LUẬN VĂN: Báo nông nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1,845
516
64
Chương 2
NộI DUNG thể hiện của BáO NôNG NGHIệP trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
(Khảo sát năm 2001- 2002)
Báo Nông nghiệp Việt Namtôn chỉ mục đích ràng là; vì sự phát triển
nông nghiệp và nâng cao dân trí nông thôn. Đối tượng của tờ báo là đại đa số người dân
lao động, tập trung vùng quê nông thôn trình độ dân trí chưa cao so với các vùng
khác. Vì vậy tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên Nông nghiệp Việt
Nam luôn phải đảm bảo tính định hướng của Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp Phát
triển nông thôn, đảm bảo tính gần gũi, để dân có thể hiểu và tiếp nhận thông tinhiệu
quả nhất. Bên cạnh đó, để công tác tuyên truyền sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn hiệu quả, tờ báo luôn cập nhật thông tin, phản ánh đa dạng,
nhiều mặt, tạo ra một bức tranh hoàn chình về sự biến đổi của nông thôn trong quá trình
đổi mới.
Qua khảo sát 2 năm 2001- 2002, nội dung chính của tờ báo Nông nghiệp Việt
Nam” trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn gồm các vấn đề sau:
* Thời sự, kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
* Văn hóa, xã hội nông thôn và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
* Khuyến nông, khoa học kỹ thuật và tiến bộ trong canh tác.
* Các vấn đề bạn đọc.
1. thời sự, kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
1.1. phản ánh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
1.1.1. Những thành tựu trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Những năm qua, công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã
làm thay đổi căn bản đời sống hội các vùng nông thôn. Thu nhập bình quân trong
dân tăng đáng kể, đời sống văn hoá, xã hội được nâng cao, cơ sở vật chất, giáo dục y
tế đảm bảo. Kết quả này được phản ánh khá rõ nét trong bài “Hấp dẫn Tân Trường” (Số
1+2.2002) của Nguyễn Lễ. Bài viết là những ghi nhận về sự đổi thay của xã Tân Trường,
Bến Cát, Bình Dương trong quá trình áp dụng giống cây trồng phù hợp, điển hình là cây
xoài cát Hoà Lộc, xoài Bưởi, sầu riêng, nhãn tiêu da bò... Đời sống người dân nhờ đó
Chương 2 NộI DUNG thể hiện của BáO NôNG NGHIệP trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Khảo sát năm 2001- 2002) Báo “Nông nghiệp Việt Nam” có tôn chỉ mục đích rõ ràng là; vì sự phát triển nông nghiệp và nâng cao dân trí nông thôn. Đối tượng của tờ báo là đại đa số người dân lao động, tập trung ở vùng quê nông thôn và trình độ dân trí chưa cao so với các vùng khác. Vì vậy tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên Nông nghiệp Việt Nam luôn phải đảm bảo tính định hướng của Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đảm bảo tính gần gũi, để dân có thể hiểu và tiếp nhận thông tin có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, để công tác tuyên truyền sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn có hiệu quả, tờ báo luôn cập nhật thông tin, phản ánh đa dạng, nhiều mặt, tạo ra một bức tranh hoàn chình về sự biến đổi của nông thôn trong quá trình đổi mới. Qua khảo sát 2 năm 2001- 2002, nội dung chính của tờ báo “Nông nghiệp Việt Nam” trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn gồm các vấn đề sau: * Thời sự, kinh tế nông nghiệp, nông thôn. * Văn hóa, xã hội nông thôn và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. * Khuyến nông, khoa học kỹ thuật và tiến bộ trong canh tác. * Các vấn đề bạn đọc. 1. thời sự, kinh tế nông nghiệp, nông thôn. 1.1. phản ánh Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. 1.1.1. Những thành tựu trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Những năm qua, công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã làm thay đổi căn bản đời sống xã hội ở các vùng nông thôn. Thu nhập bình quân trong dân tăng đáng kể, đời sống văn hoá, xã hội được nâng cao, cơ sở vật chất, giáo dục và y tế đảm bảo. Kết quả này được phản ánh khá rõ nét trong bài “Hấp dẫn Tân Trường” (Số 1+2.2002) của Nguyễn Lễ. Bài viết là những ghi nhận về sự đổi thay của xã Tân Trường, Bến Cát, Bình Dương trong quá trình áp dụng giống cây trồng phù hợp, điển hình là cây xoài cát Hoà Lộc, xoài Bưởi, sầu riêng, nhãn tiêu da bò... Đời sống người dân nhờ đó
được cải biện rệt. Xây dựng được đường dây điện trung thế dài 6km, hoàn thiện trên
5km đường đá đỏ, 2km đường nội vùng nông thôn trên 10km kênh mương thuỷ lợi,
với tổng số vốn đầu tư là 460.5 triệu đồng. Đường sá đã được mở rộng, nối liền từ HTX
đến quốc lộ 13. Tân Trường đã xoá đi sự cách biệt trong đời sống cộng đồng giữa vùng
sâu vùng xa với thị trấn, thị xã. Giải quyết được công ăn việc làm cho 150 lao động nông
thôn, thu nhập ổn định từ 500- 700 ngàn đồng/ tháng.
Ngoài ra, những bài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi. Đưa cá lên... rừng
(22.1.2002) của tác giả Nghiêm Thị Hằng, Tháp Mười: dưa hấu mang lại nguồn thu
lớn”- Thị Diền (28.6.2001)... những bài phản ánh khá rõ nét sự đổi thay của đời
sống nông thôn từ khi các tỉnh, địa phương trong cả nước áp dụng chiến lược chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Điển hình là tại Yên Bái, “nhờ áp dụng chương trình chuyển
dịch cơ cấu, đến nay diện tích nuôi thả cá 21.000 ha và đạt 2.300 tấn, giá trị thuỷ sản
đạt 28,5 tỷ đồng. Giá trị thuỷ sản trong chăn nuôi năm 1995 là 2,4% đến 2001 đã lên đến
12,8%. Số hộ nghèo năm 2000 là 19,2% còn 16,9% năm 2001” ( bài Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế miền núi. Đưa n… rừng). Từ những thành tựu trên, mục tiêu từ nay
đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
hoá đang diễn ra thuận lợi. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn thì mô hình đươc coi là có hiệu kinh tế VAC. Kinh tế VAC ra đời cách đây gần
20 năm và giá trị của nó về nhiều mặt đã được khẳng. Trong những năm qua, bằng sự cố
gắng nỗ lực không ngừng, báo NNVN đã thực sự trở thành người bạn đường của kinh tế
VAC trong việc tuyên truyền những ưu điểm trong mô hình kinh tế này, giới thiệu những
cách làm sáng tạo, hiệu quả cao của trang trại VAC. Thực tế cho thấy rằng, qua sự phản
ánh của báo thì hình VAC đã được phát triển và nhân rộng khắp các vùng nông
thôn. Các bài: Chuyển dịch cấu vùng ĐBSH. Những mảnh đất thu bạc tỷ(Trần
Cao. 21.1.2002), Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất hàng hoá lớn
(8.2.2002)... là những bài viết tiêu biểu về vấn đề này.
Trong bài “Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất hàng hoá lớn”, tác giả
Duy Chiến đánh giá: “Kinh tế trang trại đã đi tiên phong thực hiện chuyển dịch cấu
kinh tế, trên lĩnh vực nông lâm thuỷ sản”. Tính ưu việt của kinh tế trang trại thể hiện
nhiều mặt: Khai thác sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn.
khoảng 300.000 lao động ở nông thôn đã có việc làm ở trang trại đồng thời kinh tế trang
được cải biện rõ rệt. Xây dựng được đường dây điện trung thế dài 6km, hoàn thiện trên 5km đường đá đỏ, 2km đường nội vùng nông thôn và trên 10km kênh mương thuỷ lợi, với tổng số vốn đầu tư là 460.5 triệu đồng. Đường sá đã được mở rộng, nối liền từ HTX đến quốc lộ 13. Tân Trường đã xoá đi sự cách biệt trong đời sống cộng đồng giữa vùng sâu vùng xa với thị trấn, thị xã. Giải quyết được công ăn việc làm cho 150 lao động nông thôn, thu nhập ổn định từ 500- 700 ngàn đồng/ tháng. Ngoài ra, những bài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi. Đưa cá lên... rừng” (22.1.2002) của tác giả Nghiêm Thị Hằng, “Tháp Mười: dưa hấu mang lại nguồn thu lớn”- Lê Thị Diền (28.6.2001)... là những bài phản ánh khá rõ nét sự đổi thay của đời sống nông thôn từ khi các tỉnh, địa phương trong cả nước áp dụng chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Điển hình là tại Yên Bái, “nhờ áp dụng chương trình chuyển dịch cơ cấu, đến nay diện tích nuôi thả cá là 21.000 ha và đạt 2.300 tấn, giá trị thuỷ sản đạt 28,5 tỷ đồng. Giá trị thuỷ sản trong chăn nuôi năm 1995 là 2,4% đến 2001 đã lên đến 12,8%. Số hộ nghèo năm 2000 là 19,2% còn 16,9% năm 2001” ( bài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền núi. Đưa cá lên… rừng). Từ những thành tựu trên, mục tiêu từ nay đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá đang diễn ra thuận lợi. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thì mô hình đươc coi là có hiệu là kinh tế VAC. Kinh tế VAC ra đời cách đây gần 20 năm và giá trị của nó về nhiều mặt đã được khẳng. Trong những năm qua, bằng sự cố gắng nỗ lực không ngừng, báo NNVN đã thực sự trở thành người bạn đường của kinh tế VAC trong việc tuyên truyền những ưu điểm trong mô hình kinh tế này, giới thiệu những cách làm sáng tạo, hiệu quả cao của trang trại VAC. Thực tế cho thấy rằng, qua sự phản ánh của báo thì mô hình VAC đã được phát triển và nhân rộng ở khắp các vùng nông thôn. Các bài: “Chuyển dịch cơ cấu vùng ĐBSH. Những mảnh đất thu bạc tỷ” (Trần Cao. 21.1.2002), “Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất hàng hoá lớn” (8.2.2002)... là những bài viết tiêu biểu về vấn đề này. Trong bài “Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất hàng hoá lớn”, tác giả Duy Chiến đánh giá: “Kinh tế trang trại đã đi tiên phong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trên lĩnh vực nông lâm thuỷ sản”. Tính ưu việt của kinh tế trang trại thể hiện ở nhiều mặt: Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn. Có khoảng 300.000 lao động ở nông thôn đã có việc làm ở trang trại đồng thời kinh tế trang
trại còn hình mẫu tổ chức sản xuất quản lý kinh tế nông thôn theo chế thị
trường. Số liệu thống trong bài báo Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất
hàng hóa lớn” cho chúng ta thấy thành quả mà mô hình VAC đem lại.
(Đơn vị: Triệu đồng)
Vùng Vốn sản xuất bình
quân/trang trại
Thu nhập bình quân/trang
trại
Cả nước 93,96 37,98
Đồng bằng sông Hồng 122,14 42,06
Đồng bằng sông Cửu Long 59,92 35,95
Đồng bằng Nam Bộ 211,18 54,04
Tây Nguyên 190,59 53,95
Nhờ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó hình kinh tế trang trại
“đã khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, kinh tế sản phẩm nông nghiệp”. Trong
bài Kinh tế trang trại- Bước đột phá của Bình Dương(8.2.2001), tác giả Ngọc Lễ
đã nhận xét: “Chăn nuôi chưa hẳn là cứu cánh của người nghèo nhưng đó đã phương
cách làm giàu của nhiều người dân”. Vì thế mà năm 1996, tỷ lệ đói nghèo ở Bình Dương
là 14,17% thìa năm 2000 giảm xuống còn 2,8%. Đời sống nông dân đã dần khấm khá
có của ăn của để, không còn phải chịu cảnh đói rét thất thường. Cơ sở hạ tầng cũng được
nâng cấp, đầu tư thích đáng. Nông dân không còn chịu cảnh đói thông tin, bênh tật được
hạn chế, đẩy lùi... Hiệu quả mô hình kinh tế VAC đem lại tín hiệu vui không chỉ
với người nông dân, còn khẳng định sự đúng đắn trong quá trình chuyển đổi cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ đổi mới. Cùng với cả nước,
ngành Thuỷ sản cũng đã bước vào cuộc với sức đầu lớn từ nhiều nguồn khác nhau;
Nghề nuôi trồng thuỷ sản được xem là mô hình ứng dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả
cao. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản đạt 1,8 tỷ USD, trở thành
cường quốc xuất khẩu thủy sản đứng thứ hai trong khu vực đứng thứ 7 trên phạm vi
toàn cầu. Và để đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả của ngành thuỷ sản, đã có nhiều chính sách
ưu đãi của Nhà nước và Bộ NN- PTNT đối với ngành kinh tế mũi nhọn này. 23 tỷ đồng
trại còn là hình mẫu tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế ở nông thôn theo cơ chế thị trường. Số liệu thống kê trong bài báo “Kinh tế trang trại, tín hiệu của nền sản xuất hàng hóa lớn” cho chúng ta thấy thành quả mà mô hình VAC đem lại. (Đơn vị: Triệu đồng) Vùng Vốn sản xuất bình quân/trang trại Thu nhập bình quân/trang trại Cả nước 93,96 37,98 Đồng bằng sông Hồng 122,14 42,06 Đồng bằng sông Cửu Long 59,92 35,95 Đồng bằng Nam Bộ 211,18 54,04 Tây Nguyên 190,59 53,95 Nhờ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong đó có mô hình kinh tế trang trại “đã khai thác tốt tiềm năng đất đai, lao động, kinh tế và sản phẩm nông nghiệp”. Trong bài “Kinh tế trang trại- Bước đột phá của Bình Dương” (8.2.2001), tác giả Ngọc Lễ đã nhận xét: “Chăn nuôi chưa hẳn là cứu cánh của người nghèo nhưng đó đã là phương cách làm giàu của nhiều người dân”. Vì thế mà năm 1996, tỷ lệ đói nghèo ở Bình Dương là 14,17% thìa năm 2000 giảm xuống còn 2,8%. Đời sống nông dân đã dần khấm khá và có của ăn của để, không còn phải chịu cảnh đói rét thất thường. Cơ sở hạ tầng cũng được nâng cấp, đầu tư thích đáng. Nông dân không còn chịu cảnh đói thông tin, bênh tật được hạn chế, đẩy lùi... Hiệu quả mà mô hình kinh tế VAC đem lại là tín hiệu vui không chỉ với người nông dân, mà còn khẳng định sự đúng đắn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Cùng với cả nước, ngành Thuỷ sản cũng đã bước vào cuộc với sức đầu tư lớn từ nhiều nguồn khác nhau; Nghề nuôi trồng thuỷ sản được xem là mô hình ứng dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản đạt 1,8 tỷ USD, trở thành cường quốc xuất khẩu thủy sản đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 7 trên phạm vi toàn cầu. Và để đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả của ngành thuỷ sản, đã có nhiều chính sách ưu đãi của Nhà nước và Bộ NN- PTNT đối với ngành kinh tế mũi nhọn này. 23 tỷ đồng
đã được đầu tư cho khuyến ngư, trong đó vốn đầu tư cho địa phương là 10 tỷ đồng (bài:
Năm 2001 đầu tư 23 tỷ đồng cho khuyến n” (S32.2001), “140 dự án trong chương
trình phát triển thuỷ sản được phê duyệt; các dự án chuyển tiếp được triển khai. Chương
trình phát triển thuỷ sản được Trung ương hỗ trợ 340 tỷ đồng”. (“Thuỷ sản Việt Nam
đang... khát vốn”- Nghiêm Thị Hằng 7.1.2002). Đây sự đầu thích đáng cho một
ngành kinh tế mũi nhọn, thành viên mạnh của nền kinh tế nước nhà. Đánh giá những
thành quả thuỷ sản Việt Nam đạt được kể từ khi đẩy mạnh chuyển dịch cấu kinh
tế, tác giả Kim Châu trong bài: Thuỷ sản Việt Nam, bước chân dài qua hai thế kỷ
(22-301.2001) đã nhận xét: “Hiện nay thuỷ sản Việt Nam đã có uy tín trên thị trường gần
60 nước. Thuỷ sản Việt Nam không chỉ giữ vững được thị trường EU đã bước chân
sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ”.
Những kết quả thu được đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước,
Bộ Nông nghiệp là hoàn toàn đúng đắn, hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân,
là yêu cầu thiết yếu của nông nghiệp, nông thôn. Muốn CHN, HĐH đất nước, trước tiên
phải đổi mới từ nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết TW5 khóa IX cũng đã chỉ rõ; “Dựa
vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy mọi
tiềm năng của các thành phần kinh tế”. vậy, chúng ta phải dựa vào chính nguồn lực
sẵn có, đó chính tiềm năng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Với chức
năng, nhiệm vụ của mình, báo Nông nghiệp đã kịp thời cung cấp thông tin kinh tế, thời
sự trong đa dạng nhiều chiều. Qua những bài báo được đăng tải, người nông dân đã
thực sự hiểu lợi ích khi tham gia phát triển kinh tế theo mô hình mới, biết cách thức tổ,
làm ăn sao cho có hiệu quả.
1.1.2. Những vấn đề vướng mắc.
Trong quá trình chuyển đổi kinh tế nông thôn một số nơi còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc trong giải quyết giống, khoa học kỹ thuật và đầu ra. Các cấp, các ngành
có trách nhiệm tại địa phương chưa quan tâm xác đáng và điều chỉnh kế hoạch cho hợp
lý. Việc chỉ đạo thông tin đến từng địa bàn dân cư gặp nhiều trở ngại, thiếu nhất quán
hành động dứt khoát do hạn chế về trình độ hiểu biết của người dân cản trở do đói
nghèo, lũ lụt... Báo NNVN đã có những bài báo phản ánh kịp thời về những vấn đề còn
tồn đọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó đề ra một số biện pháp cụ thể,
tính khả thi, đó là các bài: Vụ đông xuân ĐBSCL: sẽ lặp lại điệp khúc “được
đã được đầu tư cho khuyến ngư, trong đó vốn đầu tư cho địa phương là 10 tỷ đồng (bài: “Năm 2001 đầu tư 23 tỷ đồng cho khuyến ngư” (S32.2001), “140 dự án trong chương trình phát triển thuỷ sản được phê duyệt; các dự án chuyển tiếp được triển khai. Chương trình phát triển thuỷ sản được Trung ương hỗ trợ 340 tỷ đồng”. (“Thuỷ sản Việt Nam đang... khát vốn”- Nghiêm Thị Hằng 7.1.2002). Đây là sự đầu tư thích đáng cho một ngành kinh tế mũi nhọn, thành viên mạnh của nền kinh tế nước nhà. Đánh giá những thành quả mà thuỷ sản Việt Nam đạt được kể từ khi đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác giả Kim Châu trong bài: “Thuỷ sản Việt Nam, bước chân dài qua hai thế kỷ” (22-301.2001) đã nhận xét: “Hiện nay thuỷ sản Việt Nam đã có uy tín trên thị trường gần 60 nước. Thuỷ sản Việt Nam không chỉ giữ vững được thị trường EU mà đã bước chân sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ”. Những kết quả thu được đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp là hoàn toàn đúng đắn, hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là yêu cầu thiết yếu của nông nghiệp, nông thôn. Muốn CHN, HĐH đất nước, trước tiên phải đổi mới từ nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết TW5 khóa IX cũng đã chỉ rõ; “Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế”. Vì vậy, chúng ta phải dựa vào chính nguồn lực sẵn có, đó chính là tiềm năng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, báo Nông nghiệp đã kịp thời cung cấp thông tin kinh tế, thời sự trong đa dạng và nhiều chiều. Qua những bài báo được đăng tải, người nông dân đã thực sự hiểu lợi ích khi tham gia phát triển kinh tế theo mô hình mới, biết cách thức tổ, làm ăn sao cho có hiệu quả. 1.1.2. Những vấn đề vướng mắc. Trong quá trình chuyển đổi kinh tế nông thôn ở một số nơi còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong giải quyết giống, khoa học kỹ thuật và đầu ra. Các cấp, các ngành có trách nhiệm tại địa phương chưa quan tâm xác đáng và điều chỉnh kế hoạch cho hợp lý. Việc chỉ đạo thông tin đến từng địa bàn dân cư gặp nhiều trở ngại, thiếu nhất quán và hành động dứt khoát do hạn chế về trình độ hiểu biết của người dân và cản trở do đói nghèo, lũ lụt... Báo NNVN đã có những bài báo phản ánh kịp thời về những vấn đề còn tồn đọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó đề ra một số biện pháp cụ thể, có tính khả thi, đó là các bài: “Vụ đông xuân ở ĐBSCL: sẽ lặp lại điệp khúc “được
mùa, rớt giá”?”- Hùng Anh (9.2.2001), “Giải quyết sự cố “ngô lai không hạt” ở Ninh
Thuận như thế nào”- ĐQ (12.4.2001), Suy nghĩ về phát triển nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá ở TX Bắc Giang”- Đỗ Thành Nam (5.3.2002), Kỳ Anh sau
cơn đại hoạ”- Võ Thanh Mai (22.5.2001)...
Tìm hiểu thực trạng thiếu giống cây trồng, vật nuôi ở miền Trung- Tây Nguyên
qua bài; Lúa lai miền Trung- Tây Nguyên. Vẫn chưa sự đột phá” (12.9.2002),
tác giả Minh Trung cho rằng; “Nguyên nhân của vấn đề này các tỉnh trong vùng phải
đối mặt với sự khan hiếm giống bố mẹ gay gắt. Các địa phương phải phụ thuộc hoàn toàn
vào nguồn hỗ trợ của Bộ NN- PTNT hoặc tìm kiếm rất hạn chế qua khâu trung gian nhập
khẩu từ Trung Quốc”. Còn tại Bắc Kạn, tìm hiểu nguyên nhân vì sao cây nguyên liệu
chết nhiều, tác giả Văn Cao chỉ ra; Những người hướng dẫn kỹ thuật thiết kế và chỉ đạo
triển khai chưa tốt. Việc phối hợp giữa người dân trồng rừng lãnh đạo địa phương
chưa chặt chẽ”. (“Bắc Kạn. Cây nguyên liệu giấy chết nhiều”. 23. 9.2002). Trong bài;
Cần một chiến lược quốc gia cho cây ca cao Việt Namtác giả Minh Trung nêu lên
thực trạng: “Khi cây cà phê đang rớt giá thì Nhà nước cần phải có động thái mở rộng diện
tích trồng ca cao lên cao”. nhưng thực tế thì “ Ca cao Việt Nam gần như bị bỏ ngỏ, chưa
địa phương nào quy hoach, đầu tư”. Trong khi đó nhìn nhận từ thực tế thì “Viện
nghiên cứu Ca cao Mỹ (ACRI) dự báo trong 10 năm tới, nhu cầu tiêu thụ ca cao sẽ tăng
liên tục, bình quân 4 năm; trong khi đó lượng ca cao thế giới chỉ đáp ứng 3 triệu tấn/
năm, chiếm 1,5 % năm, do đó cầu sẽ vượt quá cung”. Vì thiếu thông tin, chậm nắm bắt
nhu cầu thị trường nên mặt hàng ca cao vẫn chưa trở thành thế mạnh trong xuất khẩu
nông sản của Việt Nam. Cho nên đã đến lúc “phải ý thức được tầm quan trọng của Công
nghệ Thông tin nhanh chóng ứng dụng chúng vào sản xuất tiêu thụ sản phẩm”.
như vậy mới từng bước hội nhập và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thế giới trong kỷ
nguyên toàn cầu hoá.
Phát triển sản xuất luôn phải gắn với thị trường, tìm được đầu ra, vì vậy công tác
sản xuất nông nghiệp luôn phải được xây dựng cùng với công tác tiêu thụ thường
xuyên nắm bắt thông tin về thị trường. vậy thì do không cập nhật thông tin kịp thời
nên vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ. Nhận thức tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong
nông nghiệp, Trong bài “Cần coi trọng ứng dụng Công nghệ Thông tin trong lĩnh vực
Nông nghiệp (26.2.2002). Tác giả Hữu Hoà nêu lên thực tế; “ở nước ta công nghệ
mùa, rớt giá”?”- Hùng Anh (9.2.2001), “Giải quyết sự cố “ngô lai không hạt” ở Ninh Thuận như thế nào”- ĐQ (12.4.2001), “Suy nghĩ về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở TX Bắc Giang”- Đỗ Thành Nam (5.3.2002), “Kỳ Anh sau cơn đại hoạ”- Võ Thanh Mai (22.5.2001)... Tìm hiểu thực trạng thiếu giống cây trồng, vật nuôi ở miền Trung- Tây Nguyên qua bài; “Lúa lai ở miền Trung- Tây Nguyên. Vẫn chưa có sự đột phá” (12.9.2002), tác giả Minh Trung cho rằng; “Nguyên nhân của vấn đề này là các tỉnh trong vùng phải đối mặt với sự khan hiếm giống bố mẹ gay gắt. Các địa phương phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hỗ trợ của Bộ NN- PTNT hoặc tìm kiếm rất hạn chế qua khâu trung gian nhập khẩu từ Trung Quốc”. Còn tại Bắc Kạn, tìm hiểu nguyên nhân vì sao cây nguyên liệu chết nhiều, tác giả Văn Cao chỉ ra; Những người hướng dẫn kỹ thuật thiết kế và chỉ đạo triển khai chưa tốt. Việc phối hợp giữa người dân trồng rừng và lãnh đạo địa phương chưa chặt chẽ”. (“Bắc Kạn. Cây nguyên liệu giấy chết nhiều”. 23. 9.2002). Trong bài; “Cần một chiến lược quốc gia cho cây ca cao Việt Nam” tác giả Minh Trung nêu lên thực trạng: “Khi cây cà phê đang rớt giá thì Nhà nước cần phải có động thái mở rộng diện tích trồng ca cao lên cao”. nhưng thực tế thì “ Ca cao Việt Nam gần như bị bỏ ngỏ, chưa có địa phương nào quy hoach, đầu tư”. Trong khi đó nhìn nhận từ thực tế thì “Viện nghiên cứu Ca cao Mỹ (ACRI) dự báo trong 10 năm tới, nhu cầu tiêu thụ ca cao sẽ tăng liên tục, bình quân 4 năm; trong khi đó lượng ca cao thế giới chỉ đáp ứng 3 triệu tấn/ năm, chiếm 1,5 % năm, do đó cầu sẽ vượt quá cung”. Vì thiếu thông tin, chậm nắm bắt nhu cầu thị trường nên mặt hàng ca cao vẫn chưa trở thành thế mạnh trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Cho nên đã đến lúc “phải ý thức được tầm quan trọng của Công nghệ Thông tin và nhanh chóng ứng dụng chúng vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm”. Có như vậy mới từng bước hội nhập và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hoá. Phát triển sản xuất luôn phải gắn với thị trường, tìm được đầu ra, vì vậy công tác sản xuất nông nghiệp luôn phải được xây dựng cùng với công tác tiêu thụ và thường xuyên nắm bắt thông tin về thị trường. Dù vậy thì do không cập nhật thông tin kịp thời nên vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ. Nhận thức tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong nông nghiệp, Trong bài “Cần coi trọng ứng dụng Công nghệ Thông tin trong lĩnh vực Nông nghiệp” (26.2.2002). Tác giả Hữu Hoà nêu lên thực tế; “ở nước ta công nghệ
thông tin chưa được các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp coi trọng”. Và mặc dù Bộ NN- PTNT đã xây dựng trang web nhằm giới thiệu 1
cách khái quát về nền nông nghiệp Việt Nam song việc xử lý những thông tin để phổ biến
đến nông dân, giúp họ có định hướng trong sản xuất thì còn hạn chế, người dân vẫn phải
chịu cảnh đói thông tin chịu nhiều thiệt thòi. Một vấn đề đặt ra đối với quá trình
chuyển đổi kinh tế ở nông thôn là đòi hỏi nguồn lao động đa dạng và có trình độ tay nghề
cao. Tuy nhiên thực trạng còn tồn tại ở hầu hết các địa phương là sự thiếu hụt lực lượng
lao động , và trình độ tay nghề không cao, do đó ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất
công việc. Để đi tìm nguyên nhân, Trong bài Nan giải tình trạng thiếu lao động ở các
trang trại(26.4.2001), tác giả Đỗ Quyên phản ánh một thực tế: Đó là các lao động
trình độ đổ về thành phố kiếm việc, không nặm với công việc đồng áng. Các chủ
trang trại thuê lao động phần lớn không có chế độ bảo hiểm mang tính lâu dài, không có
hợp đồng bài bản, chỉ giao kèo bằng miệng, trả công theo thoả thuận. Bên cạnh đó “một
số sinh viên mới tốt nghiệp được các chủ trang trại tuyển dụng làm việc, nhưng chỉ trong
thời gian ngắn thì bỏ việc, lên thành phố lương thấp, chủ trang trại đòi hỏi phải m
việc hết mình...”.
Bên cạnh những bài ghi nhận những thành tựu đã đạt được trong ứng dụng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn, tờ báo còn phản ánh những vấn đề thời sự còn tồn
đọng trong quá trình đổi mới kinh tế. Những thông tin đó đã giúp Bộ Nông nghiệp và các
cấp, các ngành địa phương kịp thời rút kinh nghiệm. Điều chỉnh các hoạt động phát triển
kinh tế địa phương cho phù hợp, tránh tình trạng đi theo vết xe cũ.
1.2. Đầu tư vốn, Xây dựng cơ sở hạ tầng
Mục tiêu CNH, HĐH nông thôn phát triển nông nghiệp nâng cao đời sống
người nông dân gắn với quy chế dân chủ nông thôn. Nghị quyết 06 NQ/ TƯ, ngày
10.11.1998 của Bộ Chính trị, nhấn mạnh: “Từng bước tăng dần đầu cho nông
nghiệp nông thôn, trước hết, tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng
(đường, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm xá...) ở nông thôn, chú ý các vùng cao, vùng sâu,
vùng xa...”.
Trong hai m (2001- 2002), báo Nông nghiệp Việt Namcùng với cả nước
đã phát động chương trình tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, phản ánh công cuộc
xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống người nông dân. Những kết quả
thông tin chưa được các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp coi trọng”. Và mặc dù Bộ NN- PTNT đã xây dựng trang web nhằm giới thiệu 1 cách khái quát về nền nông nghiệp Việt Nam song việc xử lý những thông tin để phổ biến đến nông dân, giúp họ có định hướng trong sản xuất thì còn hạn chế, người dân vẫn phải chịu cảnh đói thông tin và chịu nhiều thiệt thòi. Một vấn đề đặt ra đối với quá trình chuyển đổi kinh tế ở nông thôn là đòi hỏi nguồn lao động đa dạng và có trình độ tay nghề cao. Tuy nhiên thực trạng còn tồn tại ở hầu hết các địa phương là sự thiếu hụt lực lượng lao động , và trình độ tay nghề không cao, do đó ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất công việc. Để đi tìm nguyên nhân, Trong bài “Nan giải tình trạng thiếu lao động ở các trang trại” (26.4.2001), tác giả Đỗ Quyên phản ánh một thực tế: Đó là các lao động có trình độ đổ về thành phố kiếm việc, không nặm mà với công việc đồng áng. Các chủ trang trại thuê lao động phần lớn không có chế độ bảo hiểm mang tính lâu dài, không có hợp đồng bài bản, chỉ giao kèo bằng miệng, trả công theo thoả thuận. Bên cạnh đó “một số sinh viên mới tốt nghiệp được các chủ trang trại tuyển dụng làm việc, nhưng chỉ trong thời gian ngắn thì bỏ việc, lên thành phố vì lương thấp, chủ trang trại đòi hỏi phải làm việc hết mình...”. Bên cạnh những bài ghi nhận những thành tựu đã đạt được trong ứng dụng chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn, tờ báo còn phản ánh những vấn đề thời sự còn tồn đọng trong quá trình đổi mới kinh tế. Những thông tin đó đã giúp Bộ Nông nghiệp và các cấp, các ngành địa phương kịp thời rút kinh nghiệm. Điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế địa phương cho phù hợp, tránh tình trạng đi theo vết xe cũ. 1.2. Đầu tư vốn, Xây dựng cơ sở hạ tầng Mục tiêu CNH, HĐH nông thôn là phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống người nông dân gắn với quy chế dân chủ ở nông thôn. Nghị quyết 06 NQ/ TƯ, ngày 10.11.1998 của Bộ Chính trị, có nhấn mạnh: “Từng bước tăng dần đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, trước hết, tập trung đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng (đường, thuỷ lợi, điện, trường học, trạm xá...) ở nông thôn, chú ý các vùng cao, vùng sâu, vùng xa...”. Trong hai năm (2001- 2002), báo “Nông nghiệp Việt Nam” cùng với cả nước đã phát động chương trình tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, phản ánh công cuộc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống người nông dân. Những kết quả
đạt được trong qúa trình xây dựng một nông thôn mới được phản ánh rõ nét qua từng số
báo. Tác giả Duy Chiến trong bài Đi tìm lộ trình tất yếu của CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn” (S1+2, 1.1.2002) đã có những ghi nhận: “Sản xuất nông nghiệp phát
triển với tốc độ cao, trên 4,3% trong suốt 10 năm qua. Công nghiệp chế biến tăng 12-
14%. Điện khí hoá 100% số huyện, 81% số xã và 72% số hộ. 95% số xã đã có đường ô tô
đến trung tâm. 85% số xã có điện thoại, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20% năm 1995 còn 10-
11% năm 2000”. Đây là những ghi nhận ban đầu về những thành quả đã đạt được từ khi
chuyển đối cấu kinh tế nông thôn. Từ thành quả này, chúng ta đủ cơ sở để khẳng
đinh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chiến lược phát triển đúng đắn và có hiệu
quả. Nâng cao đời sống của người dân ở nông thôn là trách nhiệm chung của toàn Đảng,
toàn dân. Bên cạnh việc đầu tư để phát triển kinh tế, Đảng cũng chú trọng đầu tư cơ sở hạ
tầng, có chế độ, chính sách ưu đãi đối với từng vùng, miền trong từng địa phương. Mỗi
năm, các nguồn vốn cả nước đã đầu cho khu vực nông thôn khoảng 250 triệu USD.
2235 xã nghèo vùng đặc biệt khó khăn đã được Nhà nước đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các
chương trình lồng ghép khác mỗi năm khoảng 150 triệu USD. Khi nói về tương lai nông
thôn, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tn cho rằng; Phải làm cho nông dân hạnh phúc khi họ
sống ở nông thôn. Hạnh phúc, ấy là nông dân có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, con cái được
học hành, được vui chơi, giải trí... Tương lai của nông thôn nước ta phát triển theo
hướng công nghiệp cùng với phát triển các dịch vụ. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: “Nông
thôn không chỉ cần có điện, đường, trường, trạm xá mà còn cần có nơi vui chơi thể thao”.
(“Cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn, giúp qui hoạch xây dựng
và phát triển nông thôn...” Ngô Giang. Số 84. 2001).
Chú trọng đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống ở nông thôn
đang được từng địa phương triển khai và thu được hiệu quả. Thực tế những năm qua, vấn
đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp, các
ngành quan tâm toàn diện cả về cơ chế, chính sách và nguồn lực tài chính. Số vốn đầu tư
từ ngân sách trung ương dành cho nông nghiệp, nông thôn không ngừng tăng lên tập
trung chủ yếu vào xây dựng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ
tầng nông thôn. Tại Khánh Hoà 70 tỷ đồng do Ngân hàng Phát triển châu á và Chính phủ
Việt Nam đầu tư để phát triển y tế nông thôn, củng cố công tác dự phòng, giáo dục truyền
thông y tế cộng đồng. (“Khánh Hoà; Xây dựng dự án phát triển y tế nông thôn”- Lai
đạt được trong qúa trình xây dựng một nông thôn mới được phản ánh rõ nét qua từng số báo. Tác giả Duy Chiến trong bài “Đi tìm lộ trình tất yếu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” (S1+2, 1.1.2002) đã có những ghi nhận: “Sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ cao, trên 4,3% trong suốt 10 năm qua. Công nghiệp chế biến tăng 12- 14%. Điện khí hoá 100% số huyện, 81% số xã và 72% số hộ. 95% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm. 85% số xã có điện thoại, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20% năm 1995 còn 10- 11% năm 2000”. Đây là những ghi nhận ban đầu về những thành quả đã đạt được từ khi chuyển đối cơ cấu kinh tế nông thôn. Từ thành quả này, chúng ta có đủ cơ sở để khẳng đinh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chiến lược phát triển đúng đắn và có hiệu quả. Nâng cao đời sống của người dân ở nông thôn là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân. Bên cạnh việc đầu tư để phát triển kinh tế, Đảng cũng chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, có chế độ, chính sách ưu đãi đối với từng vùng, miền trong từng địa phương. Mỗi năm, các nguồn vốn cả nước đã đầu tư cho khu vực nông thôn khoảng 250 triệu USD. 2235 xã nghèo vùng đặc biệt khó khăn đã được Nhà nước đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các chương trình lồng ghép khác mỗi năm khoảng 150 triệu USD. Khi nói về tương lai nông thôn, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn cho rằng; Phải làm cho nông dân hạnh phúc khi họ sống ở nông thôn. Hạnh phúc, ấy là nông dân có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, con cái được học hành, được vui chơi, giải trí... Tương lai của nông thôn nước ta là phát triển theo hướng công nghiệp cùng với phát triển các dịch vụ. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: “Nông thôn không chỉ cần có điện, đường, trường, trạm xá mà còn cần có nơi vui chơi thể thao”. (“Cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn, giúp qui hoạch xây dựng và phát triển nông thôn...” Ngô Giang. Số 84. 2001). Chú trọng đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống ở nông thôn đang được từng địa phương triển khai và thu được hiệu quả. Thực tế những năm qua, vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp, các ngành quan tâm toàn diện cả về cơ chế, chính sách và nguồn lực tài chính. Số vốn đầu tư từ ngân sách trung ương dành cho nông nghiệp, nông thôn không ngừng tăng lên và tập trung chủ yếu vào xây dựng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tại Khánh Hoà 70 tỷ đồng do Ngân hàng Phát triển châu á và Chính phủ Việt Nam đầu tư để phát triển y tế nông thôn, củng cố công tác dự phòng, giáo dục truyền thông y tế cộng đồng. (“Khánh Hoà; Xây dựng dự án phát triển y tế nông thôn”- Lai
Thành. 18.1.2001). Còn ở An Giang, 400 căn nhà cho người nghèo được xây dựng, chuẩn
bị cho Tết Nhâm Ngọ, với số tiền là 1,2 tỷ đồng (“An Giang: Cất mới hơn 400 căn nhà
cho người nghèo”- Phan Trọng Ân. (14.2.2002). Năm 2002, có 2.300 lượt hộ gia đình ở
Rịa- Vũng Tàu được vay vốn m ăn, giảm được 2.000 hộ nghèo. Công tác kiên cố
kênh mương Hưng Yên cũng đã thực hiện được tại 37 xã. Những công trình này khi
được đưa vào sử dụng sẽ phục vụ cấp nước cho một diện tích khá lớn ruộng đồng
trước đây thường xuyên bị hạn hán. (“Hưng Yên: Kiên cố hoá kênh mương ở 37 ”-
Vũ Minh Việt. 8.2.2001).
Nhưng hiện nay, kết cấu cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống dân cư ở
một số vùng nông thôn còn thấp, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, dân sống ở vùng ven
biển, vùng sông nước, nổi cộm là vấn đề nhà ở. Cả nước còn khoảng 2,6 triệu hộ, với 13
triệu nhân khẩu thuộc diện đói; 1.040.000 hộ còn nhà tạm làm bằng tranh tre, nứa, lá.
“Nạn thiếu nhà ở, hoặc nhà quá chật, tạm bợ,sài ở vùng ven biển là khá phổ biến”.
Cần lưu tâm đến nhà ở cho dân vùng ven biển”- Vũ Đăng Hiến (17.9.2002). Và tình
trạng gia tăng bệnh tật do thiếu nước sạch, thiếu sở y tế hầu hết các địa phương
đang trở thành vấn đề nóng bỏng. “Thiếu nước sạch nên tình trạng bệnh tật của dân
nông thôn vùng bán đảo Gò Công đang ở mức báo động. Theo thống kê chưa đầy đủ của
ngành y tế các địa phương, hiện tại bệnh đau mắt, tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá chiếm 40-
60% tổng số ca nhập viện...” (“ĐBSCL trước nguy hạn hán”- Nhóm PV ĐBSCL.
25.2.2002). Còn tại Cà Mau, mặc dù “Hiện nay, tại Cà Mau, ngoài 19.000 giếng- bơm lắc
tay do Nhà nước đầu tư, dân đã tự khoan 15.000 giếng. Kiên Giang đầu xây dựng
15.000 công trình nước sạch, nhưng hộ sử dụng nước sạch cũng chỉ khoảng 53%”.
(“Nước sạch đắt hơn dầu?”- Hoà Nghị. 15.2.2001). Đã đến lúc cần phải có những biện
pháp ngăn chặn hoặc hạn chế tối đa mức ô nhiễm nguồn nước sạch. ứng dụng công nghệ,
xây dựng hệ thống kênh mương...yêu cầu cấp thiết nhất để nâng cao đời sống người
dân. Và cách làm ở Củ Chi, Mĩ Khánh chính là một tiến bộ mới, đảm bảo an toàn vệ sinh
môi trường, tận dụng được nguồn chất thải phụ vụ sinh hoạt. Tại đây, “Đã từng bước xây
dựng hầm Biôga xử nguồn chất thải từ động vật con người. áp dụng phương pháp
quản dịch hại tổng hợp IPM vào các hoạt động công tác, trồng trọt, hướng dẫn, thu
gom rác”. Chính thế 100% người dân được sử dụng nước sạch. (“Một chương
trình đang làm thay đổi tập quán người dân nông thôn”- Hữu Thống. 20.8.2002). Đây
Thành. 18.1.2001). Còn ở An Giang, 400 căn nhà cho người nghèo được xây dựng, chuẩn bị cho Tết Nhâm Ngọ, với số tiền là 1,2 tỷ đồng (“An Giang: Cất mới hơn 400 căn nhà cho người nghèo”- Phan Trọng Ân. (14.2.2002). Năm 2002, có 2.300 lượt hộ gia đình ở Bà Rịa- Vũng Tàu được vay vốn làm ăn, giảm được 2.000 hộ nghèo. Công tác kiên cố kênh mương ở Hưng Yên cũng đã thực hiện được tại 37 xã. Những công trình này khi được đưa vào sử dụng sẽ phục vụ cấp nước cho một diện tích khá lớn ruộng đồng mà trước đây thường xuyên bị hạn hán. (“Hưng Yên: Kiên cố hoá kênh mương ở 37 xã”- Vũ Minh Việt. 8.2.2001). Nhưng hiện nay, kết cấu cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống dân cư ở một số vùng nông thôn còn thấp, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, cư dân sống ở vùng ven biển, vùng sông nước, nổi cộm là vấn đề nhà ở. Cả nước còn khoảng 2,6 triệu hộ, với 13 triệu nhân khẩu thuộc diện đói; 1.040.000 hộ còn ở nhà tạm làm bằng tranh tre, nứa, lá. “Nạn thiếu nhà ở, hoặc nhà ở quá chật, tạm bợ, sơ sài ở vùng ven biển là khá phổ biến”. “Cần lưu tâm đến nhà ở cho dân vùng ven biển”- Vũ Đăng Hiến (17.9.2002). Và tình trạng gia tăng bệnh tật do thiếu nước sạch, thiếu cơ sở y tế ở hầu hết các địa phương đang trở thành vấn đề nóng bỏng. “Thiếu nước sạch nên tình trạng bệnh tật của cư dân nông thôn vùng bán đảo Gò Công đang ở mức báo động. Theo thống kê chưa đầy đủ của ngành y tế các địa phương, hiện tại bệnh đau mắt, tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá chiếm 40- 60% tổng số ca nhập viện...” (“ĐBSCL trước nguy cơ hạn hán”- Nhóm PV ĐBSCL. 25.2.2002). Còn tại Cà Mau, mặc dù “Hiện nay, tại Cà Mau, ngoài 19.000 giếng- bơm lắc tay do Nhà nước đầu tư, dân đã tự khoan 15.000 giếng. Kiên Giang đầu tư xây dựng 15.000 công trình nước sạch, nhưng hộ sử dụng nước sạch cũng chỉ khoảng 53%”. (“Nước sạch đắt hơn dầu?”- Hoà Nghị. 15.2.2001). Đã đến lúc cần phải có những biện pháp ngăn chặn hoặc hạn chế tối đa mức ô nhiễm nguồn nước sạch. ứng dụng công nghệ, xây dựng hệ thống kênh mương... là yêu cầu cấp thiết nhất để nâng cao đời sống người dân. Và cách làm ở Củ Chi, Mĩ Khánh chính là một tiến bộ mới, đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường, tận dụng được nguồn chất thải phụ vụ sinh hoạt. Tại đây, “Đã từng bước xây dựng hầm Biôga xử lý nguồn chất thải từ động vật và con người. áp dụng phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM vào các hoạt động công tác, trồng trọt, hướng dẫn, thu gom rác”. Chính vì thế mà 100% người dân được sử dụng nước sạch. (“Một chương trình đang làm thay đổi tập quán người dân nông thôn”- Hữu Thống. 20.8.2002). Đây
việc làm hữu hiệu nhờ việc người dân đã biết nhận thức tầm quan trọng của việc giữ
gìn môi trường bên cạnh việc khai thác và phát triển kinh tế. Qua cách làm hiệu quả ở Củ
Chi, người dân vùng nông thôn học tập và ứng dụng công nghệ phục vụ và nâng cao đời
sống.
1.3. Thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn.
Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng, Nhà nước là một chủ trương lớn, nhằm phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. vậy, thể
khẳng định rằng, một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm hiện nay là phải củng cố,
hoàn thiện chính quyền sở, nâng cao dân trí thực hành tốt dân chủ từ sở, đảm
bảo cho nhân dân phát huy quyền làm chủ, sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị- xã hội,
hăng hái sản xuất và đưa tiến bộ khoa học- công nghệ vào thực tiễn. Thực hiện dân chủ ở
cơ sở không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mặt, mà còn là nhiệm vụ lâu dài, mang tính
chiến lược của cách mạng nước ta. Thực tế những năm qua, cùng với đổi mới kinh tế t
việc mở rộng quy chế dân chủ, phát huy nội lực từ trong dân đã đưa đất nước ta thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, đi tới ổn định và phát triển, tiền đề để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến nay, 90% số xã, phường, thị trấn đã triển khai, xây dựng
và thực hiện quy chế. Tìm hiểu vấn đề này, tác giả Đặng Vũ có bài viết “Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân. Mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới” (26.3.2002). Tác
giả khẳng định: “Dân chủ vừa là mục tiêu, động lực đảm bảo sự thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Nội dung cơ bản của dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực thuộc
về nhân dân, tự do, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ trong xã hội. Thước đo hay tiêu chí
dân chủ của cộng đồng xã hội được thông qua quyền làm chủ của công dân”. Còn trong
bài; An Phú chuyển mình(10.1.2002), tác giả Ngọc Thạch đã đánh giá tầm quan
trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ An Phú- Thủ Thừa- Long An: “Với việc đưa
quy chế dân chủ vào đời sống nhân dân cũng như vấn đề vận dụng tốt quy chế dân chủ
trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- hội, An Phú đã tìm được cho mình một
con đường vững chắc để hoàn thành công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn
mới trong thời kỳ CNH, HĐH”.
Thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn trong thời kỳ mới gặp nhiều khó khăn,
bởi trình độ hiểu biết của người dân chưa đồng đều và sâu rộng. Dân cư tập trung ở nhiều
vùng miền nên việc đưa quy chế vào cuộc sống không phải là điều dễ dàng. Bên cạnh đó,
là việc làm hữu hiệu nhờ việc người dân đã biết nhận thức tầm quan trọng của việc giữ gìn môi trường bên cạnh việc khai thác và phát triển kinh tế. Qua cách làm hiệu quả ở Củ Chi, người dân vùng nông thôn học tập và ứng dụng công nghệ phục vụ và nâng cao đời sống. 1.3. Thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn. Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng, Nhà nước là một chủ trương lớn, nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm hiện nay là phải củng cố, hoàn thiện chính quyền cơ sở, nâng cao dân trí và thực hành tốt dân chủ từ cơ sở, đảm bảo cho nhân dân phát huy quyền làm chủ, sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị- xã hội, hăng hái sản xuất và đưa tiến bộ khoa học- công nghệ vào thực tiễn. Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mặt, mà còn là nhiệm vụ lâu dài, mang tính chiến lược của cách mạng nước ta. Thực tế những năm qua, cùng với đổi mới kinh tế thì việc mở rộng quy chế dân chủ, phát huy nội lực từ trong dân đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, đi tới ổn định và phát triển, tiền đề để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến nay, 90% số xã, phường, thị trấn đã triển khai, xây dựng và thực hiện quy chế. Tìm hiểu vấn đề này, tác giả Đặng Vũ có bài viết “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới” (26.3.2002). Tác giả khẳng định: “Dân chủ vừa là mục tiêu, động lực đảm bảo sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nội dung cơ bản của dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân, tự do, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ trong xã hội. Thước đo hay tiêu chí dân chủ của cộng đồng xã hội được thông qua quyền làm chủ của công dân”. Còn trong bài; “An Phú chuyển mình” (10.1.2002), tác giả Ngọc Thạch đã đánh giá tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở An Phú- Thủ Thừa- Long An: “Với việc đưa quy chế dân chủ vào đời sống nhân dân cũng như vấn đề vận dụng tốt quy chế dân chủ trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội, xã An Phú đã tìm được cho mình một con đường vững chắc để hoàn thành công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ CNH, HĐH”. Thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn trong thời kỳ mới gặp nhiều khó khăn, bởi trình độ hiểu biết của người dân chưa đồng đều và sâu rộng. Dân cư tập trung ở nhiều vùng miền nên việc đưa quy chế vào cuộc sống không phải là điều dễ dàng. Bên cạnh đó,
có một số cán bộ lợi dụng chức vụ để tư lợi, tham ô lãng phí và cửa quyền, chiếm dụng
đất đai, kinh phí của nhân dân... Báo Nông nghiệp tập trung phản ánh những vụ việc, vấn
đề nhỏ lẻ tồn tại ở nhiều vùng nông thôn, nhưng đã góp phần giải quyết những khúc mắc
và đem lại công bằng cho người dân. Đó là các bài viết như: UBND xã Minh Khai lợi
dụng c phần hoá, bán đường điện cho nhân gây thất thoát hàng trăm triệu
đồng” (Trần Ninh Thuỵ 18.3.2002), “ Cán bộ Ban quản lý khu BTTN đập ngập nước
Bến Tre có phá rừng(Nguyễn Đức. 19.9.2002), ợn danh nông dân thành lập
HTX với mưi đồ chiếm đoạt tài sản”- Thái Sinh (21.8.2002)... Qua những bài phản ánh
trên người nông dân đã ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng
một chính quyền trong sạch, vững mạnh, đấu tranh chống lại những âm mưu thủ đoạn
của kẻ xấu.
Chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đi đôi với nâng cấp cơ sở
hạ tầng, từng bước nâng cao đời sống người nông dân. Thực hiện quy chế dân chủ, chính
sách chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp được cụ thể hoá trong từng hành
động, hướng đi của địa phương và thu được hiệu quả khả quan. Thông tin thời sự, kinh tế
tập trung trên báo Nông nghiệp Việt Nam đã đăng tải những tin, bài ứng với chương trình
trọng tâm. Với những thông tin thời sự- kinh tế đa dạng và phong phú, báo Nông nghiệp
Việt Nam đã cung cấp cập nhật thông tin cho người dân hiểu nắm bắt kịp thời, giúp
cho chương trình phát triển kinh tế nông thôn sớm đi vào hoàn thiện, góp phần xây dựng
nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH.
2. Văn hoá, xã hội nông thôn và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
2.1. Văn hoá- xã hội
Công cuộc đổi mới đất nước đang làm thay đổi toàn diện đời sống kinh tế-
hội đất nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống vật chất của con người được đảm
bảo. Cùng với quá trình đó, bộ mặt xã hội nông thôn ngày càng biến đổi nét dưới tác
động của nền kinh tế thị trường. Đời sống xã hội vùng nông thôn có những nét mới, tích
cực, bên cạnh đó còn có những vấn đề còn tồn tại cần được giải quyết. Vấn đề đặt ra
phải chọn lọc, giữ gìn phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp lâu đời còn
phù hợp ở nông thôn, đồng thời phải chủ động tiếp nhận có chọn lọc nếp sống, tác phong
công nghiệp và giá trị văn hoá tiến bộ, để tạo ra một bộ mặt nông thôn mới tiên tiến, toàn
diện và hiện đại. Nội dung đăng tải mang tính đinh hướng và giáo dục sâu sắc, dù có khi
có một số cán bộ lợi dụng chức vụ để tư lợi, tham ô lãng phí và cửa quyền, chiếm dụng đất đai, kinh phí của nhân dân... Báo Nông nghiệp tập trung phản ánh những vụ việc, vấn đề nhỏ lẻ tồn tại ở nhiều vùng nông thôn, nhưng đã góp phần giải quyết những khúc mắc và đem lại công bằng cho người dân. Đó là các bài viết như: “UBND xã Minh Khai lợi dụng cổ phần hoá, bán đường điện cho tư nhân gây thất thoát hàng trăm triệu đồng” (Trần Ninh Thuỵ 18.3.2002), “ Cán bộ Ban quản lý khu BTTN đập ngập nước Bến Tre có phá rừng” (Nguyễn Đức. 19.9.2002), “Mượn danh nông dân thành lập HTX với mưi đồ chiếm đoạt tài sản”- Thái Sinh (21.8.2002)... Qua những bài phản ánh trên người nông dân đã ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một chính quyền trong sạch, vững mạnh, đấu tranh chống lại những âm mưu thủ đoạn của kẻ xấu. Chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đi đôi với nâng cấp cơ sở hạ tầng, từng bước nâng cao đời sống người nông dân. Thực hiện quy chế dân chủ, chính sách chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp được cụ thể hoá trong từng hành động, hướng đi của địa phương và thu được hiệu quả khả quan. Thông tin thời sự, kinh tế tập trung trên báo Nông nghiệp Việt Nam đã đăng tải những tin, bài ứng với chương trình trọng tâm. Với những thông tin thời sự- kinh tế đa dạng và phong phú, báo Nông nghiệp Việt Nam đã cung cấp cập nhật thông tin cho người dân hiểu và nắm bắt kịp thời, giúp cho chương trình phát triển kinh tế nông thôn sớm đi vào hoàn thiện, góp phần xây dựng nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH. 2. Văn hoá, xã hội nông thôn và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. 2.1. Văn hoá- xã hội Công cuộc đổi mới đất nước đang làm thay đổi toàn diện đời sống kinh tế- xã hội đất nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống vật chất của con người được đảm bảo. Cùng với quá trình đó, bộ mặt xã hội nông thôn ngày càng biến đổi rõ nét dưới tác động của nền kinh tế thị trường. Đời sống xã hội vùng nông thôn có những nét mới, tích cực, bên cạnh đó còn có những vấn đề còn tồn tại cần được giải quyết. Vấn đề đặt ra là phải chọn lọc, giữ gìn và phát huy được những giá trị truyền thống tốt đẹp lâu đời còn phù hợp ở nông thôn, đồng thời phải chủ động tiếp nhận có chọn lọc nếp sống, tác phong công nghiệp và giá trị văn hoá tiến bộ, để tạo ra một bộ mặt nông thôn mới tiên tiến, toàn diện và hiện đại. Nội dung đăng tải mang tính đinh hướng và giáo dục sâu sắc, dù có khi