Luận văn: PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

8,246
97
145
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
41
yêu, về sự sinh ra trở về Cát Bụi của thân phận ngƣời ngắn ngủi” (Theo
[46, tr.461]).
“Hoàng Bình Thi: Nỗi đam tình yêu lứa đôi không thay thế đƣợc
những điều lớn lao ở nhạc Trịnh Công n, đó nỗi đam mê nhận thức đời
sống, đeo đuổi cho đến cùng câu hỏi nghiệt ngã nhất “ta là ai?”. Nhƣ một đời
sống thứ hai đầy cám dỗ, âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã khải thị những giá
trị thực của đời ngƣời. Nó chống lại sự xáo mòn, băng hoại. Không dồn đuổi
con ngƣời ta tới một nhịp sống gấp gáp, cũng không làm con ngƣời buông
xuôi trƣớc số phận nhìn nhận một cách chân xác chỗ đứng đúng nghĩa
của con ngƣời.
Có lẽ tình yêu và nỗi đau phận ngƣời là những giá trị lớn nhất mà Trịnh
Công Sơn để lại. Đó là một gia tài đồ sộ đến mức thử giả định nếu không
Trịnh Công Sơn, nếu không âm nhạc của ông, đời sống của chúng ta sẽ
nghèo nàn và thảm hại đến nhƣờng nào” (Theo [46, tr.462]).
“Phạm Tuyên: Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí hết sức quan
trọng và v mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh không
dễ dãi tuỳ tiện, luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói
là anh đã tìm đƣợc những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kỳ, kiểu cách
để thể hiện nội dung đó. Đối với ngƣời sáng tác, đƣợc một phong cách
riêng là một điều phải phấn đấu. Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình
một sự khác biệt lập dị, nhƣng bằng tình cảm chân thnàh của mình, anh đã có
đƣợc một phong cách rất riêng đƣợc sự mến mộ của đông đảo công chúng.
Sẽ còn nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh
với những sự đánh giá thể khác nhau, nhƣng phải khẳng định rằng sự
nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng vào nền ca khúc Việt Nam
hiện đại” (Theo [46, tr.463])...
TIỂU KẾT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 41 yêu, về sự sinh ra và trở về Cát Bụi của thân phận ngƣời ngắn ngủi” (Theo [46, tr.461]). “Hoàng Bình Thi: Nỗi đam mê tình yêu lứa đôi không thay thế đƣợc những điều lớn lao ở nhạc Trịnh Công Sơn, đó là nỗi đam mê nhận thức đời sống, đeo đuổi cho đến cùng câu hỏi nghiệt ngã nhất “ta là ai?”. Nhƣ một đời sống thứ hai đầy cám dỗ, âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã khải thị những giá trị thực của đời ngƣời. Nó chống lại sự xáo mòn, băng hoại. Không dồn đuổi con ngƣời ta tới một nhịp sống gấp gáp, cũng không làm con ngƣời buông xuôi trƣớc số phận mà là nhìn nhận một cách chân xác chỗ đứng đúng nghĩa của con ngƣời. Có lẽ tình yêu và nỗi đau phận ngƣời là những giá trị lớn nhất mà Trịnh Công Sơn để lại. Đó là một gia tài đồ sộ đến mức thử giả định nếu không có Trịnh Công Sơn, nếu không có âm nhạc của ông, đời sống của chúng ta sẽ nghèo nàn và thảm hại đến nhƣờng nào” (Theo [46, tr.462]). “Phạm Tuyên: Trong lĩnh vực ca khúc, lời ca có một vị trí hết sức quan trọng và v mặt này Trịnh Công Sơn thực sự là một nhà thơ. Lời ca anh không dễ dãi tuỳ tiện, mà luôn luôn ẩn sâu một triết lý về cuộc đời và điều đáng nói là anh đã tìm đƣợc những giai điệu phù hợp, dung dị, không cầu kỳ, kiểu cách để thể hiện nội dung đó. Đối với ngƣời sáng tác, có đƣợc một phong cách riêng là một điều phải phấn đấu. Trịnh Công Sơn không chủ tâm tạo cho mình một sự khác biệt lập dị, nhƣng bằng tình cảm chân thnàh của mình, anh đã có đƣợc một phong cách rất riêng đƣợc sự mến mộ của đông đảo công chúng. Sẽ còn có nhiều công trình nghiên cứu về hàng trăm ca khúc của anh với những sự đánh giá có thể khác nhau, nhƣng phải khẳng định rằng sự nghiệp sáng tác của anh đã góp phần xứng đáng vào nền ca khúc Việt Nam hiện đại” (Theo [46, tr.463])... TIỂU KẾT
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
42
- Ca từ đƣợc hiểu ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, bao gồm: lời ca
trong ca khúc, hợp xƣớng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu
đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chƣơng nhạc… Trong âm nhạc,
ca từ vai trò rất quan trọng. bổ sung tính cụ thể, nối thêm sức truyền
cảm và mở cửa cho hình tƣợng nghệ thuật đi vào lòng ngƣời thƣởng thức.
- Ngôn ngữ trong ca từ ngôn ngữ nghệ thuật đƣợc chọn lọc, tinh
luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, những đặc trƣng riêng biệt đƣợc tổ
chức một cách đặc thù nhằm phản ánh đọng đời sống biểu thị tinh tế
mọi cung bậc tâm trạng, cảm xúc của con ngƣời.
- Hình tƣợng trong ca từ những hình tƣợng nghệ thuật, là bức tranh
tâm trạng, bức tranh cuộc sống của con ngƣời trong một giai đoạn lịch sử nhất
định, đƣợc phản ánh trong ca khúc qua góc nhìn và sự nhạy cảm của nhạc sĩ.
Hình tƣợng trong ca từ có tính điển hình và liên quan chặt chẽ với hình tƣợng
của toàn bộ tác phẩm âm nhạc.
- Chủ thể cảm xúc trong ca từ xét đến cùng chính là tác giả của những
ca từ ấy. Cách thể hiện “cái tôi - tác giả” trong tác phẩm rất phong phú và đa
dạng: có thể đƣợc biểu hiện trực tiếp trong tác phẩm, có thể đƣợc ẩn đi hoặc
thể hiện thông qua những nhân vật trữ tình.
- Một trong những phƣơng thức làm nên vẻ đẹp và nét độc đáo của
ngôn ngữ trong ca từ so nh. So sánh cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt
trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ trong ca từ
nói riêng. So sánh một quá trình của sự nhận thức thế giới khách quan để
phát hiện chỉ ra sự đồng nhất cũng nhƣ khác biệt về thuộc tính của các sự
vật đặt bên nhau. Trong âm nhạc, phƣơng thức này góp phần tạo nên những
lời ca hấp dẫn, giàu hình ảnh, đồng thời cho thấy một phần phong cách riêng
của tác giả, trong đó có nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn.
- Trịnh Công Sơn một nhạc sĩ đã ghi lại dấu ấn đậm nét cũng
một hiện tƣợng hiếm gặp trong nền âm nhạc Việt Nam. Với những ca khúc về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 42 - Ca từ đƣợc hiểu là ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, bao gồm: lời ca trong ca khúc, hợp xƣớng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chƣơng nhạc… Trong âm nhạc, ca từ có vai trò rất quan trọng. Nó bổ sung tính cụ thể, nối thêm sức truyền cảm và mở cửa cho hình tƣợng nghệ thuật đi vào lòng ngƣời thƣởng thức. - Ngôn ngữ trong ca từ là ngôn ngữ nghệ thuật đƣợc chọn lọc, tinh luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, có những đặc trƣng riêng biệt và đƣợc tổ chức một cách đặc thù nhằm phản ánh cô đọng đời sống và biểu thị tinh tế mọi cung bậc tâm trạng, cảm xúc của con ngƣời. - Hình tƣợng trong ca từ là những hình tƣợng nghệ thuật, là bức tranh tâm trạng, bức tranh cuộc sống của con ngƣời trong một giai đoạn lịch sử nhất định, đƣợc phản ánh trong ca khúc qua góc nhìn và sự nhạy cảm của nhạc sĩ. Hình tƣợng trong ca từ có tính điển hình và liên quan chặt chẽ với hình tƣợng của toàn bộ tác phẩm âm nhạc. - Chủ thể cảm xúc trong ca từ xét đến cùng chính là tác giả của những ca từ ấy. Cách thể hiện “cái tôi - tác giả” trong tác phẩm rất phong phú và đa dạng: có thể đƣợc biểu hiện trực tiếp trong tác phẩm, có thể đƣợc ẩn đi hoặc thể hiện thông qua những nhân vật trữ tình. - Một trong những phƣơng thức làm nên vẻ đẹp và nét độc đáo của ngôn ngữ trong ca từ là so sánh. So sánh là cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ trong ca từ nói riêng. So sánh là một quá trình của sự nhận thức thế giới khách quan để phát hiện và chỉ ra sự đồng nhất cũng nhƣ khác biệt về thuộc tính của các sự vật đặt bên nhau. Trong âm nhạc, phƣơng thức này góp phần tạo nên những lời ca hấp dẫn, giàu hình ảnh, đồng thời cho thấy một phần phong cách riêng của tác giả, trong đó có nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn. - Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ đã ghi lại dấu ấn đậm nét và cũng là một hiện tƣợng hiếm gặp trong nền âm nhạc Việt Nam. Với những ca khúc về
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
43
Quê hƣơng, Tình yêu và Thân phận con ngƣời, Trịnh Công Sơn đã tạo dựng
cho mình một dòng nhạc độc lập, có sức sống và vị trí riêng, đƣợc gọi với cái
tên bình dị, thân quen là Nhạc Trịnh. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn
tầm ảnh hƣởng lớn không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam còn vƣợt biên giới
đến với những trái tim yêu nhạc ở nhiều nƣớc trên thế giới. Một trong những
yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần ca từ và đó cũng là nơi
thể hiện sự tài hoa trong s dụng tiếng Việt của ông, trong đó sử dụng
phƣơng thức so sánh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 43 Quê hƣơng, Tình yêu và Thân phận con ngƣời, Trịnh Công Sơn đã tạo dựng cho mình một dòng nhạc độc lập, có sức sống và vị trí riêng, đƣợc gọi với cái tên bình dị, thân quen là Nhạc Trịnh. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn có tầm ảnh hƣởng lớn không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn vƣợt biên giới đến với những trái tim yêu nhạc ở nhiều nƣớc trên thế giới. Một trong những yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần ca từ và đó cũng là nơi thể hiện sự tài hoa trong sử dụng tiếng Việt của ông, trong đó có sử dụng phƣơng thức so sánh.
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
44
CHƢƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC
VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƢƠNG THỨC SO SÁNH
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC CỦA PHƢƠNG THỨC SO
SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1.1. Các kiểu cấu trúc so sánh
Trong 242 ca khúc đƣợc khảo sát, có 148 bài trong đó Trịnh Công Sơn
sử dụng phƣơng thức so sánh, thể hiện ở 406 lƣợt so sánh, với 13 kiểu cấu
trúc so sánh.
Sau đây là ví dụ và sự phân tích đối với từng kiểu cấu trúc:
- Cấu trúc A + tnss + B, ví dụ:
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)
(Trong đó: A: mắt em cười
tnss: tựa
B: lá bay)
Và các ví dụ khác:
- Tình như đá hoài những chờ mong
Tình vu vơ sao ta muộn phiền (Nhƣ một lời chia tay)
- Trời nước bao la em như là chim én
Em trên xuồng qua rạch rồi lại nối qua sông
(Mênh mông Đồng Tháp)
- Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không (Nghe những tàn phai)
- Đời ta có khi tựa lá cỏ
Ngồi hát ca rất tự do (Đêm thấy ta là thác đổ)...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 44 CHƢƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƢƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 2.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC CỦA PHƢƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 2.1.1. Các kiểu cấu trúc so sánh Trong 242 ca khúc đƣợc khảo sát, có 148 bài trong đó Trịnh Công Sơn sử dụng phƣơng thức so sánh, thể hiện ở 406 lƣợt so sánh, với 13 kiểu cấu trúc so sánh. Sau đây là ví dụ và sự phân tích đối với từng kiểu cấu trúc: - Cấu trúc A + tnss + B, ví dụ: Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy Để mắt em cười tựa lá bay (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui) (Trong đó: A: mắt em cười tnss: tựa B: lá bay) Và các ví dụ khác: - Tình như đá hoài những chờ mong Tình vu vơ sao ta muộn phiền (Nhƣ một lời chia tay) - Trời nước bao la em như là chim én Em trên xuồng qua rạch rồi lại nối qua sông (Mênh mông Đồng Tháp) - Chiều nay em ra phố về Thấy đời mình là những quán không (Nghe những tàn phai) - Đời ta có khi tựa lá cỏ Ngồi hát ca rất tự do (Đêm thấy ta là thác đổ)...
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
45
Cấu trúc A + tnss + B đƣợc sử dụng 272/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 67%. Với
kiểu so sánh này, tác giả đã đồng nhất hoặc tƣơng tự hoá hai sự vật hiện tƣợng
khác loại (A và B), mặc dù chúng có rất nhiều đặc tính. Cách so sánh mở này
buộc ngƣời nghe phải suy ngẫm liên tƣởng để chọn ra đặc tính nào (hoặc
những đặc tính nào) là căn bản và đƣợc xem là tồn tại ở hai sự vật hiện tƣợng
khác loại này, để tác giả lấy đó làm căn cứ so sánh.
- Cấu trúc A + x + tnss + B, ví dụ:
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi (Cát bụi)
(Trong đó: A: tóc
x: trắng
tnss: như
B: vôi)
Và các ví dụ khác:
- Những hẹn hò từ nay khép lại
Thân nhẹ nhàng như mây (Nhƣ một lời chia tay)
- Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ (Hoa xuân ca)
- Thương ai màu áo trắng
Trong như ánh sao băng (Thƣơng một ngƣời)
- Một chiều kia có em buồn buồn
Thân mong manh như lau sậy hiền (Níu tay nghìn trùng)
Cấu trúc A + x + tnss + B đƣợc sử dụng 67/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 17%.
Với kiểu so sánh này, tác giả đã nêu ra một sự vật cùng với một đặc tính nhất
định của nó (A+x) để so nh với một sự vật hiện tƣợng khác loại (B). Cách
so sánh này tác dụng gợi dẫn ngƣời nghe tới một đặc tính nhất định,
thƣờng là tồn tại hiển nhiên sự vật hiện tƣợng so sánh (B). Rốt cuộc sự so
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 45 Cấu trúc A + tnss + B đƣợc sử dụng 272/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 67%. Với kiểu so sánh này, tác giả đã đồng nhất hoặc tƣơng tự hoá hai sự vật hiện tƣợng khác loại (A và B), mặc dù chúng có rất nhiều đặc tính. Cách so sánh mở này buộc ngƣời nghe phải suy ngẫm và liên tƣởng để chọn ra đặc tính nào (hoặc những đặc tính nào) là căn bản và đƣợc xem là tồn tại ở hai sự vật hiện tƣợng khác loại này, để tác giả lấy đó làm căn cứ so sánh. - Cấu trúc A + x + tnss + B, ví dụ: Bao nhiêu năm làm kiếp con người Chợt một chiều tóc trắng như vôi (Cát bụi) (Trong đó: A: tóc x: trắng tnss: như B: vôi) Và các ví dụ khác: - Những hẹn hò từ nay khép lại Thân nhẹ nhàng như mây (Nhƣ một lời chia tay) - Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ (Hoa xuân ca) - Thương ai màu áo trắng Trong như ánh sao băng (Thƣơng một ngƣời) - Một chiều kia có em buồn buồn Thân mong manh như lau sậy hiền (Níu tay nghìn trùng)… Cấu trúc A + x + tnss + B đƣợc sử dụng 67/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 17%. Với kiểu so sánh này, tác giả đã nêu ra một sự vật cùng với một đặc tính nhất định của nó (A+x) để so sánh với một sự vật hiện tƣợng khác loại (B). Cách so sánh này có tác dụng gợi dẫn ngƣời nghe tới một đặc tính nhất định, thƣờng là tồn tại hiển nhiên ở sự vật hiện tƣợng so sánh (B). Rốt cuộc sự so
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
46
sánh mang lại hiệu quả là gán cho sự vật đƣợc so sánh (A) đặc tính này của B,
trong hoàn cảnh cụ thể của ca khúc.
- Cấu trúc A + B, ví dụ:
- Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
Em suối kia rất ngọt và tôi đứng hai bờ (Hoa xuân ca)
(Trong đó: A: em
B: suối kia rất ngọt)
Và các ví dụ khác:
- Sen hồng một độ
Em hồng một thủa xuân xanh (Đoá hoa vô thƣờng)
- Đời vẽ tôi tên mục đồng
Rồi vẽ thêm con ngựa hồng
Từ đó tôi lên đường phiêu linh (Chỉ có ta trong một đời)
- Một người ngồi hai mươi năm
Cuộc buồn vui ly rượu đắng (Ngày dài trên quê hƣơng)
- Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay (Gọi tên bốn mùa)...
Cấu trúc A + B đƣợc sử dụng 34/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 8,4%. Đây
kiểu cấu trúc vắng yếu tố phƣơng diện yếu tố quan hệ, chỉ còn lại yếu tố
đƣợc so sánh (A) yếu tố so sánh (B) đƣợc đặt dƣới hình thức đối chọi,
sự liên kết giữa chúng không đƣợc hiển ngôn, chỉ căn cvào khả năng liên
tƣởng. Cách so sánh này khiến ngƣời nghe phải tìm ra những đặc tính của A
và những đặc tính của B để rồi tìm ra giao điểm của A và B tức là chọn ra đặc
tính chung nhất của hai đối tƣợng. Không những thế, ngƣời nghe còn phải suy
ngẫm để xác định quan hệ giữa A và B là quan hệ tƣơng tự hay quan hệ ngang
bằng.
- Cấu trúc x + tnss + B, ví dụ:
Ngày nay sao buồn thế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 46 sánh mang lại hiệu quả là gán cho sự vật đƣợc so sánh (A) đặc tính này của B, trong hoàn cảnh cụ thể của ca khúc. - Cấu trúc A + B, ví dụ: - Đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa Em suối kia rất ngọt và tôi đứng hai bờ (Hoa xuân ca) (Trong đó: A: em B: suối kia rất ngọt) Và các ví dụ khác: - Sen hồng một độ Em hồng một thủa xuân xanh (Đoá hoa vô thƣờng) - Đời vẽ tôi tên mục đồng Rồi vẽ thêm con ngựa hồng Từ đó tôi lên đường phiêu linh (Chỉ có ta trong một đời) - Một người ngồi hai mươi năm Cuộc buồn vui ly rượu đắng (Ngày dài trên quê hƣơng) - Rồi từ nay em gọi Tình yêu dấu chim bay (Gọi tên bốn mùa)... Cấu trúc A + B đƣợc sử dụng 34/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 8,4%. Đây là kiểu cấu trúc vắng yếu tố phƣơng diện và yếu tố quan hệ, chỉ còn lại yếu tố đƣợc so sánh (A) và yếu tố so sánh (B) đƣợc đặt dƣới hình thức đối chọi, và sự liên kết giữa chúng không đƣợc hiển ngôn, chỉ căn cứ vào khả năng liên tƣởng. Cách so sánh này khiến ngƣời nghe phải tìm ra những đặc tính của A và những đặc tính của B để rồi tìm ra giao điểm của A và B tức là chọn ra đặc tính chung nhất của hai đối tƣợng. Không những thế, ngƣời nghe còn phải suy ngẫm để xác định quan hệ giữa A và B là quan hệ tƣơng tự hay quan hệ ngang bằng. - Cấu trúc x + tnss + B, ví dụ: Ngày nay sao buồn thế
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
47
Những sáng hay đêm về
Vẫn thấy rất ơ hờ
Bình yên như kiếp đá (Ngày nay không còn bé)
(Trong đó: x: bình yên
tnss: như
B: kiếp đá)
Và các ví dụ khác:
- Một hôm bước chân về giữa chợ
Chợt thấy vui như trẻ thơ (Đêm thấy ta là thác đổ)
- Ôi nhân loại còn người và tôi thôi
Rồi lang thang như mây trời (Xin mặt trời ngủ yên)
- Một mai thức dậy
Chuyện trò với lá cây
Rồi buồn như lá bay (Tình sầu)...
Cấu trúc x + tnss + B đƣợc sdụng 7/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 1,7%. Với
kiểu so sánh này, A - sự vật hiện tƣợng, thƣờng là chủ thể trữ tình đƣợc giấu
đi, chỉ u lên một đặc tính (chẳng hạn bình yên). Đó một svật hiện
tƣợng phiếm định, đƣợc ngầm hiểu có thể là ngƣời nói, là ngƣời kia, là cả hai,
hoặc ai đó... Là ai hay chẳng là ai cả? Điều đó gợi cho ngƣời nghe sự cảm nhận
rằng ca từ nhƣ lời tự truyện của tác giả, lại nhƣ kể chuyện đời hoặc kể chuyện
của chính ngƣời nghe vậy. Tức là ngƣời nghe có thể chỉ là nghe ngƣời khác kể
chuyện của họ, hoặc nghe kể về câu chuyện của chính mình. Điều đó tạo một
sự liên tƣởng và thành cơ sở của sự đồng cảm giữa ngƣời nghe và tác giả.
- Cấu trúc tnss + B, ví dụ:
Như là chim xa đàn
Giấu nỗi buồn trong cánh
Hẹn hò với giấc mơ (Cánh chim cô đơn)
(Trong đó: tnss: như là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 47 Những sáng hay đêm về Vẫn thấy rất ơ hờ Bình yên như kiếp đá (Ngày nay không còn bé) (Trong đó: x: bình yên tnss: như B: kiếp đá) Và các ví dụ khác: - Một hôm bước chân về giữa chợ Chợt thấy vui như trẻ thơ (Đêm thấy ta là thác đổ) - Ôi nhân loại còn người và tôi thôi Rồi lang thang như mây trời (Xin mặt trời ngủ yên) - Một mai thức dậy Chuyện trò với lá cây Rồi buồn như lá bay (Tình sầu)... Cấu trúc x + tnss + B đƣợc sử dụng 7/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 1,7%. Với kiểu so sánh này, A - sự vật hiện tƣợng, thƣờng là chủ thể trữ tình đƣợc giấu đi, chỉ nêu lên một đặc tính (chẳng hạn là bình yên). Đó là một sự vật hiện tƣợng phiếm định, đƣợc ngầm hiểu có thể là ngƣời nói, là ngƣời kia, là cả hai, hoặc ai đó... Là ai hay chẳng là ai cả? Điều đó gợi cho ngƣời nghe sự cảm nhận rằng ca từ nhƣ lời tự truyện của tác giả, lại nhƣ kể chuyện đời hoặc kể chuyện của chính ngƣời nghe vậy. Tức là ngƣời nghe có thể chỉ là nghe ngƣời khác kể chuyện của họ, hoặc nghe kể về câu chuyện của chính mình. Điều đó tạo một sự liên tƣởng và thành cơ sở của sự đồng cảm giữa ngƣời nghe và tác giả. - Cấu trúc tnss + B, ví dụ: Như là chim xa đàn Giấu nỗi buồn trong cánh Hẹn hò với giấc mơ (Cánh chim cô đơn) (Trong đó: tnss: như là
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
48
B: chim xa đàn)
Và các ví dụ khác:
- Như là những bông hoa trong thành phố này
Tuổi đời mênh mông quá búp non đầu cây
(Tuổi đời mênh mông)
- Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về (Đêm thấy ta là thác đổ)
- Như là mây giang hồ
Lang thang cùng với gió
Lạc loài nơi chốn xa (Cánh chim cô đơn)...
Cấu trúc tnss + B đƣợc sử dụng 6/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 1,5%. Trong cấu
trúc này, yếu tố so sánh và phƣơng diện so sánh đã đƣợc giấu đi, trở thành
hồ. Ngƣời nghe muốn biết yếu tố so sánh ở đây ai hay là tác giả dựa
vào phƣơng diện nào để làm cơ sở so sánh thì phải đoán định căn cứ vào văn
cảnh cụ thể, đó là những câu hát đứng trƣớc hoặc sau nó.
- Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)...,ví dụ:
Em là phấn thơm cho rừng chút hương
Là lời hát ca cho trần gian (Cho đời chút ơn)
(Trong đó: A: em
tnss1, tnss2:
B1: phấn thơm cho rừng chút hương
B2: lời hát ca cho trần gian)
Và các ví dụ khác:
- Con chim về đậu bên người
Là thiên sứ đó là tôi cũng chừng (Thiên sứ bâng khuâng)
- Ngủ đời tên đi con như vết thương đau ngủ buồn
Như trùng dương đêm mắt thâm còn nghe ngóng (Vết n
trầm)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 48 B: chim xa đàn) Và các ví dụ khác: - Như là những bông hoa trong thành phố này Tuổi đời mênh mông quá búp non đầu cây (Tuổi đời mênh mông) - Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà Từ những phố kia tôi về (Đêm thấy ta là thác đổ) - Như là mây giang hồ Lang thang cùng với gió Lạc loài nơi chốn xa (Cánh chim cô đơn)... Cấu trúc tnss + B đƣợc sử dụng 6/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 1,5%. Trong cấu trúc này, yếu tố so sánh và phƣơng diện so sánh đã đƣợc giấu đi, trở thành mơ hồ. Ngƣời nghe muốn biết yếu tố so sánh ở đây là ai hay là gì và tác giả dựa vào phƣơng diện nào để làm cơ sở so sánh thì phải đoán định căn cứ vào văn cảnh cụ thể, đó là những câu hát đứng trƣớc hoặc sau nó. - Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)...,ví dụ: Em là phấn thơm cho rừng chút hương Là lời hát ca cho trần gian (Cho đời chút ơn) (Trong đó: A: em tnss1, tnss2: là B1: phấn thơm cho rừng chút hương B2: lời hát ca cho trần gian) Và các ví dụ khác: - Con chim về đậu bên người Là thiên sứ đó là tôi cũng chừng (Thiên sứ bâng khuâng) - Ngủ đời tên đi con như vết thương đau ngủ buồn Như trùng dương đêm mắt thâm còn nghe ngóng (Vết lăn trầm)
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
49
- Cuộc tình lên cao vút
Như chim mỏi cánh rồi
Như chim xa lìa bầy
Như chim xa lìa trời
Như chim bỏ đường bay (Tình sầu)...
Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)... đƣợc sử dụng 6/406 lƣợt,
chiếm tlệ 1,5%. Nếu kiểu so sánh A + tss + B chỉ đồng nhất hoặc tƣơng tự
hoá hai sự vật hiện tƣợng khác loại, thì kiểu A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)...
đã đƣa ngƣời nghe tới những khả năng đa dạng hơn và yêu cầu đoán định trên
sở liên tƣởng chọn lọc, liên kết nhiều đặc tính nhiều svật khác loại.
Điều đó giống nhƣ cách giải câu đố: Các vật vừa giống cái này, lại vừa giống
cái kia, cái kia nữa..., đó gì. Cách so sánh một sự vật hiện tƣợng với
nhiều sự vật hiện tƣợng đƣa ngƣời nghe tới một chuỗi liên tƣởng.
- Cấu trúc A + x + B. Ví dụ:
Ôi tóc em dài đêm thần thoại
Vùng tương lai chợt xa xôi
Tuổi xuân ơi sao lạnh dòng máu trong người (Gọi tên bốn mùa)
(Trong đó: A: tóc em
x: dài
B: đêm thần thoại)
Và các ví dụ khác:
- Ngủ đi em da thơm quả ngọt (Em hãy ngủ đi)
- Ngủ đi em tay xanh ngà ngọc (Em hãy ngủ đi)
Cấu trúc A + x + B đƣợc sử dụng 3/406 ợt, chiếm tỉ lệ 0,7%. Đây
kiểu cấu trúc vắng từ ngữ so sánh. Với kiểu cấu trúc này, ngƣời nghe sẽ phải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 49 - Cuộc tình lên cao vút Như chim mỏi cánh rồi Như chim xa lìa bầy Như chim xa lìa trời Như chim bỏ đường bay (Tình sầu)... Cấu trúc A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)... đƣợc sử dụng 6/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 1,5%. Nếu kiểu so sánh A + tss + B chỉ đồng nhất hoặc tƣơng tự hoá hai sự vật hiện tƣợng khác loại, thì kiểu A + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2)... đã đƣa ngƣời nghe tới những khả năng đa dạng hơn và yêu cầu đoán định trên cơ sở liên tƣởng chọn lọc, liên kết nhiều đặc tính ở nhiều sự vật khác loại. Điều đó giống nhƣ cách giải câu đố: Các vật vừa giống cái này, lại vừa giống cái kia, và cái kia nữa..., đó là gì. Cách so sánh một sự vật hiện tƣợng với nhiều sự vật hiện tƣợng đƣa ngƣời nghe tới một chuỗi liên tƣởng. - Cấu trúc A + x + B. Ví dụ: Ôi tóc em dài đêm thần thoại Vùng tương lai chợt xa xôi Tuổi xuân ơi sao lạnh dòng máu trong người (Gọi tên bốn mùa) (Trong đó: A: tóc em x: dài B: đêm thần thoại) Và các ví dụ khác: - Ngủ đi em da thơm quả ngọt (Em hãy ngủ đi) - Ngủ đi em tay xanh ngà ngọc (Em hãy ngủ đi) Cấu trúc A + x + B đƣợc sử dụng 3/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 0,7%. Đây là kiểu cấu trúc vắng từ ngữ so sánh. Với kiểu cấu trúc này, ngƣời nghe sẽ phải
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
50
đoán định đâu là ranh giới giữa yếu tố đƣợc so sánh, phƣơng diện so sánh
yếu tố so sánh.
- Cấu trúc tnss + B + A + x, ví dụ:
Như một hòn bi xanh
Trái đất này quay tròn (Nhƣ hòn bi xanh)
(Trong đó: tnss: như
B: một hòn bi xanh
A: trái đất này
x: quay tròn)
Và ví dụ khác:
Như là cơn gió em còn cứ mãi bay đi (Hoa vàng mấy độ)
Cấu trúc tnss + B + A + x đƣợc sử dụng 2/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 0,5%.
Trong kiểu cấu trúc này, vị trí của các yếu tố so sánh đã đƣợc thay đổi: từ so
sánh thay vào vị trí của yếu tố đƣợc so sánh, yếu tố so sánh thay vào vị trí của
phƣơng diện so sánh, yếu tố đƣợc so sánh thay vào vị trí của từ so sánh, yếu
tố phƣơng diện thay vào vị trí của yếu tố so sánh. Với việc đảo trật tự cấu trúc
này, tác giả nhằm nhấn mạnh đến yếu tố phƣơng diện so sánh (bằng cách đặt
nó ở cuối câu).
- Cấu trúc A + x + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2), ví dụ:
Đời sao im vắng
Như đồng lúa gặt xong
Như rừng núi bỏ hoang (Ru ta ngậm ngùi)
(Trong đó: A: đời
x: im vắng
tnss1, tnss2: như
B1: đồng lúa gặt xong
B2: rừng núi bỏ hoang)
Và ví dụ khác:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 50 đoán định đâu là ranh giới giữa yếu tố đƣợc so sánh, phƣơng diện so sánh và yếu tố so sánh. - Cấu trúc tnss + B + A + x, ví dụ: Như một hòn bi xanh Trái đất này quay tròn (Nhƣ hòn bi xanh) (Trong đó: tnss: như B: một hòn bi xanh A: trái đất này x: quay tròn) Và ví dụ khác: Như là cơn gió em còn cứ mãi bay đi (Hoa vàng mấy độ) Cấu trúc tnss + B + A + x đƣợc sử dụng 2/406 lƣợt, chiếm tỉ lệ 0,5%. Trong kiểu cấu trúc này, vị trí của các yếu tố so sánh đã đƣợc thay đổi: từ so sánh thay vào vị trí của yếu tố đƣợc so sánh, yếu tố so sánh thay vào vị trí của phƣơng diện so sánh, yếu tố đƣợc so sánh thay vào vị trí của từ so sánh, yếu tố phƣơng diện thay vào vị trí của yếu tố so sánh. Với việc đảo trật tự cấu trúc này, tác giả nhằm nhấn mạnh đến yếu tố phƣơng diện so sánh (bằng cách đặt nó ở cuối câu). - Cấu trúc A + x + (tnss1 + B1) + (tnss2 + B2), ví dụ: Đời sao im vắng Như đồng lúa gặt xong Như rừng núi bỏ hoang (Ru ta ngậm ngùi) (Trong đó: A: đời x: im vắng tnss1, tnss2: như B1: đồng lúa gặt xong B2: rừng núi bỏ hoang) Và ví dụ khác: