Khóa luận tốt nghiệp: Đàm phán thương mại bằng phương thức gặp gỡ trực tiếp doanh nghiệp Việt Nam và đối tác Nhật Bản
8,139
787
110
38
khiến cho đối thủ không thể đánh hơi được đúng con mồi. Trên bàn đàm phán, khi
sử dụng kiểu chiến thuật này, người đàm phán cố tình đánh lạc hướng đối phương
khỏi những vấn đề chính và quan trọng bằng cách tập trung quá trình thương lượng
xoay quanh những vấn đề nhỏ nhặt, vụn vặt khác, đến cuối quá trình thương lượng,
khi đối phương tỏ ra mệt mỏi, người đàm phán mới bước vào thương lượng những
vấn đề quan trọng. Lợi dụng tâm lý mệt mỏi, muốn sớm kết thúc thương lượng của
đối phương, người đàm phán sẽ nhận được những nhượng bộ quan trọng vào phút
cuối ở những vấn đề quan trọng này.
1.3.3. Kỹ thuật sử dụng trong đàm phán trực tiếp
Giai đoạn khó khăn và căng thẳng nhất trong đàm phán thương mại quốc tế bằng
phương thức gặp gỡ trực tiếp chính là giai đoạn người mua và người bán gặp gỡ,
tiếp xúc để trực tiếp tiến hành trao đổi, thương lượng các vấn đề. Quá trình
giao tiếp
sẽ diễn ra dưới dạng các câu hỏi, câu trả lời, các câu truyền đạt thông tin,
thuyết
phục lẫn nhau,… vì thế nó đòi hỏi ở người đàm phán trực tiếp những kỹ năng giao
tiếp đàm phán tốt, vận dụng thuần thục các kỹ thuật đàm phán cơ bản. Dưới đây là
1
số kỹ thuật cơ bản trong đàm phán trực tiếp
Kỹ thuật trình bày lập luận
Khi đưa ra 1 đề xuất, 1 phương án nào đó, người đàm phán cần trình bày sao cho
đối tác tin tưởng và thừa nhận tính hợp lý trong các lập luận, và các lý lẽ được
đưa
ra. Để trình bày lập luận một cách hiệu quả, người đàm phán cần đáp ứng 2 điều
kiện sau:
Trình bày để đối tác hiểu điều ta muốn nói: người đàm phán cần truyền đạt thông
tin một cách rõ ràng, nội dung dễ hiểu. Khi cần có thể phối hợp với một số
phương
tiện thông tin bổ trợ như bảng biểu, đồ thị, tài liệu chuẩn bị trước. Sẵn sàng
giải
thích cho đối tác nếu họ còn thắc mắc hoặc có điểm nào chưa rõ
Đưa ra các lập luận xác đáng và thuyết phục: khi trình bày một đề xuất hay một
phương án, người đàm phán cần chứng minh được tính hợp lý của đề xuất hay
phương án đó bằng những dẫn chứng có giá trị thuyết phục và đáng tin cậy. Ví dụ:
“mặt hàng của công ty chúng tôi đã nhiều năm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia,
39
cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm của Mỹ và chúng tôi đang nhận
được rất nhiều đặt hàng với số lượng lớn từ các hãng kinh doanh thực phẩm trên
thị
trường này suốt 3 năm qua”
Kỹ thuật lắng nghe
Trong đàm phán trực tiếp, lắng nghe là một kỹ thuật rất quan trọng, nhưng đây
không phải là một kỹ thuật dễ bởi chức năng “nghe” trong đàm phán thương mại
quốc tế không chỉ là để hiểu được điều phía bên kia nói gì, mà còn là để hiểu
được
nhận thức, suy nghĩ, và cảm xúc của họ. Khi ta tích cực lắng nghe, đôi lúc ta có
thể
tìm ra những điểm yếu, những chỗ sơ hở trong lập luận của đối tác, tạo điều kiện
cho ta phản bác lại một cách thuyết phục. Khi đàm phán với các đối tác là người
nước ngoài, do các bên có thể không thông hiểu ngôn ngữ của nhau nên khi đối tác
trình bày, các thương nhân thường sao nhãng việc lắng nghe, họ có xu hướng chỉ
đợi cho đến khi đối tác nói xong mới tập trung nghe phiên dịch dịch lại. Thực tế
cho
thấy đây là một sai lầm bởi điều đó dễ làm cho đối tác nước ngoài có cảm giác
lời
họ nói không được tôn trọng, gây ra tâm lý không hài lòng, thậm chí bực bội.
Chính
vì thế, khi đàm phán trực tiếp với các bạn hàng quốc tế, người đàm phán cần chú
ý
các vấn đề sau:
- Cần tập trung tư tưởng, không sao nhãng trong khi đối tác đang trình bày, tỏ
rõ
thiện chí lắng nghe tích cực và tôn trọng các ý kiến của đối tác
- Không ngắt lời trong khi đối tác đang nói
- Vừa nghe vừa quan sát cử chỉ của đối tác trong lúc trình bày
- Yêu cầu giải thích những điểm nào chưa hiểu trong các ý kiến mà đối tác đưa ra
Kỹ thuật đặt câu hỏi
Mục đích của việc đặt câu hỏi là tạo cơ hội cho đối tác trình bày quan điểm của
họ
và cung cấp những thông tin cần thiết cho ta. Nếu biết đặt câu hỏi một cách khéo
léo, người đàm phán có thể giành được quyền chủ động cũng như duy trì được
quyền chủ động trong thương lượng. Sự khéo léo trong cách đặt câu hỏi thể hiện ở
3
khía cạnh: mục đích hỏi, hình thức câu hỏi và thời điểm hỏi. Dưới đây là những
loại
câu hỏi thường sử dụng trong đàm phán trực tiếp
40
Câu hỏi đóng: là loại câu hỏi được sử dụng khi người đàm phán muốn tìm hiểu
thông tin cụ thể từ đối tác. Câu hỏi đóng còn được gọi là câu hỏi định hướng
(directive question), tính định hướng thể hiện ở chỗ nội dung câu hỏi mang tính
cụ
thể, yêu cầu câu trả lời chính xác, đi vào vấn đề được hỏi, tránh những câu trả
lời
lan man, mập mờ
Ví dụ:
- Ông/bà thường mua mặt hàng này với mức giá bao nhiêu?
- Với những đơn hàng lớn như thế này, các ngài có thể giảm giá đến bao nhiêu
phần trăm?
Câu hỏi mở: là những câu hỏi nhằm thăm dò ý kiến của phía đối tác về một vấn đề
nào đó, nội dung câu hỏi thường mang tính khái quát, không đòi hỏi những câu trả
lời cụ thể mà người được hỏi có thể chỉ cần đưa ra ý kiến của mình. Dạng câu hỏi
này thường được sử dụng khi người hỏi muốn tìm hiểu về mục đích, mối quan tâm,
và lập trường của đối tác
Ví dụ:
- Các ngài nghĩ sao về đề nghị này?
- Các ngài đánh giá thế nào về chất lượng mặt hàng của chúng tôi?
Câu hỏi kích thích suy nghĩ: là loại câu hỏi khiến người được hỏi phải xem xét
lại
cách nghĩ của mình, cân nhắc lại các phương án và thử suy nghĩ theo 1 hướng
khác.
Ví dụ:
- Các ngài có chắc như vậy không?
- Chúng ta còn phải tính đến cả vấn đề lạm phát nữa chứ, phải không?
Câu hỏi hùng biện: là dạng câu hỏi nhằm khẳng định lại các lập luận hoặc các
phương án thoả thuận trước đó
Ví dụ:
- Các ngài có thấy rằng rõ ràng các thương vụ trước của chúng ta đều được thanh
toán bằng chuyển tiền và đều đã thành công tốt đẹp?
- Như vậy là chúng ta đã nhất trí về điều kiện giao hàng này rồi chứ?
Câu hỏi kích thích ra quyết định: là dạng câu hỏi dùng để kết thúc vấn đề, chúng
có tác dụng kích thích phía đối tác xem xét việc ra quyết định và kết thúc vấn
đề
41
Ví dụ:
- Các ngài chấp nhận hay từ bỏ?
- Nếu được giảm giá 10% liệu các ngài có cho chúng tôi hưởng toàn bộ đơn hàng?
Kỹ thuật trả lời câu hỏi
Trong đàm phán trực tiếp, để trả lời tốt cần phải có sự chuẩn bị tốt. Muốn vậy
người
đàm phán cần có đủ thời gian để suy nghĩ và cân nhắc vấn đề trước khi trả lời.
Một
biện pháp để tạo thời gian cân nhắc trước khi trả lời là sử dụng phiên dịch.
Trong 1
số trường hợp đặc biệt, đối tác có thể sử dụng chiến thuật “hỏi dồn” nhằm gây
tâm
lý hoang mang dẫn đến những câu trả lời vội vã, mà trong đàm phán đôi khi việc
đưa ra 1 câu trả lời cũng có thể coi đó gần như đưa ra một cam kết. Để đối phó
với
chiến thuật này, người đàm phán cần hết sức bình tĩnh, không để bị đối tác dồn
ép
trả lời, nếu cần có thể nói thẳng với họ là ta cần thêm thời gian suy nghĩ, hoặc
xin
hoãn trả lời do thiếu tài liệu.
Ngoài ra, trong đàm phán trực tiếp cũng có thể xuất hiện một số câu hỏi lạc đề
không cần thiết trả lời hoặc không đáng trả lời, với dạng câu hỏi này, người đàm
phán có thể hoặc phớt lờ hoặc từ chối một cách lịch sự. Ngoài ra, có thể xuất
hiện
một số câu hỏi thăm dò thông tin, khi đó người đàm phán cần xác định phạm vi nội
dung vấn đề cần trả lời. Trong đàm phán cạnh tranh, điều này rất quan trọng bởi
nếu
để lộ càng nhiều thông tin về bản thân, người đàm phán càng ở thế bất lợi, có
nguy
cơ để lộ điểm yếu nên dễ để đối phương tận dụng và tấn công vào đó. Trong những
trường hợp đó, người đàm phán có thể không cần trả lời quá sát vào câu hỏi,
không
vội vã đưa ra câu trả lời một cách dễ dàng, thậm chí có thể trả lời vòng vo, lạc
đề
hoặc trả lời mập mờ
Ví dụ:
- Vấn đề mà các ngài hỏi còn phụ thuộc vào…
- Theo như tôi còn nhớ thì…
- Điều đó còn tuỳ vì…
Kỹ thuật xử lý các câu trả lời mập mờ
42
Các câu trả lời mập mờ thực ra không khác gì sự im lặng bởi nó không đáp ứng
được yêu cầu của câu hỏi, cũng như không mang giá trị truyền đạt thông tin. Mục
đích của việc đưa ra những câu trả lời mập mờ có thể là nhằm giấu giếm thông tin
hoặc người được hỏi chưa hiểu đúng vấn đề. Để xử lý các câu trả lời kiểu này,
người đàm phán có thể lựa chọn các giải pháp sau:
- Nhắc lại câu trả lời và yêu cầu phía đối tác giải thích 1 số điểm còn chưa rõ
- Nếu câu trả lời chưa thoả đáng, không trả lời đúng vào vấn đề được hỏi, người
đàm phán có thể bỏ qua nhưng tìm 1 thời điểm khác thích hợp hơn để hỏi lại
- Đặt những câu hỏi tiếp theo cho đến khi tìm được câu trả lời vào đúng vấn đề.
Kỹ thuật thuyết phục
Trong đàm phán trực tiếp, thuyết phục được xem là 1 kỹ thuật khó, để thuyết phục
được đối tác về những đề xuất được nêu ra, trước hết người đàm phán cần nêu đề
xuất một cách cụ thể, dễ hiểu, sau đó là đưa ra những lập luận có cơ sở để đối
tác
thực sự tin tưởng. Sau đây là một số kỹ thuật cơ bản để thuyết phục hiệu quả:
- Trình bày vấn đề ngắn gọn, rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, những thuật ngữ
kỹ thuật, những quy định của luật pháp cần được giải thích cặn kẽ
- Sử dụng những tài liệu tin cậy, dẫn chứng lập luận bằng sự xác nhận của một
bên
thứ ba, trình bày vấn đề một cách thuần thục, khi nói luôn giữ tư thế tự tin để
đối
tác thấy ta hoàn toàn hiểu và tin tưởng vào những gì đang trình bày.
- Khi đối thoại, nhanh chóng xác định cá nhân có quyền ra quyết định quan trọng
trong nhóm đàm phán của phía đối tác, dù người hỏi là ai, nhưng khi trả lời,
người đàm phán luôn hướng về phía người ra quyết định bởi đó mới là người cần
được thuyết phục nhiều nhất.
Kỹ thuật nhƣợng bộ và xử lý nhƣợng bộ
Kỹ thuật nhượng bộ: khi đưa ra nhượng bộ, người đàm phán cần quán triệt các
nguyên tắc sau:
Thứ nhất không nhượng bộ quá nhanh mà nhượng bộ dần dần. Việc nhanh chóng
đưa ra nhượng bộ sẽ làm cho đối tác có xu hướng tấn công để đòi ta đưa ra những
nhượng bộ tiếp theo. Ngược lại, việc nhượng bộ dần dần sẽ khiến đối tác tin rằng
đó
43
là sự nhượng bộ đã được cân nhắc kỹ lưỡng làm cho họ cảm thấy lợi ích của mình
được tôn trọng
Thứ hai lấy nhượng bộ đổi lấy nhượng bộ. Điều này có nghĩa là ta bằng lòng bỏ
lợi
ích về một mặt nào đó để đòi lấy lợi ích từ đối phương ở một mặt khác. Nếu chỉ
đưa
ra nhượng bộ mà không đòi hỏi lợi ích gì đổi lại sẽ khiến cho phía đối tác cho
rằng
ta vì sợ áp lực mà phải nhượng bộ, họ sẽ tiếp tục dồn ép đòi ta đưa ra những
nhượng
bộ tiếp theo
Kỹ thuật xử lý nhượng bộ: khi đối tác đưa ra một nhượng bộ nào đó, cần phải xem
xét 2 vấn đề sau:
Thứ nhất nhượng bộ của đối tác đưa ra có giá trị hay không? 1 thủ thuật mà người
bán thường dùng là thổi phòng mức giá chào ban đầu lên thật cao để người mua
không dám trả quá rẻ, trong quá trình đàm phán người bán chấp nhận giảm giá
xuống mức giá mới thấp hơn nhưng thực chất mức giá mới này vẫn còn cao hơn
hoặc bằng với mức giá mà họ sẵn sàng bán. Một nhượng bộ như vậy của người bán
về thực chất cũng chỉ là một mẹo nhỏ nhằm đạt được mục tiêu đàm phán của họ mà
thôi, còn giá trị thực sự của nhượng bộ thì gần như bằng không
Thứ hai đối tác đòi lại gì khi trao nhượng bộ? người đàm phán cần xem xét nhượng
bộ của đối tác trên cơ sở các mục tiêu đàm phán đã đề ra, không nên chỉ dựa trên
cơ
sở một đổi một bởi nhiều khi những nhượng bộ qua lại giữa hai bên thực chất
không
tương xứng về giá trị lợi ích cho mỗi bên trong đàm phán.
Tóm lại, hoạt động đàm phán trong thương mại quốc tế là một hoạt động tương đối
phức tạp, nhiều khó khăn hơn so với đàm phán thương mại trong nước. Hơn thế
nữa, đàm phán thương mại quốc tế bằng phương thức gặp gỡ trực tiếp, hay đàm
phán trực tiếp lại càng khó khăn và phức tạp hơn bởi những yếu tố như: đòi hỏi
về
năng lực và tố chất của người đàm phán, ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố văn hoá tới
quá trình đàm phán, chi phí đàm phán cao hơn so với các hình thức khác( đàm phán
qua điện thoại, qua thư tín), quá trình đàm phán trải qua nhiều giai đoạn công
phu
(lên kế hoạch đàm phán, hoạch định chiến lược, dự trù chiến thuật, tiến hành đàm
phán thử, xây dựng nhóm đàm phán, tiếp xúc gặp gỡ và tìm hiểu đối tác, phân tích
44
các đề xuất, trình bày lập luận ngay tại bàn đàm phán, thảo luận nhóm,…). Tuy
vậy,
mặc dù là hình thức đàm phán phức tạp, khó khăn và cũng tốn kém nhất trong các
hình thức đàm phán phổ biến trong thương mại quốc tế, nhưng đàm phán trực tiếp
lại giúp các bên giải quyết triệt để các vướng mắc, bế tắc trong thương lượng
một
cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, góp phần giúp các bên xây dựng và thắt chặt
hơn nữa mối quan hệ bạn hàng tốt đẹp và tạo điều kiện cho những thoả thuận về
những thương vụ lớn sau này giữa các bên. Do tính chất phức tạp và tầm quan
trọng
như vậy của đàm phán trực tiếp nên phần tiếp theo của khoá luận này sẽ đi sâu
phân tích kỹ hơn về những đặc trưng trong hoạt động đàm phán trực tiếp của doanh
nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản, thực trạng hoạt động đàm phán trực
tiếp giữa thương nhân hai nước những năm gần đây. Trong suốt hơn 10 năm qua,
Nhật Bản đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, hoạt động
thương mại Việt Nam-Nhật Bản những năm tới đây có xu hướng sẽ còn gia tăng
mạnh mẽ hơn nữa do những tiềm năng lớn về mua bán của hai nước vẫn còn chưa
được khai thác hết. Hơn nữa việc kinh doanh với người Nhật cũng không phải là
điều dễ dàng bởi phong cách đàm phán trực tiếp của người Nhật xưa nay vẫn được
các nhà đàm phán quốc tế đánh giá là phức tạp và khó hiểu nhất thế giới. Vì thế
chương II của khoá luận này sẽ tập trung đi sâu vào phân tích những đặc trưng
trong
hoạt động đàm phán của các thương nhân Nhật Bản nhằm tạo cơ sở cho việc so
sánh với đặc trưng đàm phán trực tiếp của thương nhân Việt Nam và đưa ra các
giải
pháp thiết thực và hữu hiệu nhất cho các thương nhân Việt Nam nhằm nâng cao
hiệu quả đàm phán trực tiếp với các bạn hàng Nhật Bản trong thời gian.
45
CHƢƠNG II.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀM PHÁN TRỰC TIẾP GIỮA DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM VÀ ĐỐI TÁC NHẬT BẢN
2.1. Đặc trƣng trong hoạt động đàm phán trực tiếp của các doanh nghiệp
Nhật Bản
2.1.1. Nguồn gốc của những đặc trƣng trong hoạt động đàm phán trực tiếp
của các doanh nghiệp Nhật bản
Có thể nói phong cách đàm phán trực tiếp của các doanh nghiệp Nhật Bản là một
trong những phong cách đàm phán phức tạp và khó hiểu nhất trên thế giới. Không
như nhiều người vẫn nghĩ, phong cách đàm phán của người Nhật thực tế rất khác so
với phong cách đàm phán của các thương nhân ở các nước láng giềng với họ trong
khu vực Châu Á như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Không giống như người
Hàn Quốc hay Trung Quốc vốn nổi tiếng là những người khá bộc trực và nóng tính,
người Nhật đàm phán với phong cách ôn hoà, lịch sự và mềm mỏng hơn rất nhiều.
Các đặc trưng trong phong cách đàm phán trực tiếp của người Nhật cũng có nguồn
gốc lịch sử và văn hoá xã hội của nó, trong đó điều kiện địa lí tự nhiên và xã
hội của
nước Nhật chính là yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn tới các đặc trưng
trong
đời sống và các mối quan hệ con người của xã hội Nhật Bản, từ đó cũng có ảnh
hưởng gián tiếp tới phong cách đàm phán kinh doanh của người Nhật. Ba yếu tố
khách quan ấy là: điều kiện địa hình và vị trí địa lý, mật độ dân số, và nền văn
minh
lúa nước lâu đời.
Nhật Bản nằm trên một quần đảo gồm 4 đảo chính: Honshu, Hokkaido, Shikoku,
Kyushu, với khoảng hơn 4000 đảo nhỏ nằm về phía Đông lục địa Châu Á. Về phía
Đông, Nhật Bản tiếp giáp với biển Thái Bình Dương, phía Tây tiếp nối với lục địa
Châu Á qua vùng biển Nhật Bản. Do sự cô lập về mặt địa lý, nên nước Nhật đã trải
qua một chặng đường dài trong lịch sử không hề bị các định chế, chế độ và văn
hoá
nước ngoài áp đặt. Do đó cho đến nay Nhật Bản vẫn giữ được những bản sắc văn
hoá đặc trưng của dân tộc mình, và cũng vì lẽ đó mà xã hội Nhật Bản cùng với
những mối quan hệ con người trong xã hội đã được xây dựng và phát triển với mức
46
độ thuần nhất rất cao. Các giá trị văn hoá, đạo đức và quy tắc ứng xử đều mang
những bản sắc rất đặc trưng của người Nhật. Ngoài ra, Nhật Bản còn là nước có
địa
hình nhiều đồi núi, nằm ở vị trí nhạy cảm về mặt địa chấn, trên một khu vực có
nhiều núi lửa hoạt động, với 67% diện tích là đồi núi và phần lớn được rừng che
phủ. Do điều kiện địa hình phức tạp nên việc đi lại giữa các vùng trở nên rất
khó
khăn, điều này càng khiến cho tính thống nhất trong cộng đồng xã hội của người
Nhật được củng cố.
Nhật Bản là nước có mật độ dân số lớn nhất thế giới tính về số người trên 1Km2.
Đặc điểm này cũng khiến cho xã hội Nhật Bản có tính gắn kết mật thiết hơn nữa.
Mỗi cá nhân đều thuộc một nhóm người hoặc một cộng đồng người nào đó có
chung lợi ích và chia sẻ chung những giá trị trong cuộc sống.Vì thế, có thể nói
xã
hội Nhật Bản là xã hội mang tính “tập thể” cao độ.
Đặc điểm quan trọng thứ ba có ảnh hưởng tới các giá trị đạơ đức và quy tắc ứng
xử
của người Nhật chính là tầm quan trọng của nền văn minh lúa nước lâu đời. Tính
đến thời điểm đầu thế kỷ XX, đã có 5/6 dân số Nhật Bản lao động trong nông
nghiệp với nghề làm ruộng.Việc trồng lúa làm ra hạt gạo đòi hỏi những nỗ lực hợp
tác rất cao của tập thể. Từ lúc gieo mạ cho tới khi thu hoạch, tất cả các thành
viên
trong tập thể (gia đình, làng xã) đều cùng tham gia góp sức. Trải qua một thời
gian
dài hàng thế kỷ, những tập thể đó đã trở thành những tế bào không thể thiếu
trong
xã hội Nhật Bản. Qua quá trình phát triển lâu dài của nền văn minh lúa nước,
tinh
thần tập thể đã trở thành một nét văn hoá đặc trưng trong xã hội Nhật Bản, và
cho
tới ngày nay, nó vẫn còn giữ nguyên giá trị bởi xã hội Nhật Bản hiện đại vẫn rất
đề
cao vai trò của tập thể, lòng trung thành của các cá nhân đối với tập thể cũng
như
tinh thần hợp tác đồng thuận trong tập thể, bởi đó là những yếu tố gắn kết con
người
với nhau, tạo nên sức mạnh cho tập thể và thúc đẩy sự phát triển chung của xã
hội.
Tóm lại, điều kiện tự nhiên, dân số và nền văn minh lúa nước là 3 nguồn gốc cơ
bản nhất tạo nên những đặc trưng trong văn hoá xã hội và con người Nhật Bản, qua
đó cũng ảnh hưởng sâu sắc tới phong cách đàm phán trực tiếp của các doanh nghiệp
Nhật Bản trong hoạt đông thương mại quốc tế. Dưới đây sẽ là những phân tích cụ
47
thể những đặc điểm cơ bản và điển hình nhất trong hoạt động đàm phán trực tiếp
của các doanh nghiệp Nhật Bản.
2.1.2. Đặc trƣng trong giai đoạn chuẩn bị đàm phán.
Hoạt động chuẩn bị cho đàm phán trực tiếp thường mất nhiều thời gian công sức
bởi người đàm phán tối thiểu phải thực hiện 4 công việc chính sau: tìm hiểu đối
tác
thu thập thông tin về thị trường và hàng hoá; xây dựng kế hoạch đàm phán; chuẩn
bị
địa điểm và thời gian đàm phán; xây dựng đoàn đàm phán. Các nhà kinh doanh
Nhật Bản nhận thức rất rõ về vai trò và tầm quan trọng của khâu chuẩn bị cho đàm
phán nên họ giành rất nhiều thời gian cho giai đoạn này, chịu khó tìm hiểu thông
tin
về đối tác, hàng hoá và tình hình thị trường, xây dựng các mục tiêu đàm phán rất
rõ
ràng, tổ chức đoàn đàm phán với nhân sự có đủ trình độ, năng lực, kỹ năng và
phẩm
chất phù hợp để tham gia đàm phán trực tiếp với đối tác nước ngoài.
Về việc thu thập thông tin, người Nhật đặc biệt chú trọng tới các thông tin liên
quan
đến bạn hàng tiềm năng, nhất là khi đó là 1 bạn hàng mới chưa từng có quan hệ
mua
bán trước đó với họ. Vì thế, khi lần đầu tiên làm việc với 1 đối tác nước ngoài,
các
thương nhân Nhật Bản thường thông qua mạng lưới của mình tìm hiểu rất kỹ về đối
tác. Người Nhật có 1 triết lý trong đàm phán là “trước hết phải hiểu rõ đối tác
là ai
rồi mới ngồi lại đàm phán” chứ không bao giờ làm ngược lại “ngồi vào đàm phán
trước rồi mới làm rõ đối tác là ai”.Trước hết, cơ cấu tổ chức của công ty bạn
hàng là
mối quan tâm đầu tiên của người Nhật. Cho dù là công ty sản xuất hay thương mại,
các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn thường yêu cầu đối tác đưa đến tận cơ sở để có
điều
kiện chứng kiến tận mắt cơ cấu tổ chức, năng lực sản xuất kinh doanh của bạn
hàng.
Tiếp đến là các thông tin chung về lịch sử phát triển của công ty đó, lĩnh vực
kinh
doanh, cơ sở vật chất, chi tiết về sản phẩm dịch vụ của công ty, tình hình hoạt
động
của công ty trên thị trường trong thời gian gần đây(thị phần, tăng trưởng doanh
thu,
các đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, các bạn hàng trước đây,…). Phía Nhật Bản
rất
quan tâm đến những thông tin về nhiều mặt như trên vì chúng giúp họ đánh giá
chính xác năng lực kinh doanh, uy tín của bạn hàng qua đó xem xét đến tiềm năng
phát triển quan hệ mua bán lâu dài với đối tác đó. Với tư cách là nhà nhập khẩu,
các