Luận án Tiến sĩ: Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng và bổ sung viên sắt trên phụ nữ độ tuổi 20 đến 35 tuổi người dân tộc Tày tại một số xã huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

1,986
590
153
109
th hàng ngày thp liên quan ti thiếu máu [33]. Do mức năng lượng ăn
vào thấp đồng nghĩa với việc lượng thc phm cung cấp hàng ngày chưa được
đầy đủ vì vy có th dn ti thiếu các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng
trong đó có những cht tham gia vào chu trình tạo máu đặc bit là st. Nguyên
nhân sâu xa ca vấn đề này do điều kin kinh tế h gia đình còn thấp dẫn đến
khu phn hàng ngày của đối tượng nghèo nàn, trong khi mun ci thin tình
trng kinh tế địa phương cần mt thời gian tương đối dài vi s tham gia,
phi hp ca nhiều ban ngành đoàn th. Thêm vào đó, khi phân tích về mc
độ thiếu máu cho thy thiếu máu nh, trung bình ph n người dân tc Tày
có thiếu năng lượng trường diễn (27,1% và 6,2%) cao hơn ở những đối tượng
không thiếu năng lượng trường din (20,7% và 3,2%). Vì vy, giải pháp trước
mt truyn thông giáo dc dinh dưỡng để nâng cao s hiu biết và hướng dn
đối tượng v khu phn hợp lí, n đối t ngun thc phm sn tại địa
phương; từ đó cải thiện được chế độ ăn, tình trạng dinh dưỡng, tình trng
thiếu máu của đối tượng nghiên cứu cũng n cộng đồng người dân địa
phương là cn thiết.
4.2. Giải pháp truyền thông giáo dục bổ sung viên sắt phù hợp cho
phụ nữ trong độ tuổi 20 35 người dân tộc Tày
Trên địa bàn nghiên cu ph n tuổi sinh đẻ ngưi dân tc Tày nhn
biết một người khi thiếu máu thường hay nhng biu hiện như hoa mt
chóng mặt, đau đầu, mt mi và những đối tượng có nguy cơ cao b thiếu máu
ph n tuổi sinh đẻ, tr em v thành niên. Những thông tin này đối tượng
đưc biết ch yếu t cán b y tế (thông qua các lần đi khám sc khe, khám
thai, đưa con đi tiêm phòng…). Và khi thấy bn thân có biu hin chóng mt,
hoa mt mt s đối tượng còn t mua viên st v ung theo kinh nghim, thi
gian mỗi đợt ung và thi gian ung trong ngày không theo ch dn dẫn đến
vic ci thin tình trng thiếu máu kém hiu qu (Ung viên st ngay sau khi
ăn, mỗi đợt ung hết v 10 viên thì thôi). Nhìn chung các thông tin đối tượng
109 thụ hàng ngày thấp có liên quan tới thiếu máu [33]. Do mức năng lượng ăn vào thấp đồng nghĩa với việc lượng thực phẩm cung cấp hàng ngày chưa được đầy đủ vì vậy có thể dẫn tới thiếu các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng trong đó có những chất tham gia vào chu trình tạo máu đặc biệt là sắt. Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này do điều kiện kinh tế hộ gia đình còn thấp dẫn đến khẩu phần hàng ngày của đối tượng nghèo nàn, trong khi muốn cải thiện tình trạng kinh tế địa phương cần một thời gian tương đối dài với sự tham gia, phối hợp của nhiều ban ngành đoàn thể. Thêm vào đó, khi phân tích về mức độ thiếu máu cho thấy thiếu máu nhẹ, trung bình ở phụ nữ người dân tộc Tày có thiếu năng lượng trường diễn (27,1% và 6,2%) cao hơn ở những đối tượng không thiếu năng lượng trường diễn (20,7% và 3,2%). Vì vậy, giải pháp trước mắt truyền thông giáo dục dinh dưỡng để nâng cao sự hiểu biết và hướng dẫn đối tượng về khẩu phần hợp lí, cân đối từ nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương; từ đó cải thiện được chế độ ăn, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu cũng như cộng đồng người dân địa phương là cần thiết. 4.2. Giải pháp truyền thông giáo dục và bổ sung viên sắt phù hợp cho phụ nữ trong độ tuổi 20 – 35 người dân tộc Tày Trên địa bàn nghiên cứu phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc Tày nhận biết một người khi thiếu máu thường hay có những biểu hiện như hoa mắt chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi và những đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu máu là phụ nữ tuổi sinh đẻ, trẻ em vị thành niên. Những thông tin này đối tượng được biết chủ yếu từ cán bộ y tế (thông qua các lần đi khám sức khỏe, khám thai, đưa con đi tiêm phòng…). Và khi thấy bản thân có biểu hiện chóng mặt, hoa mắt một số đối tượng còn tự mua viên sắt về uống theo kinh nghiệm, thời gian mỗi đợt uống và thời gian uống trong ngày không theo chỉ dẫn dẫn đến việc cải thiện tình trạng thiếu máu kém hiệu quả (Uống viên sắt ngay sau khi ăn, mỗi đợt uống hết vỉ 10 viên thì thôi). Nhìn chung các thông tin đối tượng
110
thu nhận được mang tính th động chưa đầy đủ. vy theo kết qu
nghiên cu thì kiến thc v thiếu máu ca ph n tuổi sinh đẻ trên địa bàn
nghiên cu v d phòng thiếu máu dinh dưỡng còn tương đối thp.
Trang bị kiến thức đầy đủ đóng vai trò quan trọng trong quá trình quyết
định thay đổi hành vi cách thức thực hành hành vi mới có lợi cho sức
khỏe của mỗi nhân. Kiến thức tốt thường đi kèm với thực hành tốt. Tuy
nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, kiến thức của đối tượng nghiên cứu
còn thiếu nhưng hành vi thc hành nhng hoạt động phòng chng thiếu máu
dinh dưỡng ca ph n tuổi sinh đẻ nơi đây khá tt. Mt s hành vi thc hành
chưa được các đối tượng nghiên cu làm tt chiếm t l khá thp như dùng
phân tươi trng rau 18,8%; không ra tay vi phòng 12,5%; không ty
giun định kì 40,6%; uống nước chè ngay sau bữa ăn 12,5%.
Qua điều tra, phân tích cho thấy kiến thức về thiếu máu, thực hành dự
phòng thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc thiểu số
trên địa bàn nghiên cứu còn bất hợp lý. Điều này cho thấy công tác truyền
thông về thiếu máu dinh dưỡng nơi đây chưa được chú trọng, những kiến thức
đối tượng có được mang tính thụ động từ nhiều nguồn khác nhau (Từ các can
thiệp về sức khỏe sinh sản, phòng chống suy dinh dưỡng…). Điều kiện kinh
tế thấp, trình độ học vấn hạn chế cũng là những nguyên nhân khiến đối tượng
khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức về dinh dưỡng, thiếu máu. Thực hành
của phụ nữ tuổi sinh đẻ nơi đây tốt hơn kiến thức còn do đối tượng được nghe,
tiếp nhận thông tin từ nguồn nào đó hoặc thấy mọi người xung quanh làm như
vậy nên về thực hành theo chứ chưa phải là kết quả mà đối tượng có được nhờ
có kiến thức đúng. Thêm vào đó, kết quả hình 3.3 cho thấy 62,5% đối tượng
không được truyền thông về thiếu máu dinh dưỡng. vậy, công tác truyền
thông giáo dục dinh dưỡng cần được đẩy mạnh nhiều hơn nữa để nâng cao
kiến thức để từ đó có những hành vi thực hành dinh dưỡng đúng cho phụ nữ
tuổi sinh đẻ người dân tộc Tày nơi đây.
110 thu nhận được mang tính thụ động và chưa đầy đủ. Vì vậy theo kết quả nghiên cứu thì kiến thức về thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh đẻ trên địa bàn nghiên cứu về dự phòng thiếu máu dinh dưỡng còn tương đối thấp. Trang bị kiến thức đầy đủ đóng vai trò quan trọng trong quá trình quyết định thay đổi hành vi cũ và cách thức thực hành hành vi mới có lợi cho sức khỏe của mỗi cá nhân. Kiến thức tốt thường đi kèm với thực hành tốt. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, kiến thức của đối tượng nghiên cứu còn thiếu nhưng hành vi thực hành những hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ nơi đây khá tốt. Một số hành vi thực hành chưa được các đối tượng nghiên cứu làm tốt chiếm tỷ lệ khá thấp như dùng phân tươi trồng rau 18,8%; không rửa tay với xà phòng 12,5%; không tẩy giun định kì 40,6%; uống nước chè ngay sau bữa ăn 12,5%. Qua điều tra, phân tích cho thấy kiến thức về thiếu máu, thực hành dự phòng thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu còn bất hợp lý. Điều này cho thấy công tác truyền thông về thiếu máu dinh dưỡng nơi đây chưa được chú trọng, những kiến thức đối tượng có được mang tính thụ động từ nhiều nguồn khác nhau (Từ các can thiệp về sức khỏe sinh sản, phòng chống suy dinh dưỡng…). Điều kiện kinh tế thấp, trình độ học vấn hạn chế cũng là những nguyên nhân khiến đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức về dinh dưỡng, thiếu máu. Thực hành của phụ nữ tuổi sinh đẻ nơi đây tốt hơn kiến thức còn do đối tượng được nghe, tiếp nhận thông tin từ nguồn nào đó hoặc thấy mọi người xung quanh làm như vậy nên về thực hành theo chứ chưa phải là kết quả mà đối tượng có được nhờ có kiến thức đúng. Thêm vào đó, kết quả hình 3.3 cho thấy 62,5% đối tượng không được truyền thông về thiếu máu dinh dưỡng. Vì vậy, công tác truyền thông giáo dục dinh dưỡng cần được đẩy mạnh nhiều hơn nữa để nâng cao kiến thức để từ đó có những hành vi thực hành dinh dưỡng đúng cho phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc Tày nơi đây.
111
Để ci thin tình trng thiếu năng lượng trưng din cộng đồng thì mi
cá nhân cn có kiến thức đúng về dinh dưỡng, t đó lựa chn thc phm, cách
thc chế biến các món ăn một cách phù hp cho mi bữa ăn trong gia đình và
lan ta ti cộng đồng. Mi bữa ăn cần cung cấp đủ bn nhóm thc phm: nhóm
thc phm cung cp chất đạm, cht béo, cht bột đưng, vitamin và cht khoáng
hoc mỗi ngày ăn trên 15 loại thc phm khác nhau. Trên thc tế, trong nghiên
cu ca chúng tôi thực đơn hàng ngày của mỗi đối tượng phn lớn ăn i 10
loi thc phm mi ngày và mức năng lượng do khu phn cung cp thp.
T nhng hn chế v kiến thức cũng như điu kin kinh tế khác dn
đến vic thc hành tính toán, chun b thc phm cho bữa ăn hàng ngày của
đối tượng còn thiếu c v s ng và chất lượng dẫn đến chưa đáp ứng được
nhu cầu năng lượng, các chất dinh dưỡng so vi nhu cu của cơ thể. Điều này
th hin qua khu phn 24 gi ca ph n tuổi sinh đ trên địa bàn nghiên
cu: V giá tr dinh dưỡng ca khu phn mức năng lượng bình quân ch đạt
1653kcal/người/ngày thấp hơn mức trung bình chung ca ph n trưởng
thành c ớc 1944kcal và cũng thiếu so vi nhu cầu năng lượng khuyến ngh
cho người trưởng thành Vit Nam (2300kcal/người/ngày) [30],[103]. Trong
đó: Protein đạt 70,8g/người/ngày; nguồn Protein được cung cp t nhng thc
ăn động vật như thịt, cá, trứng…đạt trên 50% (xp x 37g). Lipid tng s đạt
38,6g/người/ngày; Lipid ngun gc thc vật chưa đạt mc nhu cu khuyến
nghị. Glucid đạt 256,7g/người/ngày [103].
Đối vi vitamin cht khoáng: Hàm ng st trong khu phần đối
ng nghiên cu tiêu th hàng ngày mc thp ch đạt 11,3mg/người/ngày,
thấp hơn so với nhu cu khuyến ngh (Để thể được 2,5mg
sắt/người/ngày thì cn phi có 24mg sắt/người/ngày t khu phn hàng ngày).
Tuy nhiên, hàm lượng vitamin C trong khu phn của đối tượng đáp ng nhu
cu khuyến ngh 60mg/ngày (hàm lượng vitamin C trong khu phn
95,6mg/người/ngày) và là điu kin thun li cho vic thúc đẩy quá trình hp
thu st của cơ thể [103].
111 Để cải thiện tình trạng thiếu năng lượng trường diễn ở cộng đồng thì mỗi cá nhân cần có kiến thức đúng về dinh dưỡng, từ đó lựa chọn thực phẩm, cách thức chế biến các món ăn một cách phù hợp cho mỗi bữa ăn trong gia đình và lan tỏa tới cộng đồng. Mỗi bữa ăn cần cung cấp đủ bốn nhóm thực phẩm: nhóm thực phẩm cung cấp chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và chất khoáng hoặc mỗi ngày ăn trên 15 loại thực phẩm khác nhau. Trên thực tế, trong nghiên cứu của chúng tôi thực đơn hàng ngày của mỗi đối tượng phần lớn ăn dưới 10 loại thực phẩm mỗi ngày và mức năng lượng do khẩu phần cung cấp thấp. Từ những hạn chế về kiến thức cũng như điều kiện kinh tế khác dẫn đến việc thực hành tính toán, chuẩn bị thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày của đối tượng còn thiếu cả về số lượng và chất lượng dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng, các chất dinh dưỡng so với nhu cầu của cơ thể. Điều này thể hiện qua khẩu phần 24 giờ của phụ nữ tuổi sinh đẻ trên địa bàn nghiên cứu: Về giá trị dinh dưỡng của khẩu phần mức năng lượng bình quân chỉ đạt 1653kcal/người/ngày thấp hơn mức trung bình chung của phụ nữ trưởng thành cả nước 1944kcal và cũng thiếu so với nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho người trưởng thành Việt Nam (2300kcal/người/ngày) [30],[103]. Trong đó: Protein đạt 70,8g/người/ngày; nguồn Protein được cung cấp từ những thức ăn động vật như thịt, cá, trứng…đạt trên 50% (xấp xỉ 37g). Lipid tổng số đạt 38,6g/người/ngày; Lipid nguồn gốc thực vật chưa đạt mức nhu cầu khuyến nghị. Glucid đạt 256,7g/người/ngày [103]. Đối với vitamin và chất khoáng: Hàm lượng sắt trong khẩu phần đối tượng nghiên cứu tiêu thụ hàng ngày ở mức thấp chỉ đạt 11,3mg/người/ngày, thấp hơn so với nhu cầu khuyến nghị (Để cơ thể có được 2,5mg sắt/người/ngày thì cần phải có 24mg sắt/người/ngày từ khẩu phần hàng ngày). Tuy nhiên, hàm lượng vitamin C trong khẩu phần của đối tượng đáp ứng nhu cầu khuyến nghị 60mg/ngày (hàm lượng vitamin C trong khẩu phần là 95,6mg/người/ngày) và là điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy quá trình hấp thu sắt của cơ thể [103].
112
Nhìn chung, khu phn hàng ngày ca ph n tuổi sinh đẻ ngưi dân
tộc Tày chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng, các chất dinh dưỡng chưa
cân đối, hợp lý đặc bit là khoáng cht st mt yếu t quan trng tham gia vào
quá trình to tế bào hng cu. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu nơi đây vẫn cn
đưc b sung các vi chất dinh dưỡng đặc bit sắt đồng thi cần thúc đẩy
việc đối tượng đưc tiếp cn vi ngun thc phẩm phong phú hơn. Cần
nhng gii pháp truyn thông tích cc phù hp với địa phương giúp phụ n
tuổi sinh đẻ kiến thc v cấu bữa ăn cân đối để t đó tính toán được
ng thc phm cn tiêu th một cách đa dạng, hp lý nhm cung cấp đầy đủ
các chất dinh dưỡng sinh nhit, vitamin và khoáng chất. Đồng thi, thông qua
truyền thông giúp cho đối tượng nhn thức được tm quan trng tuân th
nghiêm ngt trong sut quá trình can thip ung b sung viên st/acid folic đ
phòng chng thiếu máu.
V yếu t v sinh môi trường: Môi trường không đảm bo v sinh
liên quan ti các bnh truyn nhiễm đường tiêu hóa, bnh sinh trùng đc
bit là nhim giun sán tác nhân ch yếu gây thiếu máu do mt máu mn tính
(nhim giun móc), mt chất dinh dưỡng [33]. Trên địa bàn nghiên cu, tuy
chưa nghiên cu chuyên sâu v tình trng v sinh môi trường nhưng qua
phng vn sâu trm trưởng trm y tế cho thấy địa phương đã triển khai nhng
hoạt động v sinh nhằm đảm bảo môi trường sng sch s như: “Hàng năm có
những đợt tuyên truyn cho các h dân xây dựng 3 công trình đảm bo v v
sinh môi trường theo đúng tiêu chuẩn, tuyên truyn cho các h thu gom rác
thải đưa về nơi quy định của xóm để chôn, đốt; tuyên truyền hướng dn các
h không x dụng phân tươi, cần k đủ thời gian quy định mới đưa vào sử
dng; thc hiện huy động các h dân khơi thông cống rãnh, phát quang bi
rm hàng tháng theo quy đnh ca từng xóm”. Đồng thi, ph n tuổi sinh đẻ
mỗi năm được ung thuc ty giun mt ln vào dp cuối năm.
112 Nhìn chung, khẩu phần hàng ngày của phụ nữ tuổi sinh đẻ người dân tộc Tày chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng, các chất dinh dưỡng chưa cân đối, hợp lý đặc biệt là khoáng chất sắt một yếu tố quan trọng tham gia vào quá trình tạo tế bào hồng cầu. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu nơi đây vẫn cần được bổ sung các vi chất dinh dưỡng đặc biệt là sắt đồng thời cần thúc đẩy việc đối tượng được tiếp cận với nguồn thực phẩm phong phú hơn. Cần có những giải pháp truyền thông tích cực phù hợp với địa phương giúp phụ nữ tuổi sinh đẻ có kiến thức về cơ cấu bữa ăn cân đối để từ đó tính toán được lượng thực phẩm cần tiêu thụ một cách đa dạng, hợp lý nhằm cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng sinh nhiệt, vitamin và khoáng chất. Đồng thời, thông qua truyền thông giúp cho đối tượng nhận thức được tầm quan trọng và tuân thủ nghiêm ngặt trong suốt quá trình can thiệp uống bổ sung viên sắt/acid folic để phòng chống thiếu máu. Về yếu tố vệ sinh môi trường: Môi trường không đảm bảo vệ sinh có liên quan tới các bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa, bệnh kí sinh trùng đặc biệt là nhiễm giun sán tác nhân chủ yếu gây thiếu máu do mất máu mạn tính (nhiễm giun móc), mất chất dinh dưỡng [33]. Trên địa bàn nghiên cứu, tuy chưa có nghiên cứu chuyên sâu về tình trạng vệ sinh môi trường nhưng qua phỏng vấn sâu trạm trưởng trạm y tế cho thấy địa phương đã triển khai những hoạt động vệ sinh nhằm đảm bảo môi trường sống sạch sẽ như: “Hàng năm có những đợt tuyên truyền cho các hộ dân xây dựng 3 công trình đảm bảo về vệ sinh môi trường theo đúng tiêu chuẩn, tuyên truyền cho các hộ thu gom rác thải đưa về nơi quy định của xóm để chôn, đốt; tuyên truyền hướng dẫn các hộ không xử dụng phân tươi, cần ủ kỹ đủ thời gian quy định mới đưa vào sử dụng; thực hiện huy động các hộ dân khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm hàng tháng theo quy định của từng xóm”. Đồng thời, phụ nữ tuổi sinh đẻ mỗi năm được uống thuốc tẩy giun một lần vào dịp cuối năm.
113
Ph n người dân tc Tày tham gia nghiên cứu đã được truyn thông v
thiếu máu dinh dưỡng chiếm t l tương đối thp 37,5%. Nhng thông tin v
chăm sóc sức kho và thiếu máu dinh dưỡng được đối tượng tìm hiu ch yếu
thông qua cán b y tế địa phương chiếm 89,6%. Ít có đối tượng nào tìm hiu
thông tin t các phương tiện thông tin đại chúng như trên sách báo, ti vi còn
truyền thanh địa phương thì không phi khu vực nào cũng tiếp cận được
ni dung ch yếu để thông báo các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ca xã.
Các bui hp của đoàn thể xóm thường ch để k nim nhng ngày l ln hoc
hp v các hoạt động chung mà chưa kết hp vi nhng ch đề chăm sóc dinh
ng và sc kho cho người dân nói chung và ph n đặc bit ph n tui
sinh đẻ nói riêng. vy cán b y tế tại địa phương đóng vai trò quan trọng
trong việc đảm bo chất lưng ca truyn thông giáo dc sc khe nói chung và
truyn thông giáo dục dinh dưỡng nói riêng nhằm thay đổi hành vi hướng người
dân thc hành các hành vi có li, dn dn thay thế loi b những hành vi chưa
đúng, có hại vi s h tr t các ban ngành đoàn th địa phương.
địa phương các chương trình y tế thc hiện đều s tham gia ca
nhân viên y tế thôn bản dưới s ch đạo chung ca trạm trưởng trm y tế.
Nhân viên y tế thôn bản được đào tạo, tp hun kiến thc v các chương trình
y tế thc hin tại cơ sở vì vy, h người có kiến thức cơ bản v nhng vn
đề sc khỏe thông thường mà người dân quan tâm. Đồng thi h cũng
người đi sâu sát, hàng ngày gần gũi với dân, hiểu và đồng cm với người dân,
được người dân tin tưởng d chia s nhng vấn đề liên quan ti sc khe
ca h. Bi vy gii pháp can thip đưc xây dng da trên lực lượng nhân
viên y tế thôn bn làm nòng cốt để thc hin công tác truyn thông giáo dc
dinh dưỡng, phát viên st hàng tháng và giám sát, h tr gii quyết nhng khó
khăn gặp phi trong sut quá trình ung viên st của đối tượng nghiên cu.
T nhng kết qu nghiên cứu trên chúng tôi đã xây dựng được gii
pháp can thip phù hp vi nhng ni dung thiết thc cho đối tượng nghiên
113 Phụ nữ người dân tộc Tày tham gia nghiên cứu đã được truyền thông về thiếu máu dinh dưỡng chiếm tỷ lệ tương đối thấp 37,5%. Những thông tin về chăm sóc sức khoẻ và thiếu máu dinh dưỡng được đối tượng tìm hiểu chủ yếu thông qua cán bộ y tế địa phương chiếm 89,6%. Ít có đối tượng nào tìm hiểu thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng như trên sách báo, ti vi còn truyền thanh địa phương thì không phải khu vực nào cũng tiếp cận được và nội dung chủ yếu để thông báo các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của xã. Các buổi họp của đoàn thể xóm thường chỉ để kỉ niệm những ngày lễ lớn hoặc họp về các hoạt động chung mà chưa kết hợp với những chủ đề chăm sóc dinh dưỡng và sức khoẻ cho người dân nói chung và phụ nữ đặc biệt phụ nữ tuổi sinh đẻ nói riêng. Vì vậy cán bộ y tế tại địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung và truyền thông giáo dục dinh dưỡng nói riêng nhằm thay đổi hành vi hướng người dân thực hành các hành vi có lợi, dần dần thay thế và loại bỏ những hành vi chưa đúng, có hại với sự hỗ trợ từ các ban ngành đoàn thể địa phương. Ở địa phương các chương trình y tế thực hiện đều có sự tham gia của nhân viên y tế thôn bản dưới sự chỉ đạo chung của trạm trưởng trạm y tế. Nhân viên y tế thôn bản được đào tạo, tập huấn kiến thức về các chương trình y tế thực hiện tại cơ sở vì vậy, họ là người có kiến thức cơ bản về những vấn đề sức khỏe thông thường mà người dân quan tâm. Đồng thời họ cũng là người đi sâu sát, hàng ngày gần gũi với dân, hiểu và đồng cảm với người dân, được người dân tin tưởng và dễ chia sẻ những vấn đề liên quan tới sức khỏe của họ. Bởi vậy giải pháp can thiệp được xây dựng dựa trên lực lượng nhân viên y tế thôn bản làm nòng cốt để thực hiện công tác truyền thông giáo dục dinh dưỡng, phát viên sắt hàng tháng và giám sát, hỗ trợ giải quyết những khó khăn gặp phải trong suốt quá trình uống viên sắt của đối tượng nghiên cứu. Từ những kết quả nghiên cứu trên chúng tôi đã xây dựng được giải pháp can thiệp phù hợp với những nội dung thiết thực cho đối tượng nghiên
114
cu tại địa phương. Gii pháp đưa ra đã huy động được ngun lc sn
địa phương tham gia vào hoạt động truyn thông giáo dc dinh dưỡng đó
cán b y tế cùng vi s h tr của các ban ngành đoàn thể, điều này to nên
sc mnh khối đại đoàn kết góp phn vào s phát trin kinh tế - văn hóa,
hi của địa phương.
Vi s tham gia trc tiếp của đối tượng nghiên cu vào công tác truyn
thông giáo dc thông qua hi thi “Tuyên truyền viên gii v phòng chng
thiếu máu dinh dưỡng ph n trong độ tuổi sinh đẻ gii pháp can thip đã
tác động sâu sc ti nhn thc dẫn đến s thay đổi kiến thc v thiếu máu
thc hành các bin pháp d phòng thiếu máu dinh dưỡng t đó góp phần
gim t l thiếu máu trong cộng đồng người dân tc Tày mt cách hiu qu.
Đây cũng là điểm mi trong nghiên cu ca chúng tôi khi so sánh vi mt s
nghiên cu can thip có truyn thông giáo dục dinh dưỡng đã tiến hành trước
đây [34],[68].
Vi nhng li ích t hoạt động can thiệp đem lại cho đối ng nghiên
cu gii pháp đã đưc cộng đồng người dân cũng như chính quyền địa
phương ng ng chp nhận cao. Điều này góp phn duy trì tính bn
vng ca gii pháp cũng như có thể áp dụng đối vi các hoạt động y tế tương
t khác trong công tác chăm sóc sức khe cho nhân dân tại địa phương và trên
những địa bàn có điều kiện địa dư, kinh tế - xã hội tương tự.
4.3. Hiệu quả can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng bổ
sung viên sắt trên phụ nữ 20 35 tuổi người dân tộc Tày tại Hợp
Thành, huyện Phú Lương
T kết qu điều tra ban đầu v kiến thc thiếu máu, thc hành các bin
pháp d phòng thiếu máu, v khu phn 24 gi, tình trng dinh ng, thiếu
máu ca ph n người dân tộc Tày độ tui 20 35 trên địa bàn hai Hp
Thành và xã Ph (t l thiếu máu ca hai xã lần lượt 28,1% và 23,9%)
cho thấy các đối tượng nghiên cứu nơi đây khá tương đồng v các ch s. Vì
114 cứu tại địa phương. Giải pháp đưa ra đã huy động được nguồn lực sẵn có ở địa phương tham gia vào hoạt động truyền thông giáo dục dinh dưỡng đó là cán bộ y tế cùng với sự hỗ trợ của các ban ngành đoàn thể, điều này tạo nên sức mạnh khối đại đoàn kết góp phần vào sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội của địa phương. Với sự tham gia trực tiếp của đối tượng nghiên cứu vào công tác truyền thông giáo dục thông qua hội thi “Tuyên truyền viên giỏi về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ” giải pháp can thiệp đã có tác động sâu sắc tới nhận thức dẫn đến sự thay đổi kiến thức về thiếu máu và thực hành các biện pháp dự phòng thiếu máu dinh dưỡng từ đó góp phần giảm tỷ lệ thiếu máu trong cộng đồng người dân tộc Tày một cách hiệu quả. Đây cũng là điểm mới trong nghiên cứu của chúng tôi khi so sánh với một số nghiên cứu can thiệp có truyền thông giáo dục dinh dưỡng đã tiến hành trước đây [34],[68]. Với những lợi ích từ hoạt động can thiệp đem lại cho đối tượng nghiên cứu giải pháp đã được cộng đồng người dân cũng như chính quyền địa phương hưởng ứng và chấp nhận cao. Điều này góp phần duy trì tính bền vững của giải pháp cũng như có thể áp dụng đối với các hoạt động y tế tương tự khác trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tại địa phương và trên những địa bàn có điều kiện địa dư, kinh tế - xã hội tương tự. 4.3. Hiệu quả can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng và bổ sung viên sắt trên phụ nữ 20 – 35 tuổi người dân tộc Tày tại xã Hợp Thành, huyện Phú Lương Từ kết quả điều tra ban đầu về kiến thức thiếu máu, thực hành các biện pháp dự phòng thiếu máu, về khẩu phần 24 giờ, tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu của phụ nữ người dân tộc Tày độ tuổi 20 – 35 trên địa bàn hai xã Hợp Thành và xã Phủ Lý (tỷ lệ thiếu máu của hai xã lần lượt là 28,1% và 23,9%) cho thấy các đối tượng nghiên cứu nơi đây khá tương đồng về các chỉ số. Vì
115
vy, có th tiến hành gii pháp can thip truyn thông giáo dục dinh dưỡng và
b sung viên st/acid folic với phác đồ 1 viên/tuần để so sánh hiu qu ci
thin tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của các đối tượng nghiên cu. Trước
khi tiến hành các gii pháp can thip, chúng tôi tiến hành tẩy giun cho các đối
ng ti xã can thip nhm loi b yếu t ảnh hưởng ti tình trng thiếu máu
t đó nâng cao hiệu qu ca can thip.
Nghiên cu đưc tiến hành trên 188 đối tượng bao gồm 96 đối tượng
nhóm can thiệp và 92 đối tượng nhóm đối chng là ph n trong độ tui 20
35 người dân tc Tày. Những đối tượng nghiên cứu này có trình độ hc vn
ch yếu t trung hc ph thông tr xung 88,8%; ngh nghip chính của đối
ng nghiên cứu nơi đây là làm ruộng chiếm 58,5%. Đối tượng nghiên cu
xã đối chng và can thiệp khá tương đồng v độ tuổi, trình độ hc vn
ngh nghip, kiến thc thiếu máu thc hành d phòng thiếu máu, các ch s
nhân trc, ch s sinh hóa, đặc điểm khu phn hàng ngày, tình trng thiếu
năng lượng trường din, thiếu máu, d tr st cn kit.
Sau thi gian 6 tháng can thip kiến thc v thiếu máu dinh dưỡng ca
đối tượng nghiên cứu đã có những thay đi tích cc: T l đối tượng nghiên
cu có kiến thức đúng v biu hin ca thiếu máu tăng lên có ý nghĩa thống
(p< 0,05). Kiến thức đúng về nguyên nhân, hu qu các bin pháp d
phòng thiếu máu dinh dưng ca ph n trong độ tui 20 35 người dân tc
Tày nhóm được truyền thông dinh dưỡng và b sung viên sắt cũng cải thin
đáng kể có ý nghĩa sau can thiệp (p<0,01). T l đối tượng nghiên cu có kiến
thức đúng về các thc phm giàu st các thc phẩm giúp tăng cường hp
thu st nhóm can thiệp tăng lên có ý nghĩa thống kê sau can thip (p<0,01).
Kiến thức được nâng cao dn ti vic thc hành các hành vi phòng
chng thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu cũng được ci thin.
T l đối tượng nghiên cu rửa tay đúng thời điểm nhóm can thiệp cao hơn
115 vậy, có thể tiến hành giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng và bổ sung viên sắt/acid folic với phác đồ 1 viên/tuần để so sánh hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của các đối tượng nghiên cứu. Trước khi tiến hành các giải pháp can thiệp, chúng tôi tiến hành tẩy giun cho các đối tượng tại xã can thiệp nhằm loại bỏ yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng thiếu máu từ đó nâng cao hiệu quả của can thiệp. Nghiên cứu được tiến hành trên 188 đối tượng bao gồm 96 đối tượng ở nhóm can thiệp và 92 đối tượng ở nhóm đối chứng là phụ nữ trong độ tuổi 20 – 35 người dân tộc Tày. Những đối tượng nghiên cứu này có trình độ học vấn chủ yếu từ trung học phổ thông trở xuống 88,8%; nghề nghiệp chính của đối tượng nghiên cứu nơi đây là làm ruộng chiếm 58,5%. Đối tượng nghiên cứu ở xã đối chứng và xã can thiệp khá tương đồng về độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, kiến thức thiếu máu – thực hành dự phòng thiếu máu, các chỉ số nhân trắc, chỉ số sinh hóa, đặc điểm khẩu phần hàng ngày, tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu, dự trữ sắt cạn kiệt. Sau thời gian 6 tháng can thiệp kiến thức về thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu đã có những thay đổi tích cực: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về biểu hiện của thiếu máu tăng lên có ý nghĩa thống kê (p< 0,05). Kiến thức đúng về nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp dự phòng thiếu máu dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi 20 – 35 người dân tộc Tày ở nhóm được truyền thông dinh dưỡng và bổ sung viên sắt cũng cải thiện đáng kể có ý nghĩa sau can thiệp (p<0,01). Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về các thực phẩm giàu sắt và các thực phẩm giúp tăng cường hấp thu sắt ở nhóm can thiệp tăng lên có ý nghĩa thống kê sau can thiệp (p<0,01). Kiến thức được nâng cao dẫn tới việc thực hành các hành vi phòng chống thiếu máu dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu cũng được cải thiện. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu rửa tay đúng thời điểm ở nhóm can thiệp cao hơn
116
so vi nhóm chng (63,5% nhóm can thip so vi 43,5% nhóm đối
chng). S chênh lch t l đối tượng rửa tay đúng thời điểm trước và sau can
thip nhóm can thiệp cũng sự khác bit (63,5% sau can thip so vi
50,0% trước can thip). V t l đối tượng uống nước chè ngay sau bữa ăn ở
nhóm nhn can thiệp cũng giảm đi đáng k so vi nhóm chng (gim 5,2%
nhóm can thip so vi 0,0% nhóm đối chng) sau can thip. T l đối tượng
có hành vi thực hành không dùng phân tươi để trng rau, ra tay vi xà phòng,
tẩy giun định kì cũng tăng lên sau can thiệp so với nhóm đối chng, tuy nhiên
s khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Nh s thay đổi kiến thc, thc hành v phòng chng thiếu máu dinh
ng ph n tuổi sinh đ đã dẫn ti những thay đổi tích cc trong khu
phn hàng ngày của đối tượng. Sau 6 thc hin can thip giá tr dinh dưỡng
khu phn ca ph n 20 35 tui nhóm can thiệp đã những ci thin
đáng kể: Năng lượng khu phần tăng lên một cách ý nghĩa thng
nhóm can thip so với nhóm đối chng (p < 0,001). nhóm can thiệp năng
ợng trung bình tăng 46,0kcal người/ngày, nhóm đối chứng năng lượng trung
bình không thay đổi. Mc tiêu th Protein trung bình nhóm can thiệp tăng
3,1g/người/ngày và nhóm đối chng ch tăng 0,3g/người/ngày sau can thip.
Mc tiêu th Lipid ti thời điểm T6 nhóm can thiệp tăng n
5,5g/người/ngày và nhóm đối chng gim nh 0,2g/người/ngày. Hàm lượng
st trong thc phẩm đối tượng tiêu th hàng ngày nhóm can thiệp tăng
0,4mg/người/ngày, còn nhóm đối chng mc tiêu th này gim
0,8mg/người/ngày. Lượng vitamin C nhóm can thiệp tăng
21,8mg/người/ngày gim 7,3mg/người/ngày nhóm chng. S tăng lên
ca hàm lượng vitamin C trong khu phn là mt trong những điều kin thun
lợi thúc đẩy quá trình hp thu st bi d dày rut vitamin C hoạt động
như một cht kh, th gi sắt dưới dng ion st hóa tr II, giúp cho vic
116 so với nhóm chứng (63,5% ở nhóm can thiệp so với 43,5% ở nhóm đối chứng). Sự chênh lệch tỷ lệ đối tượng rửa tay đúng thời điểm trước và sau can thiệp ở nhóm can thiệp cũng có sự khác biệt (63,5% sau can thiệp so với 50,0% trước can thiệp). Về tỷ lệ đối tượng uống nước chè ngay sau bữa ăn ở nhóm nhận can thiệp cũng giảm đi đáng kể so với nhóm chứng (giảm 5,2% ở nhóm can thiệp so với 0,0% ở nhóm đối chứng) sau can thiệp. Tỷ lệ đối tượng có hành vi thực hành không dùng phân tươi để trồng rau, rửa tay với xà phòng, tẩy giun định kì cũng tăng lên sau can thiệp so với nhóm đối chứng, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nhờ sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ đã dẫn tới những thay đổi tích cực trong khẩu phần hàng ngày của đối tượng. Sau 6 thực hiện can thiệp giá trị dinh dưỡng khẩu phần của phụ nữ 20 – 35 tuổi ở nhóm can thiệp đã có những cải thiện đáng kể: Năng lượng khẩu phần tăng lên một cách có ý nghĩa thống kê ở nhóm can thiệp so với nhóm đối chứng (p < 0,001). Ở nhóm can thiệp năng lượng trung bình tăng 46,0kcal người/ngày, nhóm đối chứng năng lượng trung bình không thay đổi. Mức tiêu thụ Protein trung bình ở nhóm can thiệp tăng 3,1g/người/ngày và nhóm đối chứng chỉ tăng 0,3g/người/ngày sau can thiệp. Mức tiêu thụ Lipid tại thời điểm T6 ở nhóm can thiệp tăng lên 5,5g/người/ngày và ở nhóm đối chứng giảm nhẹ 0,2g/người/ngày. Hàm lượng sắt có trong thực phẩm đối tượng tiêu thụ hàng ngày ở nhóm can thiệp tăng 0,4mg/người/ngày, còn nhóm đối chứng mức tiêu thụ này giảm 0,8mg/người/ngày. Lượng vitamin C ở nhóm can thiệp tăng 21,8mg/người/ngày và giảm 7,3mg/người/ngày ở nhóm chứng. Sự tăng lên của hàm lượng vitamin C trong khẩu phần là một trong những điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình hấp thu sắt bởi vì ở dạ dày ruột vitamin C hoạt động như một chất khử, có thể giữ sắt dưới dạng ion sắt hóa trị II, giúp cho việc
117
hp thu st không hem rut non d dàng hơn do vitamin C hết hp vi st
to thành mt hp cht st chelate d dàng hòa tan hơn trong môi trường kim
rut non; ngoài ra vitamin C còn giúp cho st di chuyn t huyết tương đến
gan để d tr i dạng Ferritin cũng như giải phóng st t Ferritin khi cn.
Đồng thời hàm lượng vitamin C cao giúp tăng lượng st hp thu t khu phn
lên ti 15% [37].
T những thay đổi v ng các chất dinh dưỡng được tiêu th thông qua
ngun thc phm hàng ngày dn tới thay đổi cơ cấu các chất dinh dưỡng trong
khu phn ti thời điểm T6 T0 c hai nhóm can thiệp và nhóm đối chng.
Trung bình t l phần trăm năngng do protein cung cp hai nhóm tăng
lên và đều cao hơn mức khuyến ngh 12% 14% (17,3% lên 17,5% nhóm
can thip so vi 15,3% lên 15,4% nhóm đối chng). Trung bình t l phn
trăm năng lượng do lipid cung cp ti thời điểm T6 T0 nhóm can thip
tăng lên (20,5% lên 23,0%) và nhóm đối chng giảm đi (27,6% lên 27,5%).
Ti thời điểm T6 T0, trung bình t l Protein động vt/Protein tng s vn
mức cao hơn nhu cầu khuyến ngh 35% c hai nhóm can thiệp và đối chng.
Qua s thay đổi v t l các chất dinh dưỡng trong khu phn của đối tượng
sau thi gian can thiệp chúng ta cũng thấy được các đối tượng đã tăng sử dng
các thc phẩm giúp tăng cường hp thu st (Thc phm ngun gốc động vt,
thc phm giàu st) và hn chế tiêu th các thc phm c chế hp thu st (T
l đối tượng uống nước chè mt loi thc phm cha tanin cht c chế hp thu
st trong thành phần dinh dưỡng ngay sau bữa ăn giảm 5,2% nhóm can thip
so vi 0,0% nhóm đối chng) trong bữa ăn hàng ngày. Kết qu nghiên cu
của chúng tôi cũng tương tự nhn xét ca mt s tác gi. Nghiên cu ca H
Thu Mai và cng s năm 2013 ti Hòa Bình cho thy bng gii pháp giáo dc
truyn thông ph biến kiến thc v vai trò ca nhng thc phm giàu st, cách
117 hấp thu sắt không hem ở ruột non dễ dàng hơn do vitamin C hết hợp với sắt tạo thành một hợp chất sắt chelate dễ dàng hòa tan hơn trong môi trường kiềm ở ruột non; ngoài ra vitamin C còn giúp cho sắt di chuyển từ huyết tương đến gan để dự trữ dưới dạng Ferritin cũng như giải phóng sắt từ Ferritin khi cần. Đồng thời hàm lượng vitamin C cao giúp tăng lượng sắt hấp thu từ khẩu phần lên tới 15% [37]. Từ những thay đổi về lượng các chất dinh dưỡng được tiêu thụ thông qua nguồn thực phẩm hàng ngày dẫn tới thay đổi cơ cấu các chất dinh dưỡng trong khẩu phần tại thời điểm T6 – T0 ở cả hai nhóm can thiệp và nhóm đối chứng. Trung bình tỷ lệ phần trăm năng lượng do protein cung cấp ở hai nhóm tăng lên và đều cao hơn mức khuyến nghị 12% – 14% (17,3% lên 17,5% ở nhóm can thiệp so với 15,3% lên 15,4% ở nhóm đối chứng). Trung bình tỷ lệ phần trăm năng lượng do lipid cung cấp tại thời điểm T6 – T0 ở nhóm can thiệp tăng lên (20,5% lên 23,0%) và ở nhóm đối chứng giảm đi (27,6% lên 27,5%). Tại thời điểm T6 – T0, trung bình tỷ lệ Protein động vật/Protein tổng số vẫn ở mức cao hơn nhu cầu khuyến nghị 35% ở cả hai nhóm can thiệp và đối chứng. Qua sự thay đổi về tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần của đối tượng sau thời gian can thiệp chúng ta cũng thấy được các đối tượng đã tăng sử dụng các thực phẩm giúp tăng cường hấp thu sắt (Thực phẩm nguồn gốc động vật, thực phẩm giàu sắt) và hạn chế tiêu thụ các thực phẩm ức chế hấp thu sắt (Tỷ lệ đối tượng uống nước chè một loại thực phẩm chứa tanin chất ức chế hấp thu sắt trong thành phần dinh dưỡng ngay sau bữa ăn giảm 5,2% ở nhóm can thiệp so với 0,0% ở nhóm đối chứng) trong bữa ăn hàng ngày. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nhận xét của một số tác giả. Nghiên cứu của Hồ Thu Mai và cộng sự năm 2013 tại Hòa Bình cho thấy bằng giải pháp giáo dục truyền thông phổ biến kiến thức về vai trò của những thực phẩm giàu sắt, cách
118
to ngun thc phm giàu st ti h gia đình đã tăng mức tiêu th các cht
dinh dưỡng t ngun thc phm hàng ngày: Protein trung bình khu phần đã
tăng t 70,9g/người/ngày lên 82,6g/người/ngày; lượng sắt tăng từ
8,0mg/người/ngày lên 15,4mg/người/ngày; lượng vitamin C tăng từ
113,4mg/người/ngày lên 130,1mg/người/ngày [34]. Tác gi Carrasco cng
s đã tiến hành tiếp th xã hi trên đối tượng ph n tuổi sinh đẻ cho thy cht
ng khu phần, lượng st, vitamin C và mức năng lượng khu phần tăng có
ý nghĩa thống kê [60]. Tiếp th xã hi tại Ethiopia cũng đã làm tăng 72,0% thu
nhp ca các h gia đình chi phí cho mua thực phẩm tăng đã tăng thêm
20,0%. Đồng thi, hàm ng vitamin A và st khu phn nhóm can thip
tăng ý nghĩa thống so vi nhóm chng [61]. Nghiên cứu năm 2017 ti
Iran ca tác gi Marzieh Araban cng s da trên hình nim tin sc
khỏe đã làm tăng lượng st và acid folic trong khu phn của đối tượng nghiên
cu lên có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) [64].
V các ch tiêu nhân trc, kết qu nghiên cu cho thy không có s thay
đổi có ý nghĩa thống v các ch s nhân trc ph na tổi sinh đ người
dân tc Tày hai nhóm nghiên cu sau 6 tháng can thip truyn thông giáo
dục dinh dưỡng b sung viên st/acid folic. Ti thời điểm T0 cân nng
trung bình ca c hai nhóm không có s khác bit, lần lượt là 47,6 ± 5,9kg
nhóm can thip 48,5 ± 6,1kg nhóm chng, sau 6 tháng can thip cân
nng trung bình nhóm can thiệp đã tăng 1,5kg còn nhóm chng không
gim 0,1kg, tuy nhiên s khác bit v cân nng trung bình gia hai nhóm
chng và nhóm can thip ti thời điểm sau can thiệp chưa có ý nghĩa thống kê.
BMI trung bình của đối tượng nghiên cu nhóm can thip nhóm chng
không có s khác bit ti thời điểm T0. Ti thời điểm T6, BMI trung bình ca
nhóm can thiệp tăng 0,5kg/m
2
và so với nhóm chứng chưa có sự khác biệt có
118 tạo nguồn thực phẩm giàu sắt tại hộ gia đình đã tăng mức tiêu thụ các chất dinh dưỡng từ nguồn thực phẩm hàng ngày: Protein trung bình khẩu phần đã tăng từ 70,9g/người/ngày lên 82,6g/người/ngày; lượng sắt tăng từ 8,0mg/người/ngày lên 15,4mg/người/ngày; lượng vitamin C tăng từ 113,4mg/người/ngày lên 130,1mg/người/ngày [34]. Tác giả Carrasco và cộng sự đã tiến hành tiếp thị xã hội trên đối tượng phụ nữ tuổi sinh đẻ cho thấy chất lượng khẩu phần, lượng sắt, vitamin C và mức năng lượng khẩu phần tăng có ý nghĩa thống kê [60]. Tiếp thị xã hội tại Ethiopia cũng đã làm tăng 72,0% thu nhập của các hộ gia đình và chi phí cho mua thực phẩm tăng đã tăng thêm 20,0%. Đồng thời, hàm lượng vitamin A và sắt khẩu phần ở nhóm can thiệp tăng có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng [61]. Nghiên cứu năm 2017 tại Iran của tác giả Marzieh Araban và cộng sự dựa trên mô hình niềm tin sức khỏe đã làm tăng lượng sắt và acid folic trong khẩu phần của đối tượng nghiên cứu lên có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) [64]. Về các chỉ tiêu nhân trắc, kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về các chỉ số nhân trắc ở phụ nữa tổi sinh đẻ người dân tộc Tày ở hai nhóm nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng và bổ sung viên sắt/acid folic. Tại thời điểm T0 cân nặng trung bình của cả hai nhóm không có sự khác biệt, lần lượt là 47,6 ± 5,9kg ở nhóm can thiệp và 48,5 ± 6,1kg ở nhóm chứng, sau 6 tháng can thiệp cân nặng trung bình ở nhóm can thiệp đã tăng 1,5kg còn ở nhóm chứng không giảm 0,1kg, tuy nhiên sự khác biệt về cân nặng trung bình giữa hai nhóm chứng và nhóm can thiệp tại thời điểm sau can thiệp chưa có ý nghĩa thống kê. BMI trung bình của đối tượng nghiên cứu ở nhóm can thiệp và nhóm chứng không có sự khác biệt tại thời điểm T0. Tại thời điểm T6, BMI trung bình của nhóm can thiệp tăng 0,5kg/m 2 và so với nhóm chứng chưa có sự khác biệt có