Luận văn: PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

8,300
97
145
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HÀN THỊ THU HƢỜNG
PHƢƠNG THỨC SO SÁNH
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông
THÁI NGUYÊN - 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀN THỊ THU HƢỜNG PHƢƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông THÁI NGUYÊN - 2010 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
HÀN THỊ THU HƢỜNG
PHƢƠNG THỨC SO SÁNH
TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số : 60.22.01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 HÀN THỊ THU HƢỜNG PHƢƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số : 60.22.01 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Tạ Văn Thông THÁI NGUYÊN - 2010
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
HÀN THỊ THU HƢỜNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác. Tác giả luận văn HÀN THỊ THU HƢỜNG
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Bố cục của luận văn
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ
1.1. Khái quát về so sánh 10
1.1.1. Khái niệm “so sánh” 10
1.1.2. Cấu trúc so sánh 12
1.1.3. Các kiểu so sánh 17
1.2. Khái quát về ca từ 20
1.2.1. Khái niệm “ca từ” 20
1.2.2. Ngôn ngữ trong ca từ 21
1.2.3. Hình tƣợng ca từ 23
1.2.4. Chủ thể cảm xúc trong ca từ 24
1.3. Trịnh Công Sơn và những ca khúc của ông 27
1.3.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn 27
1.3.2. Khái quát về những ca khúc của Trịnh Công Sơn 32
Tiểu kết 36
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƢƠNG
THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
2.1. Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phƣơng thức so sánh trong 38
ca từ Trịnh Công Sơn
2.1.1. Các kiểu cấu trúc so sánh 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 3 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 8 6. Đóng góp của luận văn 8 7. Bố cục của luận văn CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ 1.1. Khái quát về so sánh 10 1.1.1. Khái niệm “so sánh” 10 1.1.2. Cấu trúc so sánh 12 1.1.3. Các kiểu so sánh 17 1.2. Khái quát về ca từ 20 1.2.1. Khái niệm “ca từ” 20 1.2.2. Ngôn ngữ trong ca từ 21 1.2.3. Hình tƣợng ca từ 23 1.2.4. Chủ thể cảm xúc trong ca từ 24 1.3. Trịnh Công Sơn và những ca khúc của ông 27 1.3.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Công Sơn 27 1.3.2. Khái quát về những ca khúc của Trịnh Công Sơn 32 Tiểu kết 36 CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHƢƠNG THỨC SO SÁNH TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 2.1. Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phƣơng thức so sánh trong 38 ca từ Trịnh Công Sơn 2.1.1. Các kiểu cấu trúc so sánh 38
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
2.1.2. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 49
2.1.3. Đặc điểm của yếu tố so sánh 52
2.1.4. Đặc điểm của các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 57
2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của phƣơng thức so sánh trong ca từ 59
Trịnh Công Sơn
2.2.1. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 59
2.2.2. Đặc điểm của yếu tố so sánh 66
2.2.3. Mối tƣơng quan ngữ nghĩa giữa yếu tố đƣợc so sánh 71
yếu tố so sánh
Tiểu kết 75
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG THỨC SO SÁNH VỚI HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG CA KHÚC TRỊNH CÔNG SƠN
3.1. Phƣơng thức so sánh với hình tƣợng em - ngƣời tình 77
3.2. Phƣơng thức so sánh với hình tƣợng tôi - chủ thể trữ tình 83
3.3. Phƣơng thức so sánh với những chiêm nghiệm về tình yêu 93
3.4. Phƣơng thức so sánh với những chiêm nghiệm về đời ngƣời 100
Tiểu kết 105
KẾT LUẬN 107
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 2.1.2. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 49 2.1.3. Đặc điểm của yếu tố so sánh 52 2.1.4. Đặc điểm của các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 57 2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của phƣơng thức so sánh trong ca từ 59 Trịnh Công Sơn 2.2.1. Đặc điểm của yếu tố đƣợc so sánh 59 2.2.2. Đặc điểm của yếu tố so sánh 66 2.2.3. Mối tƣơng quan ngữ nghĩa giữa yếu tố đƣợc so sánh và 71 yếu tố so sánh Tiểu kết 75 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG THỨC SO SÁNH VỚI HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT TRONG CA KHÚC TRỊNH CÔNG SƠN 3.1. Phƣơng thức so sánh với hình tƣợng em - ngƣời tình 77 3.2. Phƣơng thức so sánh với hình tƣợng tôi - chủ thể trữ tình 83 3.3. Phƣơng thức so sánh với những chiêm nghiệm về tình yêu 93 3.4. Phƣơng thức so sánh với những chiêm nghiệm về đời ngƣời 100 Tiểu kết 105 KẾT LUẬN 107 CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Để nhận thức thế giới khách quan, để hiểu rừ cỏc sự vật hiện tƣợng
với các thuộc tính muôn màu muôn vẻ trong đời sống, con ngƣời thƣờng thực
hiện việc so sánh, nhằm phát hiện ra những thuộc tính đồng nhất và khác biệt
giữa các sự vật hiện tƣợng này, để quy loại và phân biệt chúng với nhau.
thể nói, so nh là một thao tác thƣờng xuyên, ý thức hoặc thức, trong
đời sống hàng ngày của con ngƣời. Đối với văn học nghệ thuật, so sánh đƣợc
xem là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu về phép so sánh của một
tác phẩm văn nghệ giúp ta tìm hiểu một cỏch thức quan trọng (trong số các
phép tu từ khác) đƣợc các tác giả dùng để tạo nên ngôn từ nghệ thuật trong
tác phẩm của mình.
Từ xa xƣa, âm nhạc đã là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với
nhân loại, bởi đem lại cho con ngƣời những cảm xúc khỏc nhau qua sự
cảm nhận những hình tƣợng nghệ thuật. Việc nghiên cứu âm nhạc nói chung
và ca từ nói riêng là một công việc không đơn giản nhƣng đầy lí thú.
Cũng nhƣ trong các hình thức văn nghệ khác, so sánh trong ca từ rất cần
đƣợc chú ý, về phƣơng thức này góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình
tƣợng nghệ thuật và giúp nghệ đƣa tác phẩm (bài ca) đi vào lòng ngƣời nghe.
1.2. “Ngƣời hát rong qua nhiều thế hệ”, “ngƣời ca thơ”, “ngƣời viết
tình ca hay nhất thế kỉ”, đó là những từ ngữ ngƣời ta đã dùng để gọi Trịnh
Công Sơn - ngƣời nhạc mỗi khi những ca khúc của ông đƣợc cất lên,
chúng ta đều cảm thấy lòng mình nhƣ lắng lại trong nhịp điệu tiết tấu du
dƣơng, với một nỗi buồn da diết, để chiêm nghiệm, để nhìn lại mình, để trí
tƣởng tƣợng bay xa đến thế giới của những yêu thƣơng tha thiết, những nỗi
dằn vặt về tình yêu thân phận con ngƣời. Những ca khúc của ông không
chỉ mang lại một “giọng điệu” riêng, mà cũn thể hiện tớnh nhõn văn sâu sắc.
Ở Việt Nam, chƣa có nhạc sĩ nào tạo dựng đƣợc cho mình một dòng nhạc độc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1. Để nhận thức thế giới khách quan, để hiểu rừ cỏc sự vật hiện tƣợng với các thuộc tính muôn màu muôn vẻ trong đời sống, con ngƣời thƣờng thực hiện việc so sánh, nhằm phát hiện ra những thuộc tính đồng nhất và khác biệt giữa các sự vật hiện tƣợng này, để quy loại và phân biệt chúng với nhau. Có thể nói, so sánh là một thao tác thƣờng xuyên, có ý thức hoặc vô thức, trong đời sống hàng ngày của con ngƣời. Đối với văn học nghệ thuật, so sánh đƣợc xem là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu về phép so sánh của một tác phẩm văn nghệ giúp ta tìm hiểu một cỏch thức quan trọng (trong số các phép tu từ khác) đƣợc các tác giả dùng để tạo nên ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Từ xa xƣa, âm nhạc đã là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với nhân loại, bởi nó đem lại cho con ngƣời những cảm xúc khỏc nhau qua sự cảm nhận những hình tƣợng nghệ thuật. Việc nghiên cứu âm nhạc nói chung và ca từ nói riêng là một công việc không đơn giản nhƣng đầy lí thú. Cũng nhƣ trong các hình thức văn nghệ khác, so sánh trong ca từ rất cần đƣợc chú ý, về phƣơng thức này góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình tƣợng nghệ thuật và giúp nghệ sĩ đƣa tác phẩm (bài ca) đi vào lòng ngƣời nghe. 1.2. “Ngƣời hát rong qua nhiều thế hệ”, “ngƣời ca thơ”, “ngƣời viết tình ca hay nhất thế kỉ”…, đó là những từ ngữ ngƣời ta đã dùng để gọi Trịnh Công Sơn - ngƣời nhạc sĩ mà mỗi khi những ca khúc của ông đƣợc cất lên, chúng ta đều cảm thấy lòng mình nhƣ lắng lại trong nhịp điệu và tiết tấu du dƣơng, với một nỗi buồn da diết, để chiêm nghiệm, để nhìn lại mình, để trí tƣởng tƣợng bay xa đến thế giới của những yêu thƣơng tha thiết, những nỗi dằn vặt về tình yêu và thân phận con ngƣời. Những ca khúc của ông không chỉ mang lại một “giọng điệu” riêng, mà cũn thể hiện tớnh nhõn văn sâu sắc. Ở Việt Nam, chƣa có nhạc sĩ nào tạo dựng đƣợc cho mình một dòng nhạc độc
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
lập nhƣ Trịnh Công Sơn. Ngƣời ta vẫn thƣờng gọi dòng nhạc của ông với cái
tên bình dị, thân quen, là: “Nhạc Trịnh”.
Trong những năm tháng đất nƣớc chìm trong khói lửa chiến tranh, nhạc
sĩ này đã ôm đàn “hát cho dân tôi nghe”. Những ca khúc của ông đã vƣợt lên
mƣa bom bão đạn, vƣợt lên cảnh máu xƣơng trập trùng”, xoá nhoà đi cái
gƣơng mặt gớm giếc của cuộc chiến chinh phục hàng triệu trái tim yêu
nhạc thuộc đủ mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, rồi vang mói cho
tới ngày nay. Không chỉ phổ biến trong nƣớc, nhiều ca khúc của ông đã vƣợt
biên giới, đến với các quốc gia khác nhƣ Pháp, Mĩ, Canađa, Nhật Bản,
đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng và đƣợc đông đảo công chúng đón nhận.
Một trong những yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần
ca từ đó cũng nơi thể hiện sự tài hoa trong sử dụng tiếng Việt của ông.
Nhạc sĩ Văn Cao cho rằng âm nhạc của Trịnh Công Sơn là kết quả của một
cuộc “hôn phối diệu” giữa phần ca từ phần âm nhạc, hai phần này hoà
quyện vào nhau đến mức khó có thể tách rời, làm nên hồn cốt nhạc Trịnh, và
vì thế ông gọi nhạc họ Trịnh là “ngƣời ca thơ”; Tác giả Hoàng Ngọc Hiến
đánh giá: “Tất cả ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn làm thành một tình ca hay
nhất thế kỉ” [45, tr.351]; Nhà nghiên cứu âm nhạc Dƣơng Viết Á cho rằng:
“Ngay cả trong những năm tháng “chia tay” giữa thơ và ca, xét riêng về ca từ,
nhiều nhạc cần đƣợc gọi thêm nhà thơ, thậm chí nên đƣợc tuyển chọn
vào các tập thơ của thế kỉ XX: Đặng Thế Phong, Văn Cao, Trịnh Công Sơn
[2, tr.226] Tuy phần ca từ của nhạc Trịnh đƣợc đánh giá cao nhƣ vậy, nhƣng
cho đến nay lại ít những công trình nghiên cứu chuyờn biệt, đầy đủ sâu
sắc.
2.3. Đã rất nhiều bài viết cũng nhƣ các công trình nghiên cứu v
cuộc đời sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhƣng trong một vài
cụng trỡnh có chú ý đến nghiên cứu ca từ của ông, thỡ việc tìm hiểu một cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 lập nhƣ Trịnh Công Sơn. Ngƣời ta vẫn thƣờng gọi dòng nhạc của ông với cái tên bình dị, thân quen, là: “Nhạc Trịnh”. Trong những năm tháng đất nƣớc chìm trong khói lửa chiến tranh, nhạc sĩ này đã ôm đàn “hát cho dân tôi nghe”. Những ca khúc của ông đã vƣợt lên mƣa bom bão đạn, vƣợt lên cảnh “máu xƣơng trập trùng”, xoá nhoà đi cái gƣơng mặt gớm giếc của cuộc chiến và chinh phục hàng triệu trái tim yêu nhạc thuộc đủ mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, và rồi vang mói cho tới ngày nay. Không chỉ phổ biến trong nƣớc, nhiều ca khúc của ông đã vƣợt biên giới, đến với các quốc gia khác nhƣ Pháp, Mĩ, Canađa, Nhật Bản…, đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng và đƣợc đông đảo công chúng đón nhận. Một trong những yếu tố làm nên sức sống của nhạc Trịnh chính là phần ca từ và đó cũng là nơi thể hiện sự tài hoa trong sử dụng tiếng Việt của ông. Nhạc sĩ Văn Cao cho rằng âm nhạc của Trịnh Công Sơn là kết quả của một cuộc “hôn phối kì diệu” giữa phần ca từ và phần âm nhạc, hai phần này hoà quyện vào nhau đến mức khó có thể tách rời, làm nên hồn cốt nhạc Trịnh, và vì thế ông gọi nhạc sĩ họ Trịnh là “ngƣời ca thơ”; Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đánh giá: “Tất cả ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn làm thành một tình ca hay nhất thế kỉ” [45, tr.351]; Nhà nghiên cứu âm nhạc Dƣơng Viết Á cho rằng: “Ngay cả trong những năm tháng “chia tay” giữa thơ và ca, xét riêng về ca từ, nhiều nhạc sĩ cần đƣợc gọi thêm là nhà thơ, thậm chí nên đƣợc tuyển chọn vào các tập thơ của thế kỉ XX: Đặng Thế Phong, Văn Cao, Trịnh Công Sơn…” [2, tr.226]… Tuy phần ca từ của nhạc Trịnh đƣợc đánh giá cao nhƣ vậy, nhƣng cho đến nay lại ít có những công trình nghiên cứu chuyờn biệt, đầy đủ và sâu sắc. 2.3. Đã có rất nhiều bài viết cũng nhƣ các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn, nhƣng trong một vài cụng trỡnh có chú ý đến nghiên cứu ca từ của ông, thỡ việc tìm hiểu một cách
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
hệ thống các biện pháp tu từ, trong đó so sánh, vẫn vấn đề cũn bỏ
ngỏ.
Xuất phát tnhững do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn tiến hành
nghiên cứu đề tài: Phƣơng thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Các phƣơng thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm
văn chƣơng, trong đó phƣơng thức so sánh, đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu
trƣớc đây đề cập tới.
Lịch sử nghiên cứu phƣơng thức so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết
học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp Arisstotle (384 - 322 TCN). Trong
cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle
đã chú ý đến so sánh. Ông xem đây một trong những biện pháp đƣợc sử
dụng rất phổ biến trong văn chƣơng, đặc biệt rất đắc dụng trong thơ ca nhằm
tăng hiệu quả biểu cảm và giỏ trị thẩm mĩ.
Ở Trung Hoa cổ đại, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh đƣợc bộc lộ qua
những lời bình giải về hai thể tỉ hứng trong thơ ca n gian Trung Quốc.
Trong các công trình nghiên cứu, các học giả Trung Hoa thƣờng dùng khái
niệm “tỉ” và “hứng” khi nói về phƣơng thức nghệ thuật có liên quan đến cách
ví von bóng gió.
Việt Nam, việc nghiên cứu phƣơng thức nghệ thuật này trên quan
điểm ng văn học đƣợc kế thừa phát triển truyền thống bình giảng tác
phẩm văn học Trung Hoa, theo khuynh hƣớng coi đó thuộc mĩ từ pháp,
một trong những “phép làm văn”.
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về
các phƣơng thức tu từ, trong đó so sánh, tiêu biểu là: Đinh Trọng Lạc với
Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt (Nxb GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD, 1998); Đình
Tú với cuốn Phong cách học đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH&THCN,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 có hệ thống các biện pháp tu từ, trong đó có so sánh, vẫn là vấn đề cũn bỏ ngỏ. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: Phƣơng thức so sánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2.1. Các phƣơng thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn chƣơng, trong đó có phƣơng thức so sánh, đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trƣớc đây đề cập tới. Lịch sử nghiên cứu phƣơng thức so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp là Arisstotle (384 - 322 TCN). Trong cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle đã chú ý đến so sánh. Ông xem đây là một trong những biện pháp đƣợc sử dụng rất phổ biến trong văn chƣơng, đặc biệt rất đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và giỏ trị thẩm mĩ. Ở Trung Hoa cổ đại, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh đƣợc bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc. Trong các công trình nghiên cứu, các học giả Trung Hoa thƣờng dùng khái niệm “tỉ” và “hứng” khi nói về phƣơng thức nghệ thuật có liên quan đến cách ví von bóng gió. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phƣơng thức nghệ thuật này trên quan điểm ngữ văn học đƣợc kế thừa và phát triển truyền thống bình giảng tác phẩm văn học Trung Hoa, theo khuynh hƣớng coi đó là thuộc mĩ từ pháp, là một trong những “phép làm văn”. Cho đến nay, ở Việt Nam đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về các phƣơng thức tu từ, trong đó có so sánh, tiêu biểu là: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD, 1998); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH&THCN,
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
1983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb
ĐHQGHN, 2001); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngụn
ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sỏnh ẩn dụ trong ca dao
trữ tỡnh (Nxb KHXH, 2009)…
Qua tìm hiểu, thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể
trên, các tác giả đã chỳ trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại tìm
ra giá trị của các phƣơng thức tu từ nói chung và so sánh nói riêng. Đây là cơ
sở thuyết cùng quí báu để luận văn có thể tham khảo trƣớc khi đi u
nghiên cứu về phƣơng thức so sánh trong ca từ củaTrịnh Công Sơn.
2.2. Sau khi Trịnh Công Sơn mất (1/4/2001), tính đến nay đã có khoảng
trên 10 cuốn sách viết về cuộc đời sự nghiệp âm nhạc của ông. Cuốn sách
ra đời đầu tiên viết về ngƣời nhạc vừa quá cố là Trịnh Công Sơn - Một
người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha, Đoàn
Tử Huyến sƣu tầm và biên soạn (Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ
Đông Tây, 2001). Sau đó cuốn sỏch y đƣợc bổ sung, biên soạn tái bản
với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá, 2004). Tiếp theo, lần
lƣợt đƣợc phát hành là các sách tập trung các bài viết của nhiều tác giả: Trịnh
Công Sơn - cát bụi lộng lẫy (Nxb Văn hoá, tạp chí Sông Hƣơng, Huế, 2001),
Trịnh Công Sơn - người hát rong qua nhiều thế hệ (Nxb Trẻ, 2004), Trịnh
Công Sơn - rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, 2006), Trịnh Công Sơn - cuộc đời,
âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005)…
Ngoài những tập sách của tập thể tác giả kể trên, còn có những tác phẩm
của cá nhân, đó là: Trịnh Công Sơn - một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý (Nxb Trẻ,
2003); Trịnh Công Sơn - có một thời như thế của Nguyễn Đắc Xuân (Nxb Văn
học, 2003); Trịnh Công Sơn cây đàn Lya của hoàng tử của Hoàng Phủ
Ngọc Tƣờng (Nxb Trẻ, 2005); Vườn xưa - hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn
của Nguyễn Hữu Thái Hoà (Nxb Trẻ, 2007); Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ
những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2008)…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 1983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngụn ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sỏnh và ẩn dụ trong ca dao trữ tỡnh (Nxb KHXH, 2009)… Qua tìm hiểu, có thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã chỳ trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của các phƣơng thức tu từ nói chung và so sánh nói riêng. Đây là cơ sở lí thuyết vô cùng quí báu để luận văn có thể tham khảo trƣớc khi đi sâu nghiên cứu về phƣơng thức so sánh trong ca từ củaTrịnh Công Sơn. 2.2. Sau khi Trịnh Công Sơn mất (1/4/2001), tính đến nay đã có khoảng trên 10 cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của ông. Cuốn sách ra đời đầu tiên viết về ngƣời nhạc sĩ vừa quá cố là Trịnh Công Sơn - Một người thơ ca, một cõi đi về do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha, Đoàn Tử Huyến sƣu tầm và biên soạn (Nxb Âm nhạc, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2001). Sau đó cuốn sỏch này đƣợc bổ sung, biên soạn và tái bản với tựa đề Một cõi Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hoá, 2004). Tiếp theo, lần lƣợt đƣợc phát hành là các sách tập trung các bài viết của nhiều tác giả: Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy (Nxb Văn hoá, tạp chí Sông Hƣơng, Huế, 2001), Trịnh Công Sơn - người hát rong qua nhiều thế hệ (Nxb Trẻ, 2004), Trịnh Công Sơn - rơi lệ ru người (Nxb Phụ nữ, 2006), Trịnh Công Sơn - cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005)… Ngoài những tập sách của tập thể tác giả kể trên, còn có những tác phẩm của cá nhân, đó là: Trịnh Công Sơn - một nhạc sĩ thiên tài của Bửu Ý (Nxb Trẻ, 2003); Trịnh Công Sơn - có một thời như thế của Nguyễn Đắc Xuân (Nxb Văn học, 2003); Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng (Nxb Trẻ, 2005); Vườn xưa - hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn của Nguyễn Hữu Thái Hoà (Nxb Trẻ, 2007); Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2008)…
S hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Những cuốn sách này chủ yếu gồm những bài viết của bạn bè, ngƣời
thân, đồng nghiệp, công chúng yêu nhạc ngƣỡng mộ i năng của Trịnh
Công Sơn, một số của các nhà o, số ít các nhà nghiên cứu, phê bình
văn học. Những bài viết ấy đều có dung lƣợng nhỏ, chủ yếu là kể về những kỉ
niệm, giai thoại, bày tỏ cảm xúc, n tƣợng tình yêu đối với nhạc sĩ, cảm
nhận đối với từng bài hát, những đồng cảm về thân phận con ngƣời trong
chiến tranh qua những ca khúc phản chiến, những nỗi đau trong tình yêu,
những phát hiện về triết lí sống trong nhạc TrịnhChƣa nhiều những bài
viết mang tính chất nghiên cứu ca từ dƣới góc độ ngôn ngữ, càng ít gặp những
bài viết nghiên cứu riêng về phƣơng thức so sánh.
Cuốn sách mang tính chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về ca từ Trịnh
Công Sơn là cuốn Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của
Bùi Vĩnh Phúc. Trong cuốn sách này, tác giả đã dành riêng một chƣơng để viết
về nghệ thuật ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn. Đó là cách viết ca khúc nhƣ những
bài thơ, cách dùng những hình ảnh tỉnh lƣợc, những câu bỏ lửng, những nét đối
xứng và những biện pháp tu từ. Trong phần viết về những biện pháp tu từ, tác
giả có đề cập đến biện pháp so sánh nhƣng ông chỉ dừng lại ở việc mô tả biện
pháp này và đƣa ra một số ví dụ minh hoạ, chứ chƣa đi sâu nghiên cứu những
đặc điểm về hình thái cấu trúc, đặc điểm về ngữ nghĩa cũng nhƣ vai trò của so
sánh đối với việc xây dựng hình tƣợng nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công
Sơn.
Ngoài những cuốn sách viết về cuộc đời sự nghiệp âm nhạc của
Trịnh Công Sơn đã xuất bản kể trên, thể kể đến những công trình nghiên
cứu mang tính chất chuyên đề về ca từ nhạc Trịnh: Luận văn Thạc sĩ, chuyên
ngành Văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thuý, Đại học phạm
Quy Nhơn (2006) với đề i Ca từ Trịnh Công Sơn - những ca khúc về tình
yêu thân phận con người với những mảng nghiên cứu về cuộc đời s
nghiệp, tầm ảnh hƣởng của Trịnh Công Sơn, thân phận con ngƣời và tình yêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 Những cuốn sách này chủ yếu gồm những bài viết của bạn bè, ngƣời thân, đồng nghiệp, công chúng yêu nhạc và ngƣỡng mộ tài năng của Trịnh Công Sơn, một số của các nhà báo, và số ít là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Những bài viết ấy đều có dung lƣợng nhỏ, chủ yếu là kể về những kỉ niệm, giai thoại, bày tỏ cảm xúc, ấn tƣợng và tình yêu đối với nhạc sĩ, cảm nhận đối với từng bài hát, những đồng cảm về thân phận con ngƣời trong chiến tranh qua những ca khúc phản chiến, những nỗi đau trong tình yêu, và những phát hiện về triết lí sống trong nhạc Trịnh…Chƣa có nhiều những bài viết mang tính chất nghiên cứu ca từ dƣới góc độ ngôn ngữ, càng ít gặp những bài viết nghiên cứu riêng về phƣơng thức so sánh. Cuốn sách mang tính chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về ca từ Trịnh Công Sơn là cuốn Trịnh Công Sơn - ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc. Trong cuốn sách này, tác giả đã dành riêng một chƣơng để viết về nghệ thuật ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn. Đó là cách viết ca khúc nhƣ những bài thơ, cách dùng những hình ảnh tỉnh lƣợc, những câu bỏ lửng, những nét đối xứng và những biện pháp tu từ. Trong phần viết về những biện pháp tu từ, tác giả có đề cập đến biện pháp so sánh nhƣng ông chỉ dừng lại ở việc mô tả biện pháp này và đƣa ra một số ví dụ minh hoạ, chứ chƣa đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về hình thái cấu trúc, đặc điểm về ngữ nghĩa cũng nhƣ vai trò của so sánh đối với việc xây dựng hình tƣợng nghệ thuật trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Ngoài những cuốn sách viết về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã xuất bản kể trên, có thể kể đến những công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên đề về ca từ nhạc Trịnh: Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thuý, Đại học Sƣ phạm Quy Nhơn (2006) với đề tài Ca từ Trịnh Công Sơn - những ca khúc về tình yêu và thân phận con người với những mảng nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp, tầm ảnh hƣởng của Trịnh Công Sơn, thân phận con ngƣời và tình yêu