Luận văn đề tài: Quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945

1,774
18
96
hóa đó đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Hoa. Với một quan niệm như
thế, văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động hội, tạo nên lối sống coi trọng tình cảm,
tạo nên một “khung cảnh sinh hoạt êm ấm”, “cái đẹp thanh nhã trong các quan hệ xã
hội”... [72, tr.344]. Coi trọng tu thân, xem tu thân là chủ đạo của văn hóa, quan niệm
văn hóa văn trị giáo hóa “mang màu sắc hướng nội về văn hóa” [72, tr.349], chú
trọng ở khả năng giúp con người rèn luyện nhân cách và thích ứng với hoàn cảnh xung
quanh. đương nhiên, khác biệt với quan niệm của phương Tây v văn hóa -
quan niệm nhấn mạnh đến sự cố gắng của con người trong việc chinh phục tự nhiên,
con người là chủ nhân ông của thế giới, là chủ thể của hoạt động văn hóa. Cuộc đụng
độ với văn hóa phương Tây cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã buộc các học giả
từng bước thừa nhận và tiếp thu quan niệm văn hóa này. Văn hóa với tư cách một
thuật ngữ khoa học đã bắt đầu xuất hiện trong không khí sôi nổi của các cuộc tranh
luận học thuật, tư tưởng ở nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên chúng vẫn không nằm tập
trung ở một tác phẩm cụ thể mà rải rác trong các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí
và có thể khái quát theo ba xu hướng sau:
Thứ nhất, xem xét văn hoá như là các giá trị do con người sáng tạo ra trong quá
trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Thứ hai, xem xét văn hoá như là đời sống tinh thần của con người.
Thứ ba, đồng nhất văn hóa với chính các thành tố của nó (ngôn ngữ, khoa học,
văn chương…).
Tiêu biểu cho xu hướng thứ nhất một tên tuổi lớn trong nền văn hóa Việt
Nam, người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc nghiên cứu văn hóa ở nước ta -
học giả Đào Duy Anh. Trong cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” ở thiên Tự luận,
Đào Duy Anh đặt vấn đề: tại sao văn hóa của các dân tộc lại khác nhau? Theo ông, đó
không phải là do sự khác nhau về học thuật, tư tưởng mà là do cách sinh hoạt của các
dân tộc không giống nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi của một cuốn sách thuộc chương
trình ban Cao đẳng tiểu học, Đào Duy Anh không có điều kiện đi sâu vào những vấn
đề học thuật, trình bày sâu sắc khái niệm văn hóa. Mặc dù tiêu đề của phần tự luận có
hóa đó đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Hoa. Với một quan niệm như thế, văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động xã hội, tạo nên lối sống coi trọng tình cảm, tạo nên một “khung cảnh sinh hoạt êm ấm”, “cái đẹp thanh nhã trong các quan hệ xã hội”... [72, tr.344]. Coi trọng tu thân, xem tu thân là chủ đạo của văn hóa, quan niệm văn hóa là văn trị giáo hóa “mang màu sắc hướng nội về văn hóa” [72, tr.349], chú trọng ở khả năng giúp con người rèn luyện nhân cách và thích ứng với hoàn cảnh xung quanh. Và đương nhiên, nó khác biệt với quan niệm của phương Tây về văn hóa - quan niệm nhấn mạnh đến sự cố gắng của con người trong việc chinh phục tự nhiên, con người là chủ nhân ông của thế giới, là chủ thể của hoạt động văn hóa. Cuộc đụng độ với văn hóa phương Tây ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã buộc các học giả từng bước thừa nhận và tiếp thu quan niệm văn hóa này. Văn hóa với tư cách là một thuật ngữ khoa học đã bắt đầu xuất hiện trong không khí sôi nổi của các cuộc tranh luận học thuật, tư tưởng ở nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên chúng vẫn không nằm tập trung ở một tác phẩm cụ thể mà rải rác trong các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí và có thể khái quát theo ba xu hướng sau: Thứ nhất, xem xét văn hoá như là các giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Thứ hai, xem xét văn hoá như là đời sống tinh thần của con người. Thứ ba, đồng nhất văn hóa với chính các thành tố của nó (ngôn ngữ, khoa học, văn chương…). Tiêu biểu cho xu hướng thứ nhất là một tên tuổi lớn trong nền văn hóa Việt Nam, người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc nghiên cứu văn hóa ở nước ta - học giả Đào Duy Anh. Trong cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” ở thiên Tự luận, Đào Duy Anh đặt vấn đề: tại sao văn hóa của các dân tộc lại khác nhau? Theo ông, đó không phải là do sự khác nhau về học thuật, tư tưởng mà là do cách sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi của một cuốn sách thuộc chương trình ban Cao đẳng tiểu học, Đào Duy Anh không có điều kiện đi sâu vào những vấn đề học thuật, trình bày sâu sắc khái niệm văn hóa. Mặc dù tiêu đề của phần tự luận có
tên “Văn hóa là gì?” nhưng ông mới chỉ “giải thích qua loa” thuật ngữ này. Công việc
đó chỉ được thực hiện trong cuốn sách cũng tên “Văn hóa ?” viết vào năm
1945, Đào Duy Anh nhắc lại mối quan hệ giữa văn hóa sinh hoạt, đồng thời ông
phân tích sâu sắc mối quan hệ này để từ đó đi đến một quan niệm “Văn hóa tức là ph-
ương thức sinh hoạt” [3, tr.8]. Với cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến một phạm vi
rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh
hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội. Cách sinh hoạt của mỗi dân
tộc quy định bởi trình độ phân công hợp tác trong lao động, các dân tộc sơ khai ở giai
đoạn du mục, nông nghiệp khác với các dân tộc văn minh ở chế độ công nghiệp, tương
ứng với sự khác nhau đó là sự khác nhau về văn hóa. Mặc dù coi văn hóa và sinh hoạt
có mối quan hệ mật thiết với nhau song theo ông văn hóa và sinh hoạt là hai cái khác
nhau, chúng không đồng nhất với nhau. Chẳng hạn, người nông dân cày ruộng đó là
sinh hoạt chứ không phải hoạt động văn hóa nhưng người xưa nhờ kinh nghiệm
thiên tài mà làm ra lưỡi cày đồng, lưỡi cày sắt thay cho lưỡi cuốc đá, biết dùng trâu bò
thay cho sức người là đã sản sinh ra giá trị văn hóa, làm cho văn hóa tiến bộ. Hoặc một
ví dụ khác, người mất trộm vác đơn đi kiện, ông quan tòa ngồi xử kiện, đó là sinh hoạt
còn tất cả những người đã tham dự vào sự tạo thành tục lệ hay pháp luật là hoạt động
về văn hóa. Như vậy, cái sinh hoạt” Đào Duy Anh dùng để chỉ văn hóa không
phải là những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống hàng ngày, theo ông chỉ những
sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị mới được gọi văn hóa. Đương nhiên, những giá
trị đó chỉ được nảy nở trong hoạt động, trong sinh hoạt của con người, cho nên văn hóa
không thể “lìa sinh hoạt” mà phát triển được, nó chỉ có thể phát triển ở trên “đám đất
sinh hoạt” thôi. Khi phương thức sinh hoạt thay đổi, văn hóa cũng không thể nào
đứng yên được. Nếu con người nhận thức đúng đắn những điều kiện thay đổi của sự
sinh hoạt hoạt động theo chiều thay đổi ấy thì sự hoạt động thể giúp cho văn
hóa biến đổi dễ dàng mau chóng, ngược lại thể cản trở sự phát triển của văn hóa.
Những phát minh của loài người như lửa, quần áo, nhà cửa đến những phương tiện
hiện đại như máy phát điện, tàu hỏa, máy bay hay từ cái ma thuật, thần thoại của người
cổ đại cho đến nghệ thuật, triết học và khoa học đời nay là “biểu hiện những trạng thái
sinh hoạt của loài người”. Đào Duy Anh cho rằng tất cả những biểu hiện đó kết tinh
tên “Văn hóa là gì?” nhưng ông mới chỉ “giải thích qua loa” thuật ngữ này. Công việc đó chỉ được thực hiện trong cuốn sách cũng có tên “Văn hóa là gì?” viết vào năm 1945, Đào Duy Anh nhắc lại mối quan hệ giữa văn hóa và sinh hoạt, đồng thời ông phân tích sâu sắc mối quan hệ này để từ đó đi đến một quan niệm “Văn hóa tức là ph- ương thức sinh hoạt” [3, tr.8]. Với cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến một phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội. Cách sinh hoạt của mỗi dân tộc quy định bởi trình độ phân công hợp tác trong lao động, các dân tộc sơ khai ở giai đoạn du mục, nông nghiệp khác với các dân tộc văn minh ở chế độ công nghiệp, tương ứng với sự khác nhau đó là sự khác nhau về văn hóa. Mặc dù coi văn hóa và sinh hoạt có mối quan hệ mật thiết với nhau song theo ông văn hóa và sinh hoạt là hai cái khác nhau, chúng không đồng nhất với nhau. Chẳng hạn, người nông dân cày ruộng đó là sinh hoạt chứ không phải hoạt động văn hóa nhưng người xưa nhờ kinh nghiệm và thiên tài mà làm ra lưỡi cày đồng, lưỡi cày sắt thay cho lưỡi cuốc đá, biết dùng trâu bò thay cho sức người là đã sản sinh ra giá trị văn hóa, làm cho văn hóa tiến bộ. Hoặc một ví dụ khác, người mất trộm vác đơn đi kiện, ông quan tòa ngồi xử kiện, đó là sinh hoạt còn tất cả những người đã tham dự vào sự tạo thành tục lệ hay pháp luật là hoạt động về văn hóa. Như vậy, cái “sinh hoạt” mà Đào Duy Anh dùng để chỉ văn hóa không phải là những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống hàng ngày, theo ông chỉ những sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị mới được gọi là văn hóa. Đương nhiên, những giá trị đó chỉ được nảy nở trong hoạt động, trong sinh hoạt của con người, cho nên văn hóa không thể “lìa sinh hoạt” mà phát triển được, nó chỉ có thể phát triển ở trên “đám đất sinh hoạt” mà thôi. Khi phương thức sinh hoạt thay đổi, văn hóa cũng không thể nào đứng yên được. Nếu con người nhận thức đúng đắn những điều kiện thay đổi của sự sinh hoạt mà hoạt động theo chiều thay đổi ấy thì sự hoạt động có thể giúp cho văn hóa biến đổi dễ dàng mau chóng, ngược lại có thể cản trở sự phát triển của văn hóa. Những phát minh của loài người như lửa, quần áo, nhà cửa đến những phương tiện hiện đại như máy phát điện, tàu hỏa, máy bay hay từ cái ma thuật, thần thoại của người cổ đại cho đến nghệ thuật, triết học và khoa học đời nay là “biểu hiện những trạng thái sinh hoạt của loài người”. Đào Duy Anh cho rằng tất cả những biểu hiện đó kết tinh
thành những hình thức tương đương mà ta gọi là giá trị văn hóa. Từ đó, ông đi đến một
định nghĩa “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người
trong cả phương diện vật chất, tinh thần hội” [3; tr.9]. bao gồm: hình thái
kinh tế, hình thái chính trị, pháp luật, binh chế, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học,
nghệ thuật, triết học, phong tục, lễ nghi, tôn giáo…
Tồn tại song song với xu hướng tiếp cận trên, một số học giả khác lại tiếp cận
văn hóa như là đời sống tinh thần của con người. Họ những người chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của văn hóa Pháp. Xuất phát từ cách hiểu culture như là sự vun xới tinh thần,
Phạm Quỳnh đưa ra định nghĩa “Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần” [43; tr.630].
Nếu so sánh con người với cái cây thì văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho
nở ngành xanh ngọn, “nảy nở được hết cái tinh hoa”, “cây có trồng mới tốt, người
hóa người mới hay” [43, tr.635]. Từ đó, học giả này đi đến xem xét cách trồng người
của dân tộc ta từ xưa đến nay. Con người Việt Nam con Lạc cháu Hồng vốn
không phải là “giống cỏ ươn hèn của Tạo vật” mà hôm nay “khô héo mà úa tàn”, theo
Phạm Quỳnh, nguyên nhân là do chưa biết cách “vun xới”. Trồng theo lối cũ, tức
theo Nho giáo chỉ gây được giống cây non bộ “nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt
trong chậu sành, chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nắng cả gió to được
mấy nả” [43, tr.631]. Đó là kết quả của lối giáo dục thời phong kiến, còn thời nay, tức
là trong buổi hội nhập với văn hóa phương Tây thì tình hình cũng chẳng tốt đẹp hơn.
Trồng theo lối mới cũng chỉ mọc ra những cây tầm gửi dây leo “quấn vào chung quanh
cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt sống đứng sao” [43; tr.631]. Cho nên, đối
với một dân tộc có văn hóa là phải “vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nêú bỏ căn bản
của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái dã tràng xe cát bể Đông”
[43, tr. 634]. Rõ ràng, cách hiênày của ông đã thể hiện sự dung hòa quan niệm về
văn hóa của phương Tây với quan niệm coi văn hóa là “văn trị giáo hóa” của phương
Đông. Điều này nhất quán với con người của Phạm Quỳnh, một người luôn đeo đuổi
sự nghiệp dung hòa hai nền văn hóa vốn có nhiều điểm khác biệt này. Cũng quan niệm
văn hóa trên phương diện tinh thần, nhà văn Lan Khai cho rằng, dân tộc này với dân
tộc kia khác nhau chỗ mỗi dân tộc có một tinh thần riêng. Điều đó tạo nên sự đa
dạng, phong phú của văn hóa nhân loại, như một “bức thảm trăm màu. Không ai nhẫn
thành những hình thức tương đương mà ta gọi là giá trị văn hóa. Từ đó, ông đi đến một định nghĩa “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc sinh hoạt mạnh mẽ của loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã hội” [3; tr.9]. Nó bao gồm: hình thái kinh tế, hình thái chính trị, pháp luật, binh chế, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, triết học, phong tục, lễ nghi, tôn giáo… Tồn tại song song với xu hướng tiếp cận trên, một số học giả khác lại tiếp cận văn hóa như là đời sống tinh thần của con người. Họ là những người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Pháp. Xuất phát từ cách hiểu culture như là sự vun xới tinh thần, Phạm Quỳnh đưa ra định nghĩa “Văn hóa là cái cách đào luyện tinh thần” [43; tr.630]. Nếu so sánh con người với cái cây thì văn hóa là cách trồng cây, bón cây, tưới cây, cho nở ngành xanh ngọn, “nảy nở được hết cái tinh hoa”, “cây có trồng mới tốt, người có hóa người mới hay” [43, tr.635]. Từ đó, học giả này đi đến xem xét cách trồng người của dân tộc ta từ xưa đến nay. Con người Việt Nam là con Lạc cháu Hồng vốn dĩ không phải là “giống cỏ ươn hèn của Tạo vật” mà hôm nay “khô héo mà úa tàn”, theo Phạm Quỳnh, nguyên nhân là do chưa biết cách “vun xới”. Trồng theo lối cũ, tức là theo Nho giáo chỉ gây được giống cây non bộ “nhỏ nhen lí tí, thấp hẹp bần cùng, đặt trong chậu sành, chậu sứ, bể cạn tường hoa thì được, chứ đem ra nắng cả gió to được mấy nả” [43, tr.631]. Đó là kết quả của lối giáo dục thời phong kiến, còn thời nay, tức là trong buổi hội nhập với văn hóa phương Tây thì tình hình cũng chẳng tốt đẹp hơn. Trồng theo lối mới cũng chỉ mọc ra những cây tầm gửi dây leo “quấn vào chung quanh cây lớn thời sống được, chứ thả ra mềm oặt sống đứng sao” [43; tr.631]. Cho nên, đối với một dân tộc có văn hóa là phải “vun trồng tự nơi căn bản mà đi. Nêú bỏ căn bản của mình mà chuyên phóng chép của người, thời là công cái dã tràng xe cát bể Đông” [43, tr. 634]. Rõ ràng, cách hiêủ này của ông đã thể hiện sự dung hòa quan niệm về văn hóa của phương Tây với quan niệm coi văn hóa là “văn trị giáo hóa” của phương Đông. Điều này nhất quán với con người của Phạm Quỳnh, một người luôn đeo đuổi sự nghiệp dung hòa hai nền văn hóa vốn có nhiều điểm khác biệt này. Cũng quan niệm văn hóa trên phương diện tinh thần, nhà văn Lan Khai cho rằng, dân tộc này với dân tộc kia khác nhau ở chỗ mỗi dân tộc có một tinh thần riêng. Điều đó tạo nên sự đa dạng, phong phú của văn hóa nhân loại, như một “bức thảm trăm màu. Không ai nhẫn
tâm phá bức thảm quý giá ấy hoặc cho nó trở nên lèm nhèm, đen không hẳn đen, vàng
không hẳn vàng, đỏ cũng không thành đỏ” [33, tr.248]. đây đã thấp thoáng
tưởng mà ngày nay chúng ta gọi là sự tôn trọng tính đa dạng văn hóa của các dân tộc.
Vậy tinh thần hay nói cách khác, văn hóa của dân tộc gì? Lan Khai quan niệm: là
kết quả của “sự gom góp tất cả những nết hay mà dân tộc ấy có” [33, tr.250]. Nết hay
ở đây được hiểu chính là những giá trị văn hóa tinh thần của một dân tộc được bồi đắp
qua bao thế hệ, suốt chiều dài lịch sử của dân tộc đó. Dân tộc nào không có một tinh
thần riêng mạnh mẽ, tất phải tiêu diệt. Cho nên bước đi đầu tiên để gây dựng nền văn
hóa của một dân tộc là phải tạo ra một cuộc sống “độc lập về tinh thần”. Học giả Trần
Trọng Kim cũng quan niệm mỗi một dân tộc có một tinh thần riêng, ông ví như cái cây
có cội rễ ăn sâu xuống đất, cây nào rễ tốt hút được nhiều khí chất thì cây tốt tươi còn
cây nào không đủ khí chất thì lá cành còi cọc. Cái tinh thần của một dân tộc cũng vậy,
được gây dựng trải qua bao nhiêu đời “lưu truyền mãi mãi mới thành ra kết qủa ngày
nay” [33, tr.346], cho nên dân tộc nào “cường thịnh” biết “giữ cái tinh thần của
mình được tươi tốt luôn” còn dân tộc nào “suy nhược’ là vì để cho tinh thần “hư hỏng
đi, không biết tìm cách mà nuôi lên” [33, tr.346]. Như vậy, quan niệm văn hóa
đời sống tinh thần mà các học giả trên đây đưa ra hoàn toàn mang tính thế tục ch
không theo cách hiểu về tinh thần của tôn giáo. Đời sống tinh thần hay văn hóa ở đây
hướng tới các lý tưởng cao cả về cái đẹp, cái tốt, cái đúng và niềm tin vào con người.
Trong giai đoạn này, nhiều học giả cũng đã nghiên cứu văn hóa các yếu tố
của nó. Từ việc phân tích nguồn gốc ra đời và vai trò của ngôn ngữ văn tự đối với một
dân tộc, Ngô Đức Kế cho rằng từ khi có chữ thì “mới tiềm tiệm có văn hóa” mỗi
dân tộc đều có một thứ ngôn ngữ văn tự riêng, nói một cách khác, ngôn ngữ văn tự
văn hóa, khác nhau về ngôn ngữ văn tự khác nhau về văn hóa. Sự khác nhau này
dẫn đến sự khác nhau về tính tình, phong tục, học thuật, tôn giáo…Dân tộc nào còn thì
ngôn ngữ văn tự còn, dân tộc nào tiêu diệt thì ngôn ngữ văn tự cũng bị tiêu diệt. Mỗi
một dân tộc có một cách “vận chuyển, phô diễn tư tưởng riêng”. Cách vận chuyển phô
diễn ấy là “tinh túy riêng của một ngữ ngôn, một dân tộc. Mất cái ấy là mất Quốc hồn
đó” [33, tr.235] NĐức Kế lấy ví dụ, trước kia người Việt trọng chữ Hán cho nên
trong văn hóa dân tộc từ học thuật cho đến chế độ điển chương đều cội nguồn từ
tâm phá bức thảm quý giá ấy hoặc cho nó trở nên lèm nhèm, đen không hẳn đen, vàng không hẳn vàng, mà đỏ cũng không thành đỏ” [33, tr.248]. ở đây đã thấp thoáng tư tưởng mà ngày nay chúng ta gọi là sự tôn trọng tính đa dạng văn hóa của các dân tộc. Vậy tinh thần hay nói cách khác, văn hóa của dân tộc là gì? Lan Khai quan niệm: là kết quả của “sự gom góp tất cả những nết hay mà dân tộc ấy có” [33, tr.250]. Nết hay ở đây được hiểu chính là những giá trị văn hóa tinh thần của một dân tộc được bồi đắp qua bao thế hệ, suốt chiều dài lịch sử của dân tộc đó. Dân tộc nào không có một tinh thần riêng mạnh mẽ, tất phải tiêu diệt. Cho nên bước đi đầu tiên để gây dựng nền văn hóa của một dân tộc là phải tạo ra một cuộc sống “độc lập về tinh thần”. Học giả Trần Trọng Kim cũng quan niệm mỗi một dân tộc có một tinh thần riêng, ông ví như cái cây có cội rễ ăn sâu xuống đất, cây nào rễ tốt hút được nhiều khí chất thì cây tốt tươi còn cây nào không đủ khí chất thì lá cành còi cọc. Cái tinh thần của một dân tộc cũng vậy, được gây dựng trải qua bao nhiêu đời “lưu truyền mãi mãi mới thành ra kết qủa ngày nay” [33, tr.346], cho nên dân tộc nào “cường thịnh” là biết “giữ cái tinh thần của mình được tươi tốt luôn” còn dân tộc nào “suy nhược’ là vì để cho tinh thần “hư hỏng đi, không biết tìm cách mà nuôi nó lên” [33, tr.346]. Như vậy, quan niệm văn hóa là đời sống tinh thần mà các học giả trên đây đưa ra hoàn toàn mang tính thế tục chứ không theo cách hiểu về tinh thần của tôn giáo. Đời sống tinh thần hay văn hóa ở đây hướng tới các lý tưởng cao cả về cái đẹp, cái tốt, cái đúng và niềm tin vào con người. Trong giai đoạn này, nhiều học giả cũng đã nghiên cứu văn hóa ở các yếu tố của nó. Từ việc phân tích nguồn gốc ra đời và vai trò của ngôn ngữ văn tự đối với một dân tộc, Ngô Đức Kế cho rằng từ khi có chữ thì “mới tiềm tiệm có văn hóa” và mỗi dân tộc đều có một thứ ngôn ngữ văn tự riêng, nói một cách khác, ngôn ngữ văn tự là văn hóa, khác nhau về ngôn ngữ văn tự là khác nhau về văn hóa. Sự khác nhau này dẫn đến sự khác nhau về tính tình, phong tục, học thuật, tôn giáo…Dân tộc nào còn thì ngôn ngữ văn tự còn, dân tộc nào tiêu diệt thì ngôn ngữ văn tự cũng bị tiêu diệt. Mỗi một dân tộc có một cách “vận chuyển, phô diễn tư tưởng riêng”. Cách vận chuyển phô diễn ấy là “tinh túy riêng của một ngữ ngôn, một dân tộc. Mất cái ấy là mất Quốc hồn đó” [33, tr.235] Ngô Đức Kế lấy ví dụ, trước kia người Việt trọng chữ Hán cho nên trong văn hóa dân tộc từ học thuật cho đến chế độ điển chương đều có cội nguồn từ
Hán học. Từ khi Pháp sang đô hộ, chúng ta bỏ chữ Hán để chuyển sang Pháp văn, Ngô
Đức Kế mượn câu của người Pháp “Tiếng chữ của dân tộc nào cái gươm cùng
cái thuẫn của dân tộc y” [33, tr.224] để cảnh báo nguy cơ mất ngôn ngữ văn tự là mất
văn hóa: gươm cùng thuẫn của dân tộc đã mất thì lấy gì để “giữ mình” tức là giữ được
văn hóa của dân tộc. Cũng tiếp cận văn hóa các thành tố, Nguyễn Triệu Luật quan
niệm cấu trúc của văn hóa bao gồm ba phần: khoa học, tư tưởng - học thuật và văn ch-
ương. Trong đó, khoa học là những gì liên quan đến kỹ xảo cơ khí, khoa học tự nhiên;
tư tưởng - học thuật gồm những tác phẩm triết học còn văn chương là các áng văn hay
của một dân tộc. Trong ba phần đó, theo ông chỉ có phần thứ nhất, thứ hai là có thể thu
nhận từ phương Tây mà không hại cho văn hóa dân tộc. Bởi lẽ, những tư tưởng thuộc
khoa học, triết học, học thuật có tính chất phổ thông, đọc những sách đó “tư tưởng của
ta giàu thêm mà không có hại. Trái lại, những sách thuộc về văn chương là cách vận
dụng tưởng riêng của từng nước nếu đọc loại sách này của dân tộc khác chỉ “tiêu
dần hồn An Nam”.
Trên cơ sở hiểu về văn hóa như vậy, trong giai đoạn này các học giả cũng đã đề
cập đến mối quan hệ của văn hóa với một số khái niệm liên quan như văn minh,
giáo hóa, sáng hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần…
Trước hết là mối quan hệ của văn hóa với văn minh. Khái niệm văn minh theo
cách hiểu của phương Tây đầu tiên được nhắc đến trong Văn minh tân học sáchdo
những nhà sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục viết năm 1904, trong đó các học giả chủ
yếu tập trung vào so sánh “văn minh tĩnh” của nước ta với “văn minh động” của châu
Âu để tìm ra nguyên nhân sự trì trệ của dân tộc và tìm kế mở mang cho dân tộc phát
triển. Học giả Phạm Quỳnh trong cuốn “Văn minh luậnbiên dịch năm 1927 đã đưa ra
định nghĩa về văn minh “Văn minh là gồm những nguyên chất đã gây thành ra xã hội
có trật tự, và khiến cho người ta thắng đoạt được vạn vật, làm chủ được địa cầu” [44,
tr.8]. Phạm Quỳnh cho rằng văn minh là kết quả của những nguyên nhân thuộc về tinh
thần, về tri thức, ông không đề cập đến mối quan hệ văn minh và văn hóa nhưng qua
quan niệm này cho thấy văn hóa chính là cơ sở cho văn minh, văn minh cốt ở tri thức,
tri thức được khai thông thì mới văn minh tiến hóa được. Đề cập chi tiết hơn mối
Hán học. Từ khi Pháp sang đô hộ, chúng ta bỏ chữ Hán để chuyển sang Pháp văn, Ngô Đức Kế mượn câu của người Pháp “Tiếng và chữ của dân tộc nào là cái gươm cùng cái thuẫn của dân tộc ấy” [33, tr.224] để cảnh báo nguy cơ mất ngôn ngữ văn tự là mất văn hóa: gươm cùng thuẫn của dân tộc đã mất thì lấy gì để “giữ mình” tức là giữ được văn hóa của dân tộc. Cũng tiếp cận văn hóa ở các thành tố, Nguyễn Triệu Luật quan niệm cấu trúc của văn hóa bao gồm ba phần: khoa học, tư tưởng - học thuật và văn ch- ương. Trong đó, khoa học là những gì liên quan đến kỹ xảo cơ khí, khoa học tự nhiên; tư tưởng - học thuật gồm những tác phẩm triết học còn văn chương là các áng văn hay của một dân tộc. Trong ba phần đó, theo ông chỉ có phần thứ nhất, thứ hai là có thể thu nhận từ phương Tây mà không hại cho văn hóa dân tộc. Bởi lẽ, những tư tưởng thuộc khoa học, triết học, học thuật có tính chất phổ thông, đọc những sách đó “tư tưởng của ta giàu thêm mà không có hại”. Trái lại, những sách thuộc về văn chương là cách vận dụng tư tưởng riêng của từng nước nếu đọc loại sách này của dân tộc khác chỉ “tiêu dần hồn An Nam”. Trên cơ sở hiểu về văn hóa như vậy, trong giai đoạn này các học giả cũng đã đề cập đến mối quan hệ của văn hóa với một số khái niệm có liên quan như văn minh, giáo hóa, sáng hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần… Trước hết là mối quan hệ của văn hóa với văn minh. Khái niệm văn minh theo cách hiểu của phương Tây đầu tiên được nhắc đến trong “Văn minh tân học sách” do những nhà sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục viết năm 1904, trong đó các học giả chủ yếu tập trung vào so sánh “văn minh tĩnh” của nước ta với “văn minh động” của châu Âu để tìm ra nguyên nhân sự trì trệ của dân tộc và tìm kế mở mang cho dân tộc phát triển. Học giả Phạm Quỳnh trong cuốn “Văn minh luận” biên dịch năm 1927 đã đưa ra định nghĩa về văn minh “Văn minh là gồm những nguyên chất đã gây thành ra xã hội có trật tự, và khiến cho người ta thắng đoạt được vạn vật, làm chủ được địa cầu” [44, tr.8]. Phạm Quỳnh cho rằng văn minh là kết quả của những nguyên nhân thuộc về tinh thần, về tri thức, ông không đề cập đến mối quan hệ văn minh và văn hóa nhưng qua quan niệm này cho thấy văn hóa chính là cơ sở cho văn minh, văn minh cốt ở tri thức, tri thức được khai thông thì mới có văn minh tiến hóa được. Đề cập chi tiết hơn mối
quan hệ giữa văn hóa văn minh Đào Duy Anh, ông quan niệm: văn hóa không
phải văn minh văn minh chỉ giai đoạn khá cao của văn hóa. Tán thành với
quan điểm của L.H. Morgan chia lịch sử loài người làm ba giai đoạn: mông muội, dã
man và văn minh, Đào Duy Anh cho rằng văn minh chỉ dùng để chỉ giai đoạn tiến bộ
khá cao, khai hóa khá rộng của loài người, là một giai đoạn tưong đối còn mới mẻ
ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử của nhân loại, có nghĩa là trong bao nhiêu vạn năm,
loài người sống trong giai đoạn nguyên thủy và man chưa biết gì đến văn minh.
Nhưng trong hai giai đoạn đó, con người đã văn hóa bởi vì ngay từ khi con người
thoát khỏi thế giới động vật, sống trong những cộng đồng có tổ chức thì đã có văn hóa
“văn hóa là cái thành tích của sự gắng sức của loài người để từ thân phận con vật mà
tiến lên thân phận con người” [3, tr.38]. Theo cách hiểu đó thì hễ là loài người thì
văn hóa, thời đại mông muội “văn hóa mông muội”, ở thời đại man “văn
hóa dã man”, ở thời đại văn minh có “văn hóa văn minh”, ở Đông phương có “văn hóa
Đông phương”, ở Tây phương có “văn hóa Tây phương”, chỉ khác nhau là “văn hóa
thời này, chỗ này thì thấp, thời khác, chỗ khác thì cao. ở trình độ văn hóa thấp thì
người ta còn là mông muội hay dã man, đến khi văn hóa đạt được trình độ khá cao thì
người ta mới có thể là văn minh được” [3, tr.38]. Như vậy, trong tiến trình của văn hóa
mãi đến sáu, bảy nghìn năm gần đây mới có một số dân tộc vượt lên trình độ thấp
đến trình độ văn minh, còn trong bao nhiêu vạn năm về trước, loài người vẫn ở trình
độ văn hóa thấp gọi là mông muội và dã man.
Bàn về mối quan hệ văn hóa và văn minh, học giả Nguyễn Bách Khoa đã viết
một cuốn sách có tên Nguồn gốc văn minh xuất bản năm 1943. Trong đó, ông đã trình
bày các quan niệm về văn minh qua các thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất, khái niệm văn minh gồm những yếu tố lễ độ, trang nhã
pháp trị.
Thời kỳ thứ hai, văn minh sự toàn thắng của trí, sự tiến hóa cùng tận
của nhân loại.
quan hệ giữa văn hóa và văn minh là Đào Duy Anh, ông quan niệm: văn hóa không phải là văn minh mà văn minh chỉ là giai đoạn khá cao của văn hóa. Tán thành với quan điểm của L.H. Morgan chia lịch sử loài người làm ba giai đoạn: mông muội, dã man và văn minh, Đào Duy Anh cho rằng văn minh chỉ dùng để chỉ giai đoạn tiến bộ khá cao, khai hóa khá rộng của loài người, là một giai đoạn tưong đối còn mới mẻ và ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử của nhân loại, có nghĩa là trong bao nhiêu vạn năm, loài người sống trong giai đoạn nguyên thủy và dã man chưa biết gì đến văn minh. Nhưng trong hai giai đoạn đó, con người đã có văn hóa bởi vì ngay từ khi con người thoát khỏi thế giới động vật, sống trong những cộng đồng có tổ chức thì đã có văn hóa “văn hóa là cái thành tích của sự gắng sức của loài người để từ thân phận con vật mà tiến lên thân phận con người” [3, tr.38]. Theo cách hiểu đó thì hễ là loài người thì có văn hóa, ở thời đại mông muội có “văn hóa mông muội”, ở thời đại dã man có “văn hóa dã man”, ở thời đại văn minh có “văn hóa văn minh”, ở Đông phương có “văn hóa Đông phương”, ở Tây phương có “văn hóa Tây phương”, chỉ khác nhau là “văn hóa ở thời này, chỗ này thì thấp, ở thời khác, chỗ khác thì cao. ở trình độ văn hóa thấp thì người ta còn là mông muội hay dã man, đến khi văn hóa đạt được trình độ khá cao thì người ta mới có thể là văn minh được” [3, tr.38]. Như vậy, trong tiến trình của văn hóa mãi đến sáu, bảy nghìn năm gần đây mới có một số dân tộc vượt lên trình độ thấp mà đến trình độ văn minh, còn trong bao nhiêu vạn năm về trước, loài người vẫn ở trình độ văn hóa thấp gọi là mông muội và dã man. Bàn về mối quan hệ văn hóa và văn minh, học giả Nguyễn Bách Khoa đã viết một cuốn sách có tên Nguồn gốc văn minh xuất bản năm 1943. Trong đó, ông đã trình bày các quan niệm về văn minh qua các thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất, khái niệm văn minh gồm những yếu tố lễ độ, trang nhã và pháp trị. Thời kỳ thứ hai, văn minh là sự toàn thắng của lý trí, sự tiến hóa vô cùng tận của nhân loại.
Thời kỳ thứ ba, văn minh là trạng thái sinh hoạt của một đàn người sống chung
với nhau và mọi đặc tính của trạng thái ấy ở một phạm vi không gian và thời gian nhất
định.
Thời kỳ thứ , văn minh cuộc tiến triển không ngừng của tất cả những bộ
quan năng chính: kỹ thuật, tri thức, nghệ thuật…những quan năng này trong tiến triển
không tuần tự cùng nhau nhưng vẫn quan hệ giao hỗ với nhau. Văn minh trạng
thái tiến bộ của những quan năng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả những đặc tính
ấy mà quan năng ấy tạo ra [30, tr.104].
Nguyễn Bách Khoa cho rằng văn hóa chỉ một bộ phận của toàn thể hội
gồm có “các tâm lý, tư tưởng, tình cảm được xếp đặt thành các hệ thống triết học, tôn
giáo, luân lý, giáo dục, khoa học với mục đích bảo vệ hiện trạng của hội” [30,
tr.104]. Nói theo cách khác, văn hóa thuộc về lĩnh vực tinh thần. Do đó, nếu văn minh
là biểu thị của tất cả mọi trạng thái quá trình “dịch hóa” của hội trong một thời
gian nhất định thì văn hóa là một bộ phận trong cái toàn thể ấy. Từ đó, Nguyễn Bách
Khoa đi đến khẳng định: văn hóa không thể dùng thay cho chữ văn minh, văn hóa là
một bộ phận của văn minh, trong văn minh có văn hóa, vì thế văn hóa không phải là
văn minh.
Thứ hai, mối quan hệ giữa văn hóa và sáng hóa, giáo hóa
Văn hóa một khái niệm rất rộng, theo Đào Duy Anh, nó thể hiện ra trên hai
phương diện: “lịch trình sáng tạo” ra những giá trị mới “lịch trình tiêu thụ” những
giá trị sẵn có, chúng không phải là sự kế tiếp của nhau mà cùng tồn tại với nhau. Trong
đó, lịch trình sáng tạo ra những giá trị mới chính là sáng hóa, do những trí thức thiên
tài sáng tạo ra m cho loài người phát triển không ngừng. Lịch trình tiêu thụ những
giá trị sẵn do những trí thức chuyên tái tạo những giá trị để cho văn hóa được
liên tục, khiến nó trở thành phương thức sinh hoạt cố định. Như vậy, theo nghĩa rộng,
văn hóa chỉ tất cả trạng thái sinh hoạt chung của xã hội, còn theo nghĩa hẹp, nó là quá
trình sáng tạo ra những giá trị mới - sáng hóa. Sáng hóa không phải tất cả văn hóa
mà nó chỉ là một phương diện của văn hóa.
Thời kỳ thứ ba, văn minh là trạng thái sinh hoạt của một đàn người sống chung với nhau và mọi đặc tính của trạng thái ấy ở một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Thời kỳ thứ tư, văn minh là cuộc tiến triển không ngừng của tất cả những bộ quan năng chính: kỹ thuật, tri thức, nghệ thuật…những quan năng này trong tiến triển không tuần tự cùng nhau nhưng vẫn có quan hệ giao hỗ với nhau. Văn minh là trạng thái tiến bộ của những quan năng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả những đặc tính ấy mà quan năng ấy tạo ra [30, tr.104]. Nguyễn Bách Khoa cho rằng văn hóa chỉ là một bộ phận của toàn thể xã hội gồm có “các tâm lý, tư tưởng, tình cảm được xếp đặt thành các hệ thống triết học, tôn giáo, luân lý, giáo dục, khoa học với mục đích là bảo vệ hiện trạng của xã hội” [30, tr.104]. Nói theo cách khác, văn hóa thuộc về lĩnh vực tinh thần. Do đó, nếu văn minh là biểu thị của tất cả mọi trạng thái và quá trình “dịch hóa” của xã hội trong một thời gian nhất định thì văn hóa là một bộ phận trong cái toàn thể ấy. Từ đó, Nguyễn Bách Khoa đi đến khẳng định: văn hóa không thể dùng thay cho chữ văn minh, văn hóa là một bộ phận của văn minh, trong văn minh có văn hóa, vì thế văn hóa không phải là văn minh. Thứ hai, mối quan hệ giữa văn hóa và sáng hóa, giáo hóa Văn hóa là một khái niệm rất rộng, theo Đào Duy Anh, nó thể hiện ra trên hai phương diện: “lịch trình sáng tạo” ra những giá trị mới và “lịch trình tiêu thụ” những giá trị sẵn có, chúng không phải là sự kế tiếp của nhau mà cùng tồn tại với nhau. Trong đó, lịch trình sáng tạo ra những giá trị mới chính là sáng hóa, do những trí thức thiên tài sáng tạo ra làm cho loài người phát triển không ngừng. Lịch trình tiêu thụ những giá trị sẵn có do những trí thức chuyên tái tạo những giá trị cũ để cho văn hóa được liên tục, khiến nó trở thành phương thức sinh hoạt cố định. Như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa chỉ tất cả trạng thái sinh hoạt chung của xã hội, còn theo nghĩa hẹp, nó là quá trình sáng tạo ra những giá trị mới - sáng hóa. Sáng hóa không phải là tất cả văn hóa mà nó chỉ là một phương diện của văn hóa.
Cũng như sáng hóa, giáo hóa chỉ một bộ phận của văn hóa biểu hiện sự tu
dưỡng về tinh thần. Hiểu theo nghĩa này, Đào Duy Anh cho rằng người văn hóa
nghĩa là có giáo hóa, tinh thần được đào luyện nên “không cục xúc, hẹp hòi, thô kệch”
“ưu nhã, khoát đạt, sáng suốt, tinh vi”, đủ năng lực để hiểu biết, giải thích
những gì mà loài người đã tạo ra từ đó có thể sáng tạo ra những giá trị mới. Cách hiểu
này gần gũi với quan niệm “văn trị giáo hóa” của Trung Hoa, đã từng ảnh hưởng trong
một thời gian dài các nước theo Nho giáo nhưng đây có nhấn mạnh đến sự sáng
tạo của con người được giáo hóa và như vậy ít nhiều có dấu ấn của quan niệm phương
Tây về văn hóa, coi văn hóa như là sự vun xới tinh thần; đào luyện tinh thần của con
người.
Thứ ba, mối quan hệ giữa văn hóa với văn hóa vật chất văn hóa tinh thần.
Đào Duy Anh cho rằng văn hóa là một “tổng thể gồm những thành phần rất phức tạp”
và ông chia thành hai thành tố chính là “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần”.
Văn hóa vật chất được thể hiện trên hai phương diện: sản phẩm vật chất do con
người tạo ra và những hình thái kinh tế, hình thái kỹ thuật của hội. ở phương diện
thứ nhất, Đào Duy Anh đã phân tích quá trình một vật phẩm tự nhiên trở thành một
sản phẩm văn hóa như thế nào. Các vật phẩm đó khởi đầu chỉ là những dạng vật chất
sẵn có trong tự nhiên như khúc gỗ, cục đá…do nhu cầu của mình, trí não con người
nghĩ đến việc lợi dụng chúng, cục đá có thể để ghè, để đập, như vậy, trí não con người
đã sáng tạo ra công dụng của hòn đá. Nhưng không dừng lại ở đó, con người còn nghĩ
ra cách đẽo hòn đá thành những hình tiện lợi, kiểu dáng nhẹ nhàng thanh thoát để
nhìn cho đẹp mắt. Từ những vật phẩm của tự nhiên nhờ cái kiểu, cách làm công
dụng do con người sáng tạo ra biến thành những dụng cụ có ích và hàm chứa cả những
giá trị nghệ thuật, Đào Duy Anh đi đến kết luận “ tự thân các vật phẩm không phải là
văn hóa mà chỉ cái kiểu, cái cách làm, cái công dụng của nó, tức những giá trị
được sáng tạo, mới là văn hóa” [3, tr.39]. ở phương diện thứ hai, trong quá trình chinh
phục tự nhiên để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, cũng chỉ có từng ấy
những vật chất nhưng con người đã tạo ra kỹ thuật để biến hóa chúng thành nhiều
công cụ khác nhau, lúc đầu chỉ là cái búa, cái rìu và đến sau này là đến máy móc. Con
Cũng như sáng hóa, giáo hóa chỉ là một bộ phận của văn hóa biểu hiện sự tu dưỡng về tinh thần. Hiểu theo nghĩa này, Đào Duy Anh cho rằng người có văn hóa nghĩa là có giáo hóa, tinh thần được đào luyện nên “không cục xúc, hẹp hòi, thô kệch” mà “ưu nhã, khoát đạt, sáng suốt, tinh vi”, có đủ năng lực để hiểu biết, giải thích những gì mà loài người đã tạo ra từ đó có thể sáng tạo ra những giá trị mới. Cách hiểu này gần gũi với quan niệm “văn trị giáo hóa” của Trung Hoa, đã từng ảnh hưởng trong một thời gian dài ở các nước theo Nho giáo nhưng ở đây có nhấn mạnh đến sự sáng tạo của con người được giáo hóa và như vậy ít nhiều có dấu ấn của quan niệm phương Tây về văn hóa, coi văn hóa như là sự vun xới tinh thần; đào luyện tinh thần của con người. Thứ ba, mối quan hệ giữa văn hóa với văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Đào Duy Anh cho rằng văn hóa là một “tổng thể gồm những thành phần rất phức tạp” và ông chia thành hai thành tố chính là “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần”. Văn hóa vật chất được thể hiện trên hai phương diện: sản phẩm vật chất do con người tạo ra và những hình thái kinh tế, hình thái kỹ thuật của xã hội. ở phương diện thứ nhất, Đào Duy Anh đã phân tích quá trình một vật phẩm tự nhiên trở thành một sản phẩm văn hóa như thế nào. Các vật phẩm đó khởi đầu chỉ là những dạng vật chất sẵn có trong tự nhiên như khúc gỗ, cục đá…do nhu cầu của mình, trí não con người nghĩ đến việc lợi dụng chúng, cục đá có thể để ghè, để đập, như vậy, trí não con người đã sáng tạo ra công dụng của hòn đá. Nhưng không dừng lại ở đó, con người còn nghĩ ra cách đẽo hòn đá thành những hình tiện lợi, có kiểu dáng nhẹ nhàng thanh thoát để nhìn cho đẹp mắt. Từ những vật phẩm của tự nhiên nhờ cái kiểu, cách làm và công dụng do con người sáng tạo ra biến thành những dụng cụ có ích và hàm chứa cả những giá trị nghệ thuật, Đào Duy Anh đi đến kết luận “ tự thân các vật phẩm không phải là văn hóa mà chỉ cái kiểu, cái cách làm, và cái công dụng của nó, tức là những giá trị được sáng tạo, mới là văn hóa” [3, tr.39]. ở phương diện thứ hai, trong quá trình chinh phục tự nhiên để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, cũng chỉ có từng ấy những vật chất nhưng con người đã tạo ra kỹ thuật để biến hóa chúng thành nhiều công cụ khác nhau, lúc đầu chỉ là cái búa, cái rìu và đến sau này là đến máy móc. Con
người lại tạo ra những phương pháp để sử dụng những công cụ, máy móc đó tác động
vào những vật phẩm thành những cái cần cho sinh hoạt vật chất, từ hình thái săn bắt,
hái lượm con người biết trồng trọt, chăn nuôi, trao đổi, buôn bán, sản xuất công
nghiệp… Những hình thái kỹ thuật và những hình thái kinh tế ấy, Đào Duy Anh gọi đó
là những giá trị vật chất, gọi chung là “văn hóa vật chất”
Văn hóa tinh thần cũng được con người sáng tạo ra trong quá trình chinh phục
tự nhiên. Lúc đầu, nó chỉ là những thần thoại, ma thuật, tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện
dùng để giải thích nhiều “hiện tượng lạ lùng khó hiểu” của tự nhiên. Khi trí tuệ của
con người phát triển hơn, con người thể tìm hiểu các sự vật một cách chắc chắn
hơn, khám phá ra nhiều điều bí mật của tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho mình cũng
là lúc triết học, khoa học ra đời. Trong quá trình hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội,
để đảm bảo cho xã hội trật tự, quy củ, có tổ chức không rơi vào trạng thái hỗn
loạn để đi tới tiêu vong, con người phải tạo ra những tục lệ, pháp luật, lễ nghi, đạo
đức… Đào Duy Anh quan niệm những giá trị về nghệ thuật, tôn giáo, triết học, khoa
học, văn học, tục lệ, pháp luật, lễ nghi, đạo đức là những giá trị tinh thần, gọi chung là
“văn hóa tinh thần”.
Phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần nhưng Đào Duy
Anh vẫn cho rằng sự phân biệt đó là “miễn cưỡng”, bởi lẽ “văn hóa là những giá trị do
tinh thần loài người nhờ sự làm việc trong xã hội mà sáng tạo ra” [3, tr.42]. Hơn nữa,
giới hạn giữa những giá trị vật chất và tinh thần “rất lờ mờ”. những giá trị văn
hóa nhưng chúng ta không thể quy thuộc văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần
được, chẳng hạn như ngôn ngữ văn tự trong ngôn ngữ phần thanh âm thuộc về
vật chất còn ngữ pháp lại thuộc về tinh thần. Đào Duy Anh đã đưa ra một tiêu chuẩn
để phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đó là “mục đích” của những giá trị
văn hóa ấy.
Những giá trị người ta tạo ra là để nhằm vào một cái mục đích vật
chất, ví như các thứ kỹ thuật, các phương thức hoạt động kinh tế là cốt để
thỏa mãn những nhu yếu vật chất trước đã, dẫu cũng có khi nó có thể thỏa
người lại tạo ra những phương pháp để sử dụng những công cụ, máy móc đó tác động vào những vật phẩm thành những cái cần cho sinh hoạt vật chất, từ hình thái săn bắt, hái lượm con người biết trồng trọt, chăn nuôi, trao đổi, buôn bán, sản xuất công nghiệp… Những hình thái kỹ thuật và những hình thái kinh tế ấy, Đào Duy Anh gọi đó là những giá trị vật chất, gọi chung là “văn hóa vật chất” Văn hóa tinh thần cũng được con người sáng tạo ra trong quá trình chinh phục tự nhiên. Lúc đầu, nó chỉ là những thần thoại, ma thuật, tín ngưỡng, tôn giáo xuất hiện dùng để giải thích nhiều “hiện tượng lạ lùng khó hiểu” của tự nhiên. Khi trí tuệ của con người phát triển hơn, con người có thể tìm hiểu các sự vật một cách chắc chắn hơn, khám phá ra nhiều điều bí mật của tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho mình cũng là lúc triết học, khoa học ra đời. Trong quá trình hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội, để đảm bảo cho xã hội có trật tự, có quy củ, có tổ chức không rơi vào trạng thái hỗn loạn để đi tới tiêu vong, con người phải tạo ra những tục lệ, pháp luật, lễ nghi, đạo đức… Đào Duy Anh quan niệm những giá trị về nghệ thuật, tôn giáo, triết học, khoa học, văn học, tục lệ, pháp luật, lễ nghi, đạo đức là những giá trị tinh thần, gọi chung là “văn hóa tinh thần”. Phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần nhưng Đào Duy Anh vẫn cho rằng sự phân biệt đó là “miễn cưỡng”, bởi lẽ “văn hóa là những giá trị do tinh thần loài người nhờ sự làm việc trong xã hội mà sáng tạo ra” [3, tr.42]. Hơn nữa, giới hạn giữa những giá trị vật chất và tinh thần là “rất lờ mờ”. Có những giá trị văn hóa nhưng chúng ta không thể quy nó thuộc văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần được, chẳng hạn như ngôn ngữ văn tự vì trong ngôn ngữ có phần thanh âm thuộc về vật chất còn ngữ pháp lại thuộc về tinh thần. Đào Duy Anh đã đưa ra một tiêu chuẩn để phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, đó là “mục đích” của những giá trị văn hóa ấy. Những giá trị người ta tạo ra là để nhằm vào một cái mục đích vật chất, ví như các thứ kỹ thuật, các phương thức hoạt động kinh tế là cốt để thỏa mãn những nhu yếu vật chất trước đã, dẫu cũng có khi nó có thể thỏa
mãn nhu cầu tinh thần, nhưng đó chỉ kết quả gián tiếp. Những giá trị ấy
chúng ta gọi chung nó giá trị vật chất, gồm thành phần văn hóa vật chất
[3, tr.42].
Những giá trị như nghệ thuật, văn chương, tôn giáo, triết học, khoa học, tục lệ,
pháp luật…là những cái mà con người tạo ra chủ yếu để thỏa mãn những nhu yếu
tình cảm, tri thức hoặc xã hội, dẫu cũng có khi nó có thể thỏa mãn được những yêu cầu
vật chất nhưng đó cũng chỉ là kết quả gián tiếp” gọi là “giá trị tinh thần” hay “văn hóa
tinh thần[3, tr.42]. Với việc đưa ra mối quan hệ giữa văn hóa với văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần thực chất Đào Duy Anh đã xác định cấu trúc của văn hóa, một cách
phân chia còn đơn giản nhưng thể hiện trình độ khái quát cao trong thời điểm bấy giờ.
2.1.2. Về nguồn gốc văn hóa và chủ thể của văn hóa
Văn hóa xuất hiện khi nào? phải chỉ đến khi có chữ viết mới “tiềm tiệm có
văn hóa” như quan niệm của Ngô Đức Kế không? Về vấn đề này, Đào Duy Anh cho
rằng văn hóa được hình thành trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và đấu tranh
hội của con người. Trong buổi đầu thoát ra khỏi thế giới động vật, loài người phải
sống trong những điều kiện sinh hoạt cực kỳ khó khăn, tự nhiên vẫn mênh mông, bí ẩn
chứa đựng đầy bất trắc với loài người vốn còn yếu đuối trong buổi sơ khai. Dần dần,
tay chân tách ra, não phát triển, con người suy nghĩ bắt đầu hợp lực với nhau để
cùng chống chọi với tự nhiên “biết cầm hòn đá rắn để đập một trái cây vỏ cứng hay
biết dùng cái cành cây nhọn để đào một củ khoai là văn hóa đã xuất hiện”[3, tr.14]
Như vậy, hoạt động văn hóa đầu tiên của con người là việc sáng tạo ra những công cụ lao
động đơn giản nhất. Sau đó, hàng loạt các công cụ phức tạp hơn cũng được con người tạo
ra: búa, dùi, cung tên, chài lưới, quần áo, làm nhà, đặc biệt là phát minh ra lửa đánh dấu
bước tiến của con người trên con đường chinh phục tự nhiên, và lúc đó, “văn hóa con
người đã tiến bộ một bước dài lắm” [3, tr.14]. thể nói, khởi điểm của văn hóa là
“sự phản ứng sinh hoạt” của con người đối với hoàn cảnh, nghĩa để vượt qua “sự
đau khổ” phải sống trong những điều kiện khó khăn của tự nhiên, con người đã cố
gắng thoát ra khỏi tình trạng đó bằng cáchng tạo ra công cụ sản xuất, nối dài sức
mãn nhu cầu tinh thần, nhưng đó chỉ là kết quả gián tiếp. Những giá trị ấy chúng ta gọi chung nó là giá trị vật chất, gồm thành phần văn hóa vật chất [3, tr.42]. Những giá trị như nghệ thuật, văn chương, tôn giáo, triết học, khoa học, tục lệ, pháp luật…là những cái mà con người tạo ra chủ yếu để “thỏa mãn những nhu yếu tình cảm, tri thức hoặc xã hội, dẫu cũng có khi nó có thể thỏa mãn được những yêu cầu vật chất nhưng đó cũng chỉ là kết quả gián tiếp” gọi là “giá trị tinh thần” hay “văn hóa tinh thần” [3, tr.42]. Với việc đưa ra mối quan hệ giữa văn hóa với văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần thực chất Đào Duy Anh đã xác định cấu trúc của văn hóa, một cách phân chia còn đơn giản nhưng thể hiện trình độ khái quát cao trong thời điểm bấy giờ. 2.1.2. Về nguồn gốc văn hóa và chủ thể của văn hóa Văn hóa xuất hiện khi nào? Có phải chỉ đến khi có chữ viết mới “tiềm tiệm có văn hóa” như quan niệm của Ngô Đức Kế không? Về vấn đề này, Đào Duy Anh cho rằng văn hóa được hình thành trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và đấu tranh xã hội của con người. Trong buổi đầu thoát ra khỏi thế giới động vật, loài người phải sống trong những điều kiện sinh hoạt cực kỳ khó khăn, tự nhiên vẫn mênh mông, bí ẩn chứa đựng đầy bất trắc với loài người vốn còn yếu đuối trong buổi sơ khai. Dần dần, tay chân tách ra, não phát triển, con người có suy nghĩ bắt đầu hợp lực với nhau để cùng chống chọi với tự nhiên “biết cầm hòn đá rắn để đập một trái cây vỏ cứng hay biết dùng cái cành cây nhọn để đào một củ khoai là văn hóa đã xuất hiện”[3, tr.14] Như vậy, hoạt động văn hóa đầu tiên của con người là việc sáng tạo ra những công cụ lao động đơn giản nhất. Sau đó, hàng loạt các công cụ phức tạp hơn cũng được con người tạo ra: búa, dùi, cung tên, chài lưới, quần áo, làm nhà, đặc biệt là phát minh ra lửa đánh dấu bước tiến của con người trên con đường chinh phục tự nhiên, và lúc đó, “văn hóa con người đã tiến bộ một bước dài lắm” [3, tr.14]. Có thể nói, khởi điểm của văn hóa là “sự phản ứng sinh hoạt” của con người đối với hoàn cảnh, nghĩa là để vượt qua “sự đau khổ” vì phải sống trong những điều kiện khó khăn của tự nhiên, con người đã cố gắng thoát ra khỏi tình trạng đó bằng cách sáng tạo ra công cụ sản xuất, nối dài sức