà Lê Dư quan niệm là Quốc học thì chỉ thấy Chu Văn An là một nhà nho khảng khái, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thuật số chứ các cụ cũng không phát minh được điều gì, cũng không để lại cuốn sách gì có giá trị cho nền học thuật của đất nước. Trong những di sản do người xưa để lại cũng có thể tìm được vài ý kiến lạ nhưng nó không có sức ảnh hưởng mạnh tới xã hội và tạo ra những phong trào tư tưởng, chủ yếu là “ngâm hoa vịnh nguyệt, dặm lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá ra được điều gì mới lạ về vũ trụ nhân sinh” [33, tr.503] cho nên không thể nói nước ta có Quốc học. So sánh với Nhật Bản cũng là một dân tộc chịu ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Hoa, cũng là “học trò” của Trung Hoa như Việt Nam nhưng vẫn có cái “đặc sắc khác Tàu”, Phạm Quỳnh đã chỉ ra ba nguyên nhân dẫn đến việc nước ta không có Quốc học: Một là địa lý: nước ta tiếp cận ngay với Trung Quốc, sau khi được độc lập vẫn bị coi là nước phiên thuộc, người Trung Quốc luôn tràn sang trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Hai là lịch sử: quan hệ của nước ta với Trung Quốc mật thiết. Trong mười thế kỷ bị thống trị, nước ta là bộ phận của Trung Quốc, đến khi giành được quyền tự chủ từ thế kỷ X thì “cái dấu vết của người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi” [33, tr.506]. Bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ lúc nào cũng lăm le muốn chiếm đất, tất cả tinh lực của dân tộc chỉ dành cho việc giữ gìn độc lập cho dân tộc, không còn sức lực, thời giờ cho những việc khác như văn hóa, mĩ thuật…
Ba chính trị: các triều đại phong kiến đã tôn sùng Nho giáo, với chế độ
khoa cử “là món quà rất hại nước u tặng cho ta” [33, tr.508], bao nhiêu nhân
tài của đất nước đều được đào tạo trong cái khuôn của trường lớp Nho giáo làm cho
thần trí eo hẹp lại, không còn có tư tưỏng, có học vấn
tự do.
Cũng chỉ ra nguyên nhân nước ta không Quốc học, học giả Thiếu Sơn cho
rằng đó là cách học của người Việt Nam. Nếu việc họchai bước, bước thứ nhất
nhân: bắt chước của người để làm hay cho mình, cốt phải đồng; bước thứ hai là cách;
sáng tạo ra cái mới, cốt phải dị; đồng và dị giúp lẫn nhau làm cho học thuật được mở
mang thì ở nước ta, việc học chỉ có nhân mà không có cách, có đồng mà không có dị,
không đủ thay thế được Hán học của Trung Hoa, không ảnh hưởng đến văn học, xã hội
cho nên theo Thiếu Sơn, nước ta cũng chưa thể có Quốc học.
Qua những ý kiến của các học giả trong cuộc tranh luận về Quốc học trên đây
cho thấy sự phong phú, đa dạng trong những quan niệm về Quốc học. Vấn đề đặt ra ở
đây là văn hóa bao gồm nhiều thành tố, mặc dù văn học, học thuật, tư tưởng là những
thành tố quan trọng nhưng nếu cho bản sắc văn hóa dân tộc chỉ có trong những thành
tố đó thì rất hạn hẹp không thể hiện đầy đủ được đặc tính của một dân tộc. Trên
thực tế, không phải dân tộc nào cũng đóng góp cho nhân loại những học thuyết, hệ tư
tưởng, những tác phẩm văn chương nổi tiếng… nhưng các dân tộc đó vẫn có bản sắc
riêng, tạo nên sự đa dạng của văn hóa nhân loại. Do đó, bản sắc văn hóa còn biểu hiện
ra nhiều phương diện khác nữa: tâm hồn, lối sống, suy nghĩ, khát vọng… của một
dân tộc và những đặc tính riêng của dân tộc đó.
Cách tiếp cận thứ hai về bản sắc văn hóa là những quan niệm đề cập đến đặc
tính của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Lê Dư đã nêu lên ý kiến của mình
thông qua việc dẫn lại cuộc đối thoại giữa Tôn Trung Sơn một chính khách - thủ
lĩnh Đảng Quốc dân Nhật Bản khi bàn luận về Việt Nam. Trong đó, nhà cách mạng
Trung Quốc quan niệm “Người Việt Nam họ có căn tính nô lệ, tôi xem họ có cái gì là
độc lập được đâu” [31, tr.200] nhưng vị chính khách Nhật Bản lại có quan điểm khác.
Ba là chính trị: các triều đại phong kiến đã tôn sùng Nho giáo, với chế độ khoa cử “là món quà rất hại mà nước Tàu tặng cho ta” [33, tr.508], bao nhiêu nhân tài của đất nước đều được đào tạo trong cái khuôn của trường lớp Nho giáo làm cho thần trí eo hẹp lại, không còn có tư tưỏng, có học vấn tự do. Cũng chỉ ra nguyên nhân nước ta không có Quốc học, học giả Thiếu Sơn cho rằng đó là cách học của người Việt Nam. Nếu việc học có hai bước, bước thứ nhất là nhân: bắt chước của người để làm hay cho mình, cốt phải đồng; bước thứ hai là cách; sáng tạo ra cái mới, cốt phải dị; đồng và dị giúp lẫn nhau làm cho học thuật được mở mang thì ở nước ta, việc học chỉ có nhân mà không có cách, có đồng mà không có dị, không đủ thay thế được Hán học của Trung Hoa, không ảnh hưởng đến văn học, xã hội cho nên theo Thiếu Sơn, nước ta cũng chưa thể có Quốc học. Qua những ý kiến của các học giả trong cuộc tranh luận về Quốc học trên đây cho thấy sự phong phú, đa dạng trong những quan niệm về Quốc học. Vấn đề đặt ra ở đây là văn hóa bao gồm nhiều thành tố, mặc dù văn học, học thuật, tư tưởng là những thành tố quan trọng nhưng nếu cho bản sắc văn hóa dân tộc chỉ có trong những thành tố đó thì rất hạn hẹp và không thể hiện đầy đủ được đặc tính của một dân tộc. Trên thực tế, không phải dân tộc nào cũng đóng góp cho nhân loại những học thuyết, hệ tư tưởng, những tác phẩm văn chương nổi tiếng… nhưng các dân tộc đó vẫn có bản sắc riêng, tạo nên sự đa dạng của văn hóa nhân loại. Do đó, bản sắc văn hóa còn biểu hiện ra ở nhiều phương diện khác nữa: tâm hồn, lối sống, suy nghĩ, khát vọng… của một dân tộc và những đặc tính riêng của dân tộc đó. Cách tiếp cận thứ hai về bản sắc văn hóa là những quan niệm đề cập đến đặc tính của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Lê Dư đã nêu lên ý kiến của mình thông qua việc dẫn lại cuộc đối thoại giữa Tôn Trung Sơn và một chính khách - thủ lĩnh Đảng Quốc dân Nhật Bản khi bàn luận về Việt Nam. Trong đó, nhà cách mạng Trung Quốc quan niệm “Người Việt Nam họ có căn tính nô lệ, tôi xem họ có cái gì là độc lập được đâu” [31, tr.200] nhưng vị chính khách Nhật Bản lại có quan điểm khác.
Ong cho rằng “người Việt Nam giỏi lắm, họ có cái đắc tính độc lập lắm” [31, tr.201].
Để chứng minh, ông đã lấy dẫn chứng trong lịch sử: trong tất cả các dân tộc thuộc
dòng Bách Việt chỉ có duy nhất Lạc Việt “độc lập riêng thành một nước” còn cả vùng
Quảng Tây, Quảng Đông rộng lớn đều chịu sự đồng hóa của người Tàu. Người Việt
Nam khi đã lập được quốc gia riêng của mình trải qua bao đời các triều đại phong kiến
Trung Quốc sang đánh phá “vẫn độc lập vững vàng”. Trước lập luận đầy tính
thuyết phục này, Tôn Trung Sơn ời ngượng không trả lời được. Dẫn lại câu
chuyện này, muốn khẳng định “căn tính độc lập” ông thủ lĩnh Đảng Quốc
dân Nhật Bản đặt cho người Việt Nam chính là bản sắc dân tộc, thể hiện nội lực của
văn hóa Việt Nam, sức sống của văn hóa Việt Nam trong lịch sử của dân tộc.
Người đầu tiên khái quát một cách có hệ thống những đặc tính của văn hóa
Việt Nam là Đào Duy Anh. Ông không nhắc lại cuộc tranh luận về Quốc học, bởi
Đào Duy Anh không quan niệm văn hóa chỉ bó hẹp trong văn học, học thuật, tư tưởng
của một dân tộc, văn hóa là phương thức sinh hoạt của con người, từ sinh hoạt kinh tế,
chính trị, xã hội cho đến tất cả các phong tục tập quán cho nên dân tộc nào cũng có nền
văn hóa riêng, có bản sắc riêng. Đào Duy Anh đã nêu lên năm đặc điểm mà ông gọi
“đặc tính” của văn hóa Việt Nam:
- Xã hội lấy gia tộc làm sở: nhân không có quyền lợi và địa vị độc lập,
những luân lý đạo đức, chế độ văn vật, chính trị pháp luật đều lấy gia tộc chủ nghĩa
làm gốc.
- Văn hóa lấy cảm tình làm “bản vị”: lấy tình cảm quan hệ với nhau chứ
không dựa vào pháp luật như ở phương Tây.
-Tính tình ưa chuộng hòa bình, chỉ cốt an cư lạc nghiệp chứ không muốn cạnh
tranh với ai.
- Nhân sinh quan kiện toàn; trông cậy vào con cháu để lưu truyền nòi giống và
tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên.
Ong cho rằng “người Việt Nam giỏi lắm, họ có cái đắc tính độc lập lắm” [31, tr.201]. Để chứng minh, ông đã lấy dẫn chứng trong lịch sử: trong tất cả các dân tộc thuộc dòng Bách Việt chỉ có duy nhất Lạc Việt “độc lập riêng thành một nước” còn cả vùng Quảng Tây, Quảng Đông rộng lớn đều chịu sự đồng hóa của người Tàu. Người Việt Nam khi đã lập được quốc gia riêng của mình trải qua bao đời các triều đại phong kiến Trung Quốc sang đánh phá mà “vẫn độc lập vững vàng”. Trước lập luận đầy tính thuyết phục này, Tôn Trung Sơn cười ngượng mà không trả lời được. Dẫn lại câu chuyện này, Lê Dư muốn khẳng định “căn tính độc lập” mà ông thủ lĩnh Đảng Quốc dân Nhật Bản đặt cho người Việt Nam chính là bản sắc dân tộc, thể hiện nội lực của văn hóa Việt Nam, sức sống của văn hóa Việt Nam trong lịch sử của dân tộc. Người đầu tiên khái quát một cách có hệ thống những đặc tính của văn hóa Việt Nam là Đào Duy Anh. Ông không nhắc lại cuộc tranh luận về Quốc học, bởi vì Đào Duy Anh không quan niệm văn hóa chỉ bó hẹp trong văn học, học thuật, tư tưởng của một dân tộc, văn hóa là phương thức sinh hoạt của con người, từ sinh hoạt kinh tế, chính trị, xã hội cho đến tất cả các phong tục tập quán cho nên dân tộc nào cũng có nền văn hóa riêng, có bản sắc riêng. Đào Duy Anh đã nêu lên năm đặc điểm mà ông gọi là “đặc tính” của văn hóa Việt Nam: - Xã hội lấy gia tộc làm cơ sở: cá nhân không có quyền lợi và địa vị độc lập, những luân lý đạo đức, chế độ văn vật, chính trị pháp luật đều lấy gia tộc chủ nghĩa làm gốc. - Văn hóa lấy cảm tình làm “bản vị”: lấy tình cảm mà quan hệ với nhau chứ không dựa vào pháp luật như ở phương Tây. -Tính tình ưa chuộng hòa bình, chỉ cốt an cư lạc nghiệp chứ không muốn cạnh tranh với ai. - Nhân sinh quan kiện toàn; trông cậy vào con cháu để lưu truyền nòi giống và tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên.
- Tính trường tồn: văn hóa đời xưa thế nào thì đời nay vẫn thế
Đây là những giá trị được dân tộc thừa nhận và sống theo các giá trị này nên trở
thành bản sắc của dân tộc. Tuy nhiên nó không phải là cái bất biến, được hình thành
trong những điều kiện xã hội và điều kiện lịch sử nhất định nên khi những điều kiện ấy
thay đổi thì các giá trị cũng không thể đứng yên được. Trước cuộc tiếp xúc với văn
hóa phương Tây, những giá trị trong xã hội nông nghiệp vốn “có kết quả tốt” thì ngày
nay “hóa thành những tệ hại rất trỏ ngại cho sự sinh hoạt ở thời đại này”. Chế độ gia
đình trước kia làm cho ngày nay con người “yếu hèn” không có “tư cách độc lập và tự
tôn, cho nên ra đời không nhiệt m tiến thủ năng lực cạnh tranh” [2, tr.387].
Tinh thần gia tộc phát triển mạnh cho nên tinh thần quốc gia và quốc dân chỉ “như
đống cát rời, không tinh thần hợp quần đoàn kết” [2, tr.387]. Tính ưa chuộng hòa
bình có thể biến con người thành “nhu nhược, cẩu thả, lây lất, nhẫn nhục, vô sỉ, không
chút lòng hăng hái phấn đấu nào” [2, tr.388]. Như vậy, với những quan niệm này
của Đào Duy Anh, có thể nhận thức rằng, bản sắc dân tộc không phải là cái bất biến,
không phải chỉ có phần tốt và không phải lúc nào cũng giữ nguyên giá trị như ban đầu,
nó có thể biến đổi theo những điều kiện đã sinh ra nó.
Đặc tính văn hóa của dân tộc còn được các học giả đề cập đến ở tính cách con
người Việt Nam với tư cáchngưòi “mang vác những giá trị văn hóa”. Xuất phát từ
mục đích: ta hãy tự hiểu lấy ta; phải biết ta, biết người; đánh thức dậy “những cái năng
lực ngấm ngầm của ta và làm cho nảy nở ở ta cái bản sắc quốc gia hiện nay đang mù
mờ” [31, tr.200]. Các học giả đều mong muốn cho người Việt Nam không phải là
người Tàu, không phải người Tây chúng ta phải là “người An Nam”. Nhà văn
Lan Khai đã lấy lời nhận xét của một văn sĩ Pháp - Boissiere và một võ tướng đã tham
dự vào cuộc xâm lược Việt Nam - Gosselin về người Việt mà ông cho rằng công bằng
thành thực, có thể sáng suốt hơn cả việc mình xét mình. Theo Bossiere thì phần
đông hay tất cả mọi người đều nhận thấy ở người Việt Nam, đàn ông cũng như đàn bà
đều “chất phác, hiếu khách, không thù lâu”; “không trục lợi, không láo lếu, không hay
trả thù”; “sự dịu dàng dễ dãi của phong tục,cảm tình mau bộc bạch, vì sự lịch
thiệp, dù ngay trong hạng ngu dốt cũng vậy. Về tôn giáo cũng như về chính trị, người
- Tính trường tồn: văn hóa đời xưa thế nào thì đời nay vẫn thế Đây là những giá trị được dân tộc thừa nhận và sống theo các giá trị này nên trở thành bản sắc của dân tộc. Tuy nhiên nó không phải là cái bất biến, được hình thành trong những điều kiện xã hội và điều kiện lịch sử nhất định nên khi những điều kiện ấy thay đổi thì các giá trị cũng không thể đứng yên được. Trước cuộc tiếp xúc với văn hóa phương Tây, những giá trị trong xã hội nông nghiệp vốn “có kết quả tốt” thì ngày nay “hóa thành những tệ hại rất trỏ ngại cho sự sinh hoạt ở thời đại này”. Chế độ gia đình trước kia làm cho ngày nay con người “yếu hèn” không có “tư cách độc lập và tự tôn, cho nên ra đời không có nhiệt tâm tiến thủ và năng lực cạnh tranh” [2, tr.387]. Tinh thần gia tộc phát triển mạnh cho nên tinh thần quốc gia và quốc dân chỉ “như đống cát rời, không có tinh thần hợp quần đoàn kết” [2, tr.387]. Tính ưa chuộng hòa bình có thể biến con người thành “nhu nhược, cẩu thả, lây lất, nhẫn nhục, vô sỉ, không có chút lòng hăng hái phấn đấu nào” [2, tr.388]. Như vậy, với những quan niệm này của Đào Duy Anh, có thể nhận thức rằng, bản sắc dân tộc không phải là cái bất biến, không phải chỉ có phần tốt và không phải lúc nào cũng giữ nguyên giá trị như ban đầu, nó có thể biến đổi theo những điều kiện đã sinh ra nó. Đặc tính văn hóa của dân tộc còn được các học giả đề cập đến ở tính cách con người Việt Nam với tư cách là ngưòi “mang vác những giá trị văn hóa”. Xuất phát từ mục đích: ta hãy tự hiểu lấy ta; phải biết ta, biết người; đánh thức dậy “những cái năng lực ngấm ngầm của ta và làm cho nảy nở ở ta cái bản sắc quốc gia hiện nay đang mù mờ” [31, tr.200]. Các học giả đều có mong muốn cho người Việt Nam không phải là người Tàu, không phải là người Tây mà chúng ta phải là “người An Nam”. Nhà văn Lan Khai đã lấy lời nhận xét của một văn sĩ Pháp - Boissiere và một võ tướng đã tham dự vào cuộc xâm lược Việt Nam - Gosselin về người Việt mà ông cho rằng công bằng và thành thực, có thể sáng suốt hơn cả việc mình xét mình. Theo Bossiere thì phần đông hay tất cả mọi người đều nhận thấy ở người Việt Nam, đàn ông cũng như đàn bà đều “chất phác, hiếu khách, không thù lâu”; “không trục lợi, không láo lếu, không hay trả thù”; “sự dịu dàng và dễ dãi của phong tục, vì cảm tình mau bộc bạch, vì sự lịch thiệp, dù ngay trong hạng ngu dốt cũng vậy. Về tôn giáo cũng như về chính trị, người
Việt Nam không tin một cách mù lòa” [33, tr.251]. Ngoài ra, người Việt Nam nóng
tính, ồn ào, ham cờ bạc nhưng so với cái “lãnh đạm, giả trá” của người Tàu thì người
Việt Nam rất “đáng mến”, “đáng yêu”. Dưới con mắt của một người đã tham gia vào
việc đánh chiếm Việt Nam, Gosselin rất thán phục về sự can đảm, lòng yêu nước,
trung thành, tận tâm và khinh ghét cái chết của người Việt Nam “Có một tinh thần
mãnh liệt lắm mới chống chọi được với ta lâu ngần ấy năm, mặc dầu họ không có khí
giới tốt. Đứng trước súng của ta, người Việt Nam chỉ còn một chết để giữ gìn tự do
của họ; hết thảy đều đối diện cái chết một cách can đảm bình tĩnh. Ngay những
người bỏ thân dưới tay đao phủ hay trước ngọn súng hành hình cũng tuyệt nhiên
không tỏ ra hèn yếu bao giờ [33, tr.251]. Dẫn ra những đánh giá trên đây, Lan Khai
cho rằng chính nhờ những đức tính đó mà dân tộc Việt Nam sống được tới ngày nay,
mặc dầu đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, không những chiến thắng trước
nhiều cuộc xâm lược của nước ngoài “nhiều phen làm cho tên tuổi ta rực rỡ một
góc trời”. Nhà sử học Trần Trọng Kim nhận xét về người Việt Nam: trí tuệ minh mẫn;
có tính hiếu học; trọng học thức, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đạo lý; muốn hòa bình;
can đảm, biết giữ kỷ luật nếu phải đi trận mạc, tuy nhiên, cũng có tính “tinh vặt, cũng
khi quỷ quyệt hay bài bác, chế nhạo” [33, tr.344]. Trong cuốn Việt Nam văn
hóa sử ơng”, sau khi trình bày nguồn gốc hình thành quá trình sinh sống của
người Việt Nam, Đào Duy Anh đã khái quát những đặc điểm của người Việt Nam:
thông minh nhưng ít người trí tuệ lỗi lạc, giàu trí nghệ thuật, trực giác hơn trí
khoa học, luân lý; ham học nhưng thích văn chương phù hoa, thích hình thứcn là
thực học, tưởng hoạt động; cần cù chịu khó, chịu đau đớn cực khổ hay nhẫn nhục;
hay nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa
hư danh và ham mê cờ bạc; chuộng hòa bình nhưng cũng có thể hy sinh vì đại nghĩa;
sáng tác thì ít nhưng bắt chước, thích ứng dung hóa rất tài...Học giả Nguyễn Văn
Huyên trong công trình Văn minh Việt Nam viết năm 1939 cũng đã trình bày tính cách
của người Việt Nam ở hai phương diện: tích cực và hạn chế. phương diện tích cực,
người Việt có những nét chủ yếu:
Yêu hòa bình, yêu độc lập tự do “Họ ghét chiến tranh và khinh bỉ các biểu hiện bạo
lực”, “họ ghét mọi sự gò bó và mọi quy tắc quá chặt chẽ” [26, tr.76].
Việt Nam không tin một cách mù lòa” [33, tr.251]. Ngoài ra, người Việt Nam nóng tính, ồn ào, ham cờ bạc nhưng so với cái “lãnh đạm, giả trá” của người Tàu thì người Việt Nam rất “đáng mến”, “đáng yêu”. Dưới con mắt của một người đã tham gia vào việc đánh chiếm Việt Nam, Gosselin rất thán phục về sự can đảm, lòng yêu nước, trung thành, tận tâm và khinh ghét cái chết của người Việt Nam “Có một tinh thần mãnh liệt lắm mới chống chọi được với ta lâu ngần ấy năm, mặc dầu họ không có khí giới tốt. Đứng trước súng của ta, người Việt Nam chỉ còn một chết để giữ gìn tự do của họ; hết thảy đều đối diện cái chết một cách can đảm và bình tĩnh. Ngay những người bỏ thân dưới tay đao phủ hay trước ngọn súng hành hình cũng tuyệt nhiên không tỏ ra hèn yếu bao giờ [33, tr.251]. Dẫn ra những đánh giá trên đây, Lan Khai cho rằng chính nhờ những đức tính đó mà dân tộc Việt Nam sống được tới ngày nay, mặc dầu đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, không những chiến thắng trước nhiều cuộc xâm lược của nước ngoài mà “nhiều phen làm cho tên tuổi ta rực rỡ một góc trời”. Nhà sử học Trần Trọng Kim nhận xét về người Việt Nam: trí tuệ minh mẫn; có tính hiếu học; trọng học thức, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đạo lý; muốn hòa bình; can đảm, biết giữ kỷ luật nếu phải đi trận mạc, tuy nhiên, cũng có tính “tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt và hay bài bác, chế nhạo” [33, tr.344]. Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, sau khi trình bày nguồn gốc hình thành và quá trình sinh sống của người Việt Nam, Đào Duy Anh đã khái quát những đặc điểm của người Việt Nam: thông minh nhưng ít người có trí tuệ lỗi lạc, giàu trí nghệ thuật, trực giác hơn là trí khoa học, luân lý; ham học nhưng thích văn chương phù hoa, thích hình thức hơn là thực học, tư tưởng hoạt động; cần cù chịu khó, chịu đau đớn cực khổ hay nhẫn nhục; hay nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và ham mê cờ bạc; chuộng hòa bình nhưng cũng có thể hy sinh vì đại nghĩa; sáng tác thì ít nhưng bắt chước, thích ứng và dung hóa rất tài...Học giả Nguyễn Văn Huyên trong công trình Văn minh Việt Nam viết năm 1939 cũng đã trình bày tính cách của người Việt Nam ở hai phương diện: tích cực và hạn chế. ở phương diện tích cực, người Việt có những nét chủ yếu: Yêu hòa bình, yêu độc lập tự do “Họ ghét chiến tranh và khinh bỉ các biểu hiện bạo lực”, “họ ghét mọi sự gò bó và mọi quy tắc quá chặt chẽ” [26, tr.76].
Dũng cảm, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp lớn.
Hiền lành, thích yên ổn, rất dễ phục thiện, tinh thần hiếu khách, hào hiệp.
Cần cù lao động, đức tính kiên nhẫn, đầu óc thực tế.
Không có đầu óc kỳ thị tôn giáo “Người Việt Nam có một thái độ khoan dung
hoàn toàn đối với các hệ thống hoặc tín điều tôn giáo khác nhau” [26, tr.263].
ở phương diện nhược điểm của người Việt, Nguyễn Văn Huyên nêu lên những
biểu hiện:
Tính hiếu danhthích nổi bật trước mắt kẻ khác thích nêu danh nêu giá”.
Nền giáo dục truyền thống thiếu phương pháp khoa học, đưa quá nhiều sách vở
vào trí nhớ của trẻ em, điều đó làm thui chột óc suy diễn, khả năng sáng tạo cần thiết
cho nghiên cứu khoa học. Kết quả là dẫn đến sự lười biếng về trí óc, xu hướng dễ
dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy ở nhiều người.
Có khuynh hướng mơ mộng, có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Họ nhạy
cảm hơn là có lý tính.
Đa số chỉ mong ước nghề làm quan con đường đã vạch sẵn không đòi hỏi
nhiều cố gắng độc đáo, mà lại đem nhiều vinh hiển nhất [26, tr.78].
Như vậy, với các quan niệm trên đây đều thể hiện cả mặt tốt mặt hạn chế
trong tính cách con người Việt Nam. Nếu như mặt tốt đã vai trò lớn giúp cho dân
tộc Việt Nam tồn tại những trang sử hào hùng trong lịch sử thì mặt hạn chế
sản phẩm của nền sản xuất nông nghiệp, tính chất tiểu nông còn đậm đặc trong mỗi
người Việt Nam tạo nên lực cản trở lớn cho mỗi bước đi của dân tộc. Các học giả đã
không vì lòng tự hào dân tộc mà không vạch ra những bất cập của căn tính và tâm thức
tiểu nông Việt Nam. Đó là một công việc rất có ý nghĩa và trách nhiệm đối với dân tộc
trên con đường hội nhập với thế giới. Đúng như lời của GS Đặng Thai Mai: không có
thể nhận thấy nết xấu trong dân tộc tính cũng không có thể biểu hiện được cái hay của
Dũng cảm, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp lớn. Hiền lành, thích yên ổn, rất dễ phục thiện, tinh thần hiếu khách, hào hiệp. Cần cù lao động, đức tính kiên nhẫn, đầu óc thực tế. Không có đầu óc kỳ thị tôn giáo “Người Việt Nam có một thái độ khoan dung hoàn toàn đối với các hệ thống hoặc tín điều tôn giáo khác nhau” [26, tr.263]. ở phương diện nhược điểm của người Việt, Nguyễn Văn Huyên nêu lên những biểu hiện: Tính hiếu danh “thích nổi bật trước mắt kẻ khác và thích nêu danh nêu giá”. Nền giáo dục truyền thống thiếu phương pháp khoa học, đưa quá nhiều sách vở vào trí nhớ của trẻ em, điều đó làm thui chột óc suy diễn, khả năng sáng tạo cần thiết cho nghiên cứu khoa học. Kết quả là dẫn đến sự lười biếng về trí óc, có xu hướng dễ dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy ở nhiều người. Có khuynh hướng mơ mộng, có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Họ nhạy cảm hơn là có lý tính. Đa số chỉ mong ước nghề làm quan là con đường đã vạch sẵn không đòi hỏi nhiều cố gắng độc đáo, mà lại đem nhiều vinh hiển nhất [26, tr.78]. Như vậy, với các quan niệm trên đây đều thể hiện cả mặt tốt và mặt hạn chế trong tính cách con người Việt Nam. Nếu như mặt tốt đã có vai trò lớn giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và có những trang sử hào hùng trong lịch sử thì mặt hạn chế là sản phẩm của nền sản xuất nông nghiệp, tính chất tiểu nông còn đậm đặc trong mỗi người Việt Nam tạo nên lực cản trở lớn cho mỗi bước đi của dân tộc. Các học giả đã không vì lòng tự hào dân tộc mà không vạch ra những bất cập của căn tính và tâm thức tiểu nông Việt Nam. Đó là một công việc rất có ý nghĩa và trách nhiệm đối với dân tộc trên con đường hội nhập với thế giới. Đúng như lời của GS Đặng Thai Mai: không có thể nhận thấy nết xấu trong dân tộc tính cũng không có thể biểu hiện được cái hay của
nó, một mặt cần người “nhắc nhở cho đừng quên nết hay của nó” nhưng mặt
quan trọng hơn “cần kẻ luôn luôn tố cáo cho biết những nết xấu, nết dở
sẵn”[33, tr.398]. Ngày nay, chúng ta gọi những đức tính của người Việt Nam là phẩm
chất tinh thần, tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành TW khóa VIII của Đảng đã nêu ra năm đức tính của người Việt
Nam, nhưng cũng cần thấy rằng bên cạnh đó, những mặt bất cập của căn tính tâm
thức tiểu nông của người Việt Nam như tính hẹp hòi, đố kị, bè phái, kiêu căng tự mãn
“rởm”… đang là thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cần được chúng ta
xem xét theo tinh thần của các học giả trong giai đoạn này.
Cách tiếp cận thứ ba về bản sắc văn hóa dân tộc là so sánh văn hóa Việt Nam
với văn hóa Trung Hoa. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là quan niệm của nhà nghiên
cứu Kim Định. Khác với một số học giả thường lấy văn hóa Trung Hoa làm trung tâm,
là hệ quy chiếu để nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Kim Định chứng minh không phải
văn hóa của người Việt vay mượn văn hóa Trung Hoa mà ngược lại nhiều yếu tố của
văn hóa Trung Hoa có nguồn gốc từ văn hóa Việt Nam. Nho giáo là một trong ba yếu
tố cấu thành văn hóa Hán nhưng theo Kim Định thì “ba cột cái” của Nho giáo đều của
Lạc Việt là đạo thờ trời, lễ gia tiên và ngũ hành, ông coi đó là Việt Nho, khác với Hán
Nho và đưa ra lập luận để chứng minh:
Đạo thờ trời của người Việt về sau người Tàu mượn và dành cho vua, dân
không được thờ, trong khi đó ở ta đến năm 1945 có nơi đến 80% gia đình trong nhà có
bàn thờ ông Thiên.
Lễ gia tiên cũng là của Lạc Việt, người Tàu mượn và dành cho quý tộc, chứ dân
chúng không được thờ, gia đình Tàu không có bàn thờ tổ tiên khác hẳn với Việt Nam
nhà nào cũng có. Như vậy nơi xuất phát là Việt thì người Việt mới thấm nhuần nhiều
được như vậy.
Khổng tử tuyên bố “thuật nhi bất tác” tức là chỉ thuật lại đạo cổ xưa chưa không
sáng tác, đạo cổ đó chính là ở phương Nam, là miền có sự hiện diện lâu đời của người
Lạc Việt.
nó, một mặt cần có người “nhắc nhở cho nó đừng quên nết hay của nó” nhưng mặt quan trọng hơn là “cần có kẻ luôn luôn tố cáo cho biết những nết xấu, nết dở nó có sẵn”[33, tr.398]. Ngày nay, chúng ta gọi những đức tính của người Việt Nam là phẩm chất tinh thần, nó tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành TW khóa VIII của Đảng đã nêu ra năm đức tính của người Việt Nam, nhưng cũng cần thấy rằng bên cạnh đó, những mặt bất cập của căn tính và tâm thức tiểu nông của người Việt Nam như tính hẹp hòi, đố kị, bè phái, kiêu căng tự mãn “rởm”… đang là thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cần được chúng ta xem xét theo tinh thần của các học giả trong giai đoạn này. Cách tiếp cận thứ ba về bản sắc văn hóa dân tộc là so sánh văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là quan niệm của nhà nghiên cứu Kim Định. Khác với một số học giả thường lấy văn hóa Trung Hoa làm trung tâm, là hệ quy chiếu để nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Kim Định chứng minh không phải văn hóa của người Việt vay mượn văn hóa Trung Hoa mà ngược lại nhiều yếu tố của văn hóa Trung Hoa có nguồn gốc từ văn hóa Việt Nam. Nho giáo là một trong ba yếu tố cấu thành văn hóa Hán nhưng theo Kim Định thì “ba cột cái” của Nho giáo đều của Lạc Việt là đạo thờ trời, lễ gia tiên và ngũ hành, ông coi đó là Việt Nho, khác với Hán Nho và đưa ra lập luận để chứng minh: Đạo thờ trời là của người Việt về sau người Tàu mượn và dành cho vua, dân không được thờ, trong khi đó ở ta đến năm 1945 có nơi đến 80% gia đình trong nhà có bàn thờ ông Thiên. Lễ gia tiên cũng là của Lạc Việt, người Tàu mượn và dành cho quý tộc, chứ dân chúng không được thờ, gia đình Tàu không có bàn thờ tổ tiên khác hẳn với Việt Nam nhà nào cũng có. Như vậy nơi xuất phát là Việt thì người Việt mới thấm nhuần nhiều được như vậy. Khổng tử tuyên bố “thuật nhi bất tác” tức là chỉ thuật lại đạo cổ xưa chưa không sáng tác, đạo cổ đó chính là ở phương Nam, là miền có sự hiện diện lâu đời của người Lạc Việt.
Để khẳng định giả thuyết mình đưa ra là hoàn toàn có cơ sở, Kim Định đã đưa
ra một phương pháp mới gọi là “chỉ số văn hóa” lượng hóa những yếu tố căn bản của
Nho bằng số điểm, sau đó so sánh số điểm của Hán nho và Việt nho để xem hơn kém.
Yếu tố thứ nhất là nhân chủ với lý tưởng là phụng sự con người thì người Việt
đóng góp 80%, truyền thống dân tộc Việt Nam không chuyện giết người hay bắt
người khác hy sinh cho những tư tưởng, Tàu còn chôn người theo kẻ chết chứ Việt
Nam thì không.
Yếu tố thứ hai là dân quyền - xã hội không có thiên quyền và địa quyền, trong đó
thiên quyền là có hàng tăng lữ nắm quyền, địa quyền là quyền lực nằm trong tay các thế
lực tài chính. Về điểm này thì Việt Nam vẫn hơn Tàu, ví dụ xã thôn Việt Nam dân chủ
hơn xã thôn Tàu nên quy cho người Việt 70%.
Yếu tố thứ ba là bình quyền - mọi người đều được hưởng quyền lợi như nhau,
cùng ăn cùng chịu, không đặc ân, đặc quyền. Bên Tàu tài sản chủ yếu tập trung
trong các triều đại hoàng thân quốc thích, nhà Tống chỉ 4% ruộng công so với
bên ta năm 1940 còn đến 20%, Kim Định quy điểm này cho Việt Nam 60%.
Yếu tố thứ bình quyền nam nữ: Việt Nam nói chung phụ nữ vẫn tự do
hơn bên Tàu, có khi có địa vị ngang hàng với đàn ông, được nắm quyền tư tế(bà đồng)
hay ít hơn nữa là đồng tế trong lễ gia tiên, được thừa kế tài sản của chồng. đây là điểm
vượt trội của Việt Nam so với người Tàu nơi người chồng xem vcon n lệ,
người Việt được 70%.
Yếu tố thứ năm quân bình tình lý; người Tàu nặng trí, tâm tình cằn cỗi;
người Việt tình vẫn được duy trì cân đối với lý, điểm này được 80%.
Sau khi tổng hợp lại, Kim Định đưa ra kết quả chung, người Việt được 72 điểm,
theo ông chỉ cần 50 điểm là đủ điều kiện lập ra giả thuyết về sự đóng góp của người
Việt, cho nên với 72 điểm thì “giả thuyết có đủ nền tảng để lên bậc chủ thuyết: trong
đó Nho giáo khai người Lạc Việt đã đóng góp tới quá bán phần vậy” [19; tr.21].
Để khẳng định giả thuyết mình đưa ra là hoàn toàn có cơ sở, Kim Định đã đưa ra một phương pháp mới gọi là “chỉ số văn hóa” lượng hóa những yếu tố căn bản của Nho bằng số điểm, sau đó so sánh số điểm của Hán nho và Việt nho để xem hơn kém. Yếu tố thứ nhất là nhân chủ với lý tưởng là phụng sự con người thì người Việt đóng góp 80%, truyền thống dân tộc Việt Nam không có chuyện giết người hay bắt người khác hy sinh cho những tư tưởng, Tàu còn chôn người theo kẻ chết chứ Việt Nam thì không. Yếu tố thứ hai là dân quyền - xã hội không có thiên quyền và địa quyền, trong đó thiên quyền là có hàng tăng lữ nắm quyền, địa quyền là quyền lực nằm trong tay các thế lực tài chính. Về điểm này thì Việt Nam vẫn hơn Tàu, ví dụ xã thôn Việt Nam dân chủ hơn xã thôn Tàu nên quy cho người Việt 70%. Yếu tố thứ ba là bình quyền - mọi người đều được hưởng quyền lợi như nhau, cùng ăn cùng chịu, không có đặc ân, đặc quyền. Bên Tàu tài sản chủ yếu tập trung trong các triều đại và hoàng thân quốc thích, nhà Tống chỉ có 4% ruộng công so với bên ta năm 1940 còn đến 20%, Kim Định quy điểm này cho Việt Nam 60%. Yếu tố thứ tư là bình quyền nam nữ: ở Việt Nam nói chung phụ nữ vẫn tự do hơn bên Tàu, có khi có địa vị ngang hàng với đàn ông, được nắm quyền tư tế(bà đồng) hay ít hơn nữa là đồng tế trong lễ gia tiên, được thừa kế tài sản của chồng. đây là điểm vượt trội của Việt Nam so với người Tàu nơi người chồng xem vợ con như nô lệ, người Việt được 70%. Yếu tố thứ năm là quân bình tình lý; người Tàu nặng lý trí, tâm tình cằn cỗi; người Việt tình vẫn được duy trì cân đối với lý, điểm này được 80%. Sau khi tổng hợp lại, Kim Định đưa ra kết quả chung, người Việt được 72 điểm, theo ông chỉ cần 50 điểm là đủ điều kiện lập ra giả thuyết về sự đóng góp của người Việt, cho nên với 72 điểm thì “giả thuyết có đủ nền tảng để lên bậc chủ thuyết: trong đó Nho giáo sơ khai người Lạc Việt đã đóng góp tới quá bán phần vậy” [19; tr.21].
Cách tiếp cận này của Kim Định còn mang nhiều tính chất cảm tính, cực đoan, nhiều
kết luận ông đưa ra mang tính võ đoán chứ chưa dựa trên cơ sở khoa học. Nhưng
ràng, ông đã trở thành người tiên phong chống lại căn bệnh lấy Trung Hoa m
trung tâm” vốn đã ngự trị rất lâu trong giới trí thức Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào về
văn hóa dân tộc và khát vọng muốn chứng tỏ bản sắc của nền văn hóa ấy so với Trung
Hoa.
2.2.2. Về xây dựng văn hóa Việt Nam
Xây dựng một nền văn hóa mới là khát vọng, là trăn trở của giới trí thức đầu thế
kỷ XX. Việc tìm đến lý luận, tranh luận về học thuật, tư tưởng để có những nhận thức
lý luận về văn hóa trên đây cũng không nằm ngoài mục đích muốn tìm đường để gây
dựng một nền văn hóa riêng của dân tộc trong giai đoạn tiếp xúc với văn hóa phương
Tây.
Qua việc phản ánh hiện trạng của văn hóa Việt Nam, các học giả đã nêu lên s
bức thiết phải xây dựng một nền văn hóa mới trong điều kiện tiếp xúc với phương Tây.
Những người sáng lập ra báo Tao đàn coi “tình trạng thế giới hiện nay ví như một hội
nghị lớn lao và ầm ĩ, trong đó người Việt Nam không được phép dự bàn” [53, tr.1], bởi
vì mình thiếu một nền văn hóa, không có nền văn hóa riêng mà đã bị sáp nhập vào văn
hóa của Trung Hoa. Khi chúng ta gặp văn hóa Pháp nhiều thay đổi vừa có lợi vừa
có hại, nó giúp chúng ta nhận rõ những thiếu hụt của nền văn hóa để học hỏi, bổ sung
nhưng đồng thời nó đem đến cho ta “một sự thôn tính rất tai hại về tinh thần”. Từ đó
các học giả này kêu gọi “cần kíp phải tự gây cho mình một nền văn hóa, một nền văn
hóa Việt Nam và đó tức là một vấn đề sinh tử cho cả một dân tộc gồm hai mươi nhăm
triệu linh hồn” [53, tr.1]. Trong cuộc vận động văn hóa đầu thế kỷ XX do các sĩ phu
yêu nước khởi xướng, Văn minh tân học ch”, một cương lĩnh văn hóa cổ cho
phong trào duy tân đã chỉ ra được những hạn chế của văn hóa Việt Nam. Những hạn
chế đó thuộc về tưởng, giáo dục, kinh tế, cách tổ chức hội xuất phát từ bốn
nguyên nhân: không học hỏi đến chính thuật kỹ năng của nước khác; không giảng
đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài; không chịu xem xét kiến thức và những
Cách tiếp cận này của Kim Định còn mang nhiều tính chất cảm tính, cực đoan, nhiều kết luận mà ông đưa ra mang tính võ đoán chứ chưa dựa trên cơ sở khoa học. Nhưng rõ ràng, ông đã trở thành người tiên phong chống lại căn bệnh “lấy Trung Hoa làm trung tâm” vốn đã ngự trị rất lâu trong giới trí thức Việt Nam, khơi dậy lòng tự hào về văn hóa dân tộc và khát vọng muốn chứng tỏ bản sắc của nền văn hóa ấy so với Trung Hoa. 2.2.2. Về xây dựng văn hóa Việt Nam Xây dựng một nền văn hóa mới là khát vọng, là trăn trở của giới trí thức đầu thế kỷ XX. Việc tìm đến lý luận, tranh luận về học thuật, tư tưởng để có những nhận thức lý luận về văn hóa trên đây cũng không nằm ngoài mục đích muốn tìm đường để gây dựng một nền văn hóa riêng của dân tộc trong giai đoạn tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Qua việc phản ánh hiện trạng của văn hóa Việt Nam, các học giả đã nêu lên sự bức thiết phải xây dựng một nền văn hóa mới trong điều kiện tiếp xúc với phương Tây. Những người sáng lập ra báo Tao đàn coi “tình trạng thế giới hiện nay ví như một hội nghị lớn lao và ầm ĩ, trong đó người Việt Nam không được phép dự bàn” [53, tr.1], bởi vì mình thiếu một nền văn hóa, không có nền văn hóa riêng mà đã bị sáp nhập vào văn hóa của Trung Hoa. Khi chúng ta gặp văn hóa Pháp có nhiều thay đổi vừa có lợi vừa có hại, nó giúp chúng ta nhận rõ những thiếu hụt của nền văn hóa để học hỏi, bổ sung nhưng đồng thời nó đem đến cho ta “một sự thôn tính rất tai hại về tinh thần”. Từ đó các học giả này kêu gọi “cần kíp phải tự gây cho mình một nền văn hóa, một nền văn hóa Việt Nam và đó tức là một vấn đề sinh tử cho cả một dân tộc gồm hai mươi nhăm triệu linh hồn” [53, tr.1]. Trong cuộc vận động văn hóa đầu thế kỷ XX do các sĩ phu yêu nước khởi xướng, “Văn minh tân học sách”, một cương lĩnh văn hóa cổ vũ cho phong trào duy tân đã chỉ ra được những hạn chế của văn hóa Việt Nam. Những hạn chế đó thuộc về tư tưởng, giáo dục, kinh tế, cách tổ chức xã hội xuất phát từ bốn nguyên nhân: không học hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác; không giảng đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài; không chịu xem xét kiến thức và những